Và tôi nhìn gã, cố gắng mỉm cười, lắc đầu. Tôi không hợp tác với những kẻ chỉ nghĩ đến trục lợi bằng mọi giá, tôi cũng không đem bán những bí mật của chốn núi rừng quê hương cho kẻ ngoại bang. Trong giây phút đó tôi bỗng cảm thấy lặn lội trong rừng sâu này là niềm kiêu hãnh, dù đó là niềm kiêu hãnh lạc loài. Ít nhất tôi cũng tìm biết kho tàng thiên nhiên của đất nước mình có được những gì, và tôi đang bảo vệ nó chống lại mọi sự khai thác đến từ bên ngoài.
Cả ba người kia trao đổi với nhau lầm thầm rồi họ mang đồ đến nằm bên lửa, chuẩn bị giấc ngủ. Phần tôi, những nỗi lo lắng khiến tôi không sao yên lòng. Bọn chúng có thể giết tôi, đêm nay, để mà đoạt lấy Thanh Lâm. Tôi bèn vào tận trong cùng, cạnh ben đống lửa phía trong để nằm. Muốn vào đến được chỗ tôi họ phải qua chỗ Thanh lâm và tôi tin rằng bạn tôi có đủ tỉnh táo để biết âm mưu của họ. Tỉnh táo, sẵn sàng đối phó với mọi bất trắc, đó là bản chất của nàng và tôi tin tưởng ở nàng như tin tưởng một vị thần hộ mạng.
Nhưng đêm đó tôi đã ngủ yên lành, dù thỉnh thoảng phải thức giấc đưa mắt dò xét chung quanh. Ba người kia ngủ say vùi, ngáy giòn như tiếng cưa gỗ. Thanh Lâm nằm yên nhưng tôi biết nàng không ngủ. Chỉ cần một tiếng động nhỏ khả nghi cũng đủ làm nàng choàng dậy, nhanh hơn con sóc.
Qua sáng hôm sau, khi tôi mở mắt Thanh Lâm đã ngồi yên trên nệm lá của nàng. Ba người kia cũng dậy rồi và đang đun nước. Người Việt trong bọn bảo tôi:
- Hôm nay chúng tôi lên đường. Xin cám ơn ông đã cho chúng tôi nghỉ lại một đêm. Nào mời ông dùng với anh em tôi một tách cà phê và xơi với chúng tôi một miếng bánh.
Thôi, họ ra đi là tôi yên lòng. Sống với đồng bào đồng loại như bọn người này sao tôi cảm thấy khổ sở hơn sống với những thú dữ giữa chốn núi rừng. Đã bao năm nay, lặn lội xông pha tôi có bao giờ thắc thỏm một cach khó chịu như thế này đâu? Vì thế tôi cùng ngồi lại ăn uống với họ, mong phút chia tay cho được sớm sủa nhẹ nhàng. Gã ngoại quốc rót một ly cà phê mời tôi, rồi hỏi:
- Người bạn rừng ông có uống thứ này được chăng?
- Tôi chưa bao giờ mời cô ta uống như thế. Ở đây chỉ có nước lá rừng thôi.
- Nào mời thử xem.
Nói xong, gã cầm một lon thiếc lớn đổ đầy cà phê đem đến chỗ Thanh Lâm ngồi. Nhưng gã vừa đưa tới trước mặt nàng, Thanh Lâm đã đổi sắc mặt thành ra dữ tợn khác thường như đánh hơi được ý gì ám hại. Nàng đứng chồm lên, hai tay thu lại như chực cào cấu, tư thế của kẻ sẵn sằng tấn công. Gã ngoại quốc phải lùi lại:
- Đúng là cô ta không thích loại nước uống này.
Rồi gã trở về chỗ ngồi, lấy một khúc thịt đưa sang cho tôi:
- Ông mời hộ tôi coi nào.
Tôi đem thịt đến cho nàng, và bảo:
- Ăn đi.
Thanh Lâm nhìn tôi rồi nàng yên lặng cắn vào khúc thịt một cách chậm rãi như nàng đã phải vì tôi mà ăn vật thực của những kẻ lạ. Khi nàng ăn xong, gã ngoại quốc vội tìm ống lồ ô nước suối đem đến cho tôi:
- Mời cô ta uống đi nào. Tôi phải nhìn thay mọi người ăn uống vui vẻ rồi mới yên tâm ra đi.
Gã cười một cách thân thiện.
Thanh Lâm cầm ống lồ ô với một dáng điệu nghi hoặc. Nàng đưa lên mũi hít ngửi với vẻ khó chịu. Tôi chỉ nhận ra điều ấy rõ rệt, mãi về sau này, nhưng lúc đó tôi nghĩ nàng thành kiến với bọn người kia nên đã tỏ vẻ dè dặt. Tôi giục giã nàng:
- Uống đi!
Nàng lại ngước lên nhìn tôi, có vẻ khó hiểu, rồi khẽ lắc đầu. Tôi tiếp:
- Uống đi, Thanh Lâm. Hãy nghe lời tôi.
Tôi lộ ra vẻ sốt ruột, vì tôi cũng muốn cái trò ăn uống tiễn đưa gượng ép kết thúc nhanh chóng để khỏi còn nhìn thấy lũ người này. Tôi lại giục nàng:
- Cứ uống đi nào, Thanh Lâm.
Và nàng ngước lên nhìn tôi, cầm ống nước uống. Tôi nhớ cái nhìn của nàng, cái nhìn của người rừng rú, nhưng mà dịu dàng, chịu đựng làm sao. Cái nhìn như muốn nhắn bảo: “Tôi đã vì anh mà uống thế này. Rõ ràng là tôi đã không muốn uống, tôi không thể uống”.
Lúc nàng uống xong, trao ống lồ ô lại tôi thì tôi thấy cảm thấy chóng mặt. Tay tôi cầm lấy chiếc ống, mà tưởng như làm việc gì ở trong qua khứ xa vời. Mắt tôi mờ đi, ríu lại, và tôi cảm thấy buồn ngủ như muốn rũ liệt. Tôi đi loạng choạng lại chỗ đống lá trải nằm nhưng bước không còn nổi nữa. Tôi khụy hẳn xuống, tai nghe mơ hồ tiếng cười tiếng nói của bọn người kia lảng vảng đâu đây. Tôi cố rướn mắt, mở nhìn, qua cặp mí đè nặng xuống như có bàn tay vô hình chặn lấy, và tôi thoáng thấy Thanh Lâm đứng chồm lên sát cạnh tôi, tay cầm một khúc gỗ lớn hướng về trước mặt. Tôi nhắm mắt lại, hiểu rằng nàng đang chiến đấu để bảo vệ tôi. Nhưng nàng liệu có thoát khỏi chất thuốc mê này ngấm vào da thịt hay không? Tôi chìm hẳn trong mê mệt. Một lúc nào đó, mở mắt một cách khó nhọc, tôi thấy Thanh Lâm đang vung gậy lên kháng cự mot cách quyết liệt với đám người kia. Tôi nghe vẳng trong giấc ngủ những tiếng súng nổ và tôi thiếp đi không biết gì nữa.
Khi tôi tỉnh dậy, chung quanh tối đen dày đặc. Hơi gió từ ngoài tủa vào bên trong buốt lạnh. Tôi ngồi vội lên, đầu còn choáng váng, nặng nề. Tôi đã ngủ suốt ngày nay, hay ngủ liền mấy hôm rồi?
Có gì xảy ra trong thời khoảng ấy? Thanh Lâm đã còn hay mất? Tôi nhớ quang cảnh nàng cầm khúc củi trên tay chiến đấu một cách gan dạ và tôi vội tìm bật lửa nhen gấp một đóng lửa hồng. Ánh sáng soi tỏ dần dần hang đá và một cảnh tượng bừa bãi, ngổn ngang bày ra chung quanh. Lá khô rơi đầy, củi gỗ nghiêng ngửa, các đồ vật dụng rải rác, lổng chổng. Tôi tìm khẩu súng nhưng bị lấy mất. Bọn khốn nạn đó đã tước khí giới của tôi mà không cần giết chết tôi, đây cũng là cách giết hại thâm độc hơn nhiều. Biết đâu chúng cũng đã tính sát hại tôi rồi nhưng vì một cản trở nào, có thể là của Thanh Lâm, nên không làm gì tôi được.
Nhưng sự tàn ác của chúng không vượt khỏi sự khôn ngoan của tôi. Thật không có kẻ săn bắn nào lội giữa chốn rừng già mênh mông mà chỉ mang ở trên mình mỗi một khẩu súng. Tôi đã sống giữa bao kẻ phản trác của xã hội này và đã sống giữa một vùng thiên nhiên đầy những cạm bẫy, nên tôi luôn luôn biết cách phòng xa. Một số đạn dược và một khẩu súng phòng bị cùng với thuốc men, lương khô, vẫn được tôi đem cất giấu trong một hang hốc kín đáo gần nơi mình ở. Ngay cả ông Chúp là người thân tín duy nhất của tôi, là người mà tôi hết lòng tin cậy vì cái bản chất trung thành và tính tình đôn hậu, tôi vẫn không hề cho biết chỗ chôn cất ấy. Cuộc sống dạy cho tôi hiểu là nên tin cậy con người, nhưng vẫn phải biết đề phòng con người. Đối với những kẻ thật là gần gũi, nhiều khi chúng ta khó nhìn thấy những biến đổi bất ngờ có thể xảy ra vào lúc mà các điều kiện bình thường đã bị đảo lộn. Hoàn cảnh dễ làm thay đổi con người, khi bản chất của con người chưa được củng cố bằng một ý thức sâu xa đối với lẽ phải và chưa có một nghị lực bền vững để mà hộ trì cho ý thức đó.
Lửa càng sáng tỏ thì nỗi cô độc của tôi lại càng tăng lên. Đã quen sống với Thanh Lâm và đã tìm thấy nơi người bạn rừng một sự cảm thông âm thầm, một sự nương tựa vững chãi, bây giờ tôi bỗng bơ vơ trong nỗi xót xa. Chắc là Thanh Lâm đã bị bắt đi, nàng có bị họ đánh đập, bị gây thương tích nào không? Thật là tội nghiệp cho nàng khi phải tiếp xúc với một bọn người tự nhận thong thái và tự hào là văn minh theo kiểu loại đó.
Tôi không thể làm gì được trong cõi đêm dày đang bủa vây quanh. Đêm tối mênh mông, đậm đặc đang ôm ghì lấy núi rừng và đang siết chặt lấy tôi. Tôi ngả người trên nệm la, không thiết đến sự ăn uống, nghĩ ngợi về một ngày mai hãy còn mịt mờ.
Tôi bỗng thấy rõ nanh vuốt cuộc đời đã không bằng lòng dừng lại ở nơi ngưỡng cửa rừng sâu. Tôi đã rời bỏ cái xã hội ấy, trốn vào nơi thẳm xa này, chỉ sống với mỗi một người bạn già chất phác, làm bạn với mỗi một con người rừng, thế mà xã hội đầy lòng tham lam và ác tính ấy đâu có chịu để tôi yên? Trốn chạy vẫn không thoát được. Bàn tay lông lá của nó quá dài và nanh vuốt nó đã bao trùm khắp. Chỉ còn có mỗi một cách là phải đương đầu với nó mà thôi. Người ta chỉ chiến thắng đựơc bằng cách đương đầu, không thể nào thắng lợi được bằng cách trốn chạy.
Tôi đã thao thức suốt đêm, trằn trọc, căm hận trên cái nệm lá quá tả tơi rồi. Lửa đỏ không sưởi ấm được hồn tôi, bởi ở trong đó là cả một khoảng mênh mông lạnh giá kết thành khối lớn như một băng sơn rọi sáng bao nhiêu hình ảnh ma quái của cuộc đời này. Tôi đã ngồi lên khi tiếng chim rừng đầu tiên báo hiệu canh tàn. Lần mò lấy nước ngoài sông trong bóng cây rừng loạng choạng, tôi nấu một nồi cơm sáng. Bữa cơm đã được thanh toán trong nỗi buồn ba nghẹn ngào.
Khi trời rựng sáng lờ mờ ở chân mây xa, tôi đảo nhìn một lần nữa chỗ hang hốc này, đứng một giây lâu trước chỗ Thanh Lâm nằm ngồi hằng bữa, rồi tôi ra chỗ cất giấu, lấy súng và đạn cùng ít lương khô băng rừng mà đi.
Tôi đi về đâu, tôi cũng không rõ cụ thể hành trình sắp tới của mình. Tôi phải ra khỏi nơi hang hốc này, ra khỏi rừng này mới quyết định được hướng mình sẽ tiến. Giả thử có ông già Chúp bên mình thì tôi đỡ khổ bao nhiêu. Tôi sẽ không bị lũ người kia đánh thuốc mê dễ dàng như thế, và chắc chắn là Thanh Lâm cũng không bị họ bắt đi. Tôi biết ông Chúp không bao giờ chịu uống của người lạ bất cứ một ngụm nước nào, hay ăn của người lạ mặt bất cứ một miếng cơm nào. Con người già cả lặn lội gần suốt cuộc đời giữa núi rừng này có một bản tính đa nghi quái gở, hầu như ông nhìn ở đâu cũng thấy bất trắc, cạm bẫy, và ông giữ mình theo một ky luật vững chắc lạ lùng. Điều đáng quý ở nơi ông là không vì thế mà sự hiền lành, chất phác lại bị giảm mất, trái lại chính sự đề phòng thường trực chừng như lại làm cho ông càng biết điều hơn.
Tôi đợi mặt trời soi tỏ dấu ngựa của bọn người kia rồi men theo dấu vết đó lặn lội xuống một thung lũng đổ ra một ngõ sông hẹp. Bọn người kia đã qua sông. Căn cứ vào điều quan sát tôi biết họ đã đi trước tôi độ một ngày, và hẳn họ đã vượt qua nơi đây vào chiều hôm qua. Tôi vội cởi đồ, lội qua dòng sông lạnh buốt, rồi vừa lên bờ tôi theo dấu họ đi thật gấp rút. Tôi bắt gặp dấu lửa bếp, chỗ họ nghỉ chân, cách bờ không xa. Đã ba giờ chiều. Như vậy, sáng nay họ đã rời khỏi nơi đây, và tôi tự hỏi tại sao đã có sức ngựa mà họ tiến bước quá chậm như thế? Chắc họ không thạo đường đi, hay vì Thanh Lâm là một sức cản nặng nề với họ? Tôi cố đi thêm, hy vọng một lúc nao đó sẽ đuổi theo kịp, biết con đường về phố chợ gần nhất với núi rừng này cũng phải ít nhất mười ngày.
Tôi đi cho đến tối mịt mới chịu dừng lại. Không còn thì giờ để tìm củi khô và một hang hốc trú ẩn, tôi leo lên mot cây cao mắc võng nằm đỡ qua một đêm dài. Về khuya, trời thật giá lạnh và sương rơi nhiều. Tôi nằm lơ mơ nghe loài thú dữ rảo quanh, tiếng suối rì rầm bất tận và nghe đất trời như đang rên rỉ trong nỗi đau thương khôn cùng.
Tôi lại dậy sớm, lo phần cơm nước đủ ăn cả ngày hôm ấy để khỏi mất công dừng lại dọc đường. Nhờ họ đi toàn bằng ngựa với những vật dụng cồng kềnh nên dấu lưu lại trên đường thật rõ và tôi chẳng mất công nhiều để mà tìm theo.
Đến trưa hôm ấy, tôi gặp dấu họ nghỉ chân đêm qua. Như thế, họ mới rời khỏi nơi đây vào lúc sáng nay, và họ chỉ vượt hơn tôi độ nửa buổi đường. Chậm lắm là qua ngày mai tôi sẽ đuổi theo kịp họ. Cố gắng đi mau tôi có thể thấy được họ vào khoảng trưa mai, ở một chặng rừng nào đó. Nhưng tôi hiểu rằng chỉ mỗi một mình tôi sẽ gặp nhiều khó khăn nếu phải đụng độ vào lúc ban ngày. Tốt hơn, tôi sẽ tìm họ vào lúc đêm tối.
Tôi không đi quá vội vàng như ngày hôm qua và tối hôm ấy tôi dừng lại bên suối nước hơi sớm, đốt một đống lửa sưởi ấm và nướng mấy con thỏ rừng săn được ban chiều. Ngày mai, tôi tránh nổ súng vì ngại biết đâu bọn ho vẫn còn chểnh mảng dọc đường, sẽ nghe thấy được và kịp đề phòng. Tôi phải ăn no, ngủ kỹ đêm nay, chuẩn bị lương thực cho cả ngày mai mà tôi đoán phải dùng sức khá nhiều.
Sáng dậy, tôi lo cơm nước xong xuôi, gói ghém đo đạc gọn gàng, soát lại súng đạn và tôi lên đường. Bao giờ tôi cũng thu dọn dấu vết những nơi ngừng nghỉ của tôi rất là chu đáo, trước khi ra đi. Tôi quen với sự phòng ngừa như thế và khó ai biết rõ được chạng đường tôi đã đi qua.
Tôi đinh ninh khoảng gần trưa sẽ tìm thấy được dấu họ nghỉ chân đêm rồi. Nhưng mới đi chừng tiếng rưỡi đồng hồ tôi đã nhìn thấy dấu vết nơi họ tạm trú. Như thế, họ chỉ còn cách xa tôi trên dưới một giờ đồng hồ đường rừng, và nếu bọn họ dậy trễ, đi chậm, thì ở trước tôi chẳng xa. Bây giờ tôi phải đi thật chậm lại để chờ tối đến.
Đến trưa hôm ấy, tôi đang ngồi trên một tảng đá cao che khuất dưới một tàng lá kín đáo nhìn ngắm quanh mình bỗng thấy một làn khói dày bốc lên ở phía dưới núi. Bọn họ đang ở trước mặt tôi đây. Ý nghĩ sẽ gặp lại họ và được thấy lại Thanh Lâm càng làm cho tôi bồn chồn.
Cuối cùng, không dằn được lòng mình nưa, tôi thu xếp vội đồ đạc cất giấu vào một hốc đá rồi xách súng men tìm về hướng khói. Bọn chúng hẳn đang nghỉ trưa và phải một đôi giờ nữa mới lại lên đường. Tôi phải gắng đi thật nhanh để bắt gặp chúng ở trong giac ngủ, hay trong lúc chúng chưa chuẩn bị gì.
Tôi bò lê sát mặt đất và luồn trong các bụi rậm khi biết mình đã tới gần. Tôi cũng lựa chiều hướng gió thổi tới để nương mình theo. Đó là việc làm trái ngược với sự săn rình, bởi khi săn bắn bao giờ người ta cũng phải đi ngược chiều gió để con mồi khỏi đánh hơi được mình. Nhưng tôi có dụng ý khác. Tôi hy vọng rằng Thanh Lâm có đấy, và với khứu giác tinh tế của nàng thế nào nàng cũng bắt đươc trong gió sự tôi hiện diện quanh đây. Chúng tôi có thể báo tin cho nhau qua hơi gió thổi man mác giữa núi rừng này, chúng tôi có thể dễ dàng cảm nhận được nhau mà không cần phải nhìn thấy, mà không cần nghe tiếng nói của nhau. Tự nhiên, trong phút giây đó tôi thấy Thanh Lâm gần gũi với tôi lạ lùng, gần gũi như nàng là một bạn đường đã chia xẻ hết những nỗi khổ nhọc mà chúng tôi phải gánh chịu.
Đi theo chiều gió có điểm bất lợi là những tiếng động vô ý gây ra dễ khiến cho bọn người kia chú ý. Nhưng tôi biết chúng không phải là những thợ săn lành nghề, và cái thái độ chủ quan của những bọn người tự nhận văn minh sẽ không giúp chúng nghe thay gì khác, ngoài các tiếng ồn bất tận của núi rừng này.
Khi còn cách chỗ bọn họ độ vài chục thước, hé mắt nhìn qua kẽ lá xanh dày, tôi thấy gã ngoại quốc lớn tuổi nhất, con người đeo một bộ râu quai nón và được kể như linh hồn bọn đó đang ngồi bên bếp lửa đỏ trên đặt chiếc nồi nhôm lớn. Gã đang nấu nước hay thức ăn gì tẩm bổ sau giấc ngủ trưa. Bọn này mải lo ăn uống, nên sự chuyển dịch chậm chạp và tôi đã đuổi theo kịp ngoài cái thời gian dự liệu.
Gã thông dịch và người trẻ tuổi nằm ngủ trên hai chiếc võng treo giữa các thân cây lớn. Ở một gốc cây gần bên Thanh Lâm đang ngồi dựa người, hai tay cũng như hai chân bị trói chặt lại. Tôi thấy đôi mắt của nàng mở rộng hướng về phía tôi, vẻ mặt tỉnh táo thoáng hiện một ý vui mừng. Tôi biết nàng đã nhìn thấy tôi qua hơi gió và tôi chỉ ngại nàng để biểu lộ sự khám phá ấy cho bọn người kia biết được thì thật nguy khốn. Nhưng chắc Thanh Lâm có đủ khôn ngoan để không làm hỏng kế hoạch tôi đến giải cứu cho nàng.
Thoáng trong lúc ấy, tôi có một sự tính toán thật mau. Nếu tôi nổ súng bắn ngã tên ngoại quốc kia đang ngồi thoải mái ở bên bếp lửa thì tôi chỉ còn có hai kẻ thù để phải đối phó. Hai kẻ thù ấy choàng dậy trong lúc tay không khí giới và không đoán biết được tôi hiện ở nơi nào sẽ làm những cái bia tốt cho những viên đạn của tôi. Nhưng giet chết cả ba người sao? Dù chúng đối xử với tôi một cách gian manh, nhưng sát hại chúng, lòng tôi không nỡ. Chúng đã cướp đoạt Thanh Lâm, nhưng đã để yên mạng sống cho tôi. Có phải vì lòng nhân đạo hay vì lý do nào khac, chúng đã để tôi nằm lại trong hang hốc đó sau khi tôi đã ngủ vùi vì chất thuốc mê. Dù sao chúng đã xử sự theo cái lề lối văn minh mà chúng tiếp nhận. Còn tôi, giết chúng vì tội cướp đoạt một người bạn rừng mà tôi có thể giành lại, tôi không nỡ lòng.
Một lát, bỗng tên ngoại quốc mang râu quai nón quay về phía hai người kia, gọi lớn:
Hê-lô!
Bọn kia choàng dậy. Tên thông dịch nói:
Chà, ngủ ngon quá đi.
Gã tuổi trẻ kia ngáp dài, lầm bầm:
Mới có hai giờ thôi mà.
Hai giờ là quá trễ rôi. Tôi đã khuyên bảo các người là ở trong rừng chớ ngủ giấc trưa.
Nhưng phải nhận rằng giấc trưa ở rừng thật là thú vị.
Đừng lầm, chẳng thú vị đâu. Sự mê mệt ấy không thể quan niệm như một giấc ngủ say sưa ở chốn đồng bằng. Chúng ta ăn món cháo này rồi lên đường thôi.
Gã quay lại phía Thanh Lâm:
Cái con vật này có chịu ngủ đâu. Tôi đã cho nó một mũi thuốc mê khá mạnh, thế mà nó chỉ chợp mắt giây lát rồi choàng dậy rồi.
Gã trẻ tuổi bảo:
Chắc là bản chất nó mạnh.
- Có thể như thế, mà có thể là loại thuốc này không hợp với tạng chất nó. Nhớ hôm nào ta cho cái thằng khùng kia uống chỉ nửa liều trong một ca nhỏ cà phê mà nó đã lăn ra ngủ như chết ngay liền sau đó. Con quái này uống gấp đôi trong ống nước kia mà có hề hấn gì đâu.
Tôi nghe bọn chúng gọi tôi là một “thằng khùng” và Thanh Lâm là “con quái” mà muốn bật cười. Dưới con mắt chúng, chỉ những kẻ sống như chúng quan niệm mới là sáng suốt và khôn ngoan thôi. Nhưng tôi đã hiểu vì sao Thanh Lâm chịu được các liều thuốc mê mà vẫn tỉnh táo như thường. Thời gian chữa trị cho nàng tôi dùng loại đó quá nhiều, cơ thể của nàng đã thành quen thuộc đến vô hiệu hóa các dược chất ấy. Đồng thời cũng nhờ sức mạnh của nàng, và sức mạnh ấy hẳn đã giúp nàng chống chọi lại được bọn này và làm trì hoãn hành trình của chúng không ít.
Khi bọn chúng quây lại ăn, tên râu quai nón đổ một phần cháo vào chiếc “cà mên” mang lại chỗ Thanh Lâm ngồi. Gã đưa tay làm dấu hiệu như mời mọc rồi cầm cái thìa múc cháo đưa vào miệng nàng. Thanh Lâm mím chặt lấy miệng, trợn mắt nhìn gã một cách dữ tợn. Gã làm như không quan tâm đến thái độ ấy, cứ nài ép nàng và ấn muỗng cháo vào miệng. Nhưng một cái quay ngoắt đầu rất mạnh, Thanh Lâm đã hat muỗng cháo đổ hết ra ngoài, và đưa hai tay trói chặt đánh vào mặt gã. Gã nhảy lùi lại, chửi thề, đem cháo lại bếp. Tên người Việt nói:
- Cứ để cho nó đói thêm, rồi sẽ đến lúc nó xin chúng ta mà ăn.
Gã trẻ tuổi noi:
- Tôi sợ loài thú ở rừng thường nuôi quá lâu thù oán trong lòng. Chúng ta còn phải khó khăn rất nhiều mới mong thuần hóa nó được.
Gã râu quai nón lầm bầm:
- Sẽ đến một lúc nó không cử động được nữa. Đã ba ngày rồi nó có ăn chút gì đâu. Nó cũng không uống, chỉ trừ một lần qua sông nó nhoài người xuống và làm một bụng khá đầy. Dù sao, tôi nghĩ nó có thể cầm cự được một tuần là ít. Ở rừng đâu phải lúc nào cũng sẵn thức ăn.
Bọn họ ngồi xúm xít ăn cháo không nói thêm lời nào nữa. Lúc này, thật là thuận tiện để tiêu diệt chúng. Nhưng tôi vẫn thấy không thể đành lòng làm vậy.
(Còn tiếp)
Nguồn: Tuyển tập Vũ Hạnh. NXB Văn học sắp xuất bản.
|