Nông nỗi ấy càng khiến cho bà đồ ngao ngán và tuyệt vọng không biết chừng nào!
Con nhà nho thanh bạch, từ năm mười chín tuổi lấy chồng cũng học trò nghèo, bà đồ Khoan suốt đời tỏ ra biết quên mình và kiên nhẫn. Bà chưa từng được sung sướng cũng như từng dám ngần ngại trước cuộc đời nặng nhọc. Bao giờ bà cũng đi nằm sau hết để dậy trước hết cả nhà. Trời đang mưa phùn gió bấc, bà cũng lội xuống ao vớt từng nắm bèo mang về cho lợn. Vừa bảnh mắt, bà đã quang gánh vắt vai, le te trên đường thiên lý. Cổng làng đóng một lúc lâu, nhà nào nhà nấy đã bắt đầu cơm nước, bà đồ mới ở tỉnh về, một tay thỉnh thoảng nhắc vạt áo lau mồ hôi trán. Suốt đời bà chỉ có một mong ước: tên chồng chói lọi bảng vàng; một thú vui: chồng siêng năng đèn sách. Ngoài mong ước và thú vui ấy, bà không so sánh, không thèm thuồng gì cả. Bà chỉ biết cắm đầu, cắm cổ làm và làm, đến nỗi tuổi xuân qua đi lúc nào cũng không hay.
Nhờ sự tận tâm của vợ, ông đồ Khoan được thảnh thơi, chăm về học vấn nên chẳng bao lâu nổi tiếng hay chữ nhất vùng. Tiếng thơm ấy mang lại cho bà đồ sự mừng vui khôn tả, Bà chỉ còn lo sẵn tiền lưng gạo bị, chờ lúc tiễn chồng đi thi nữa là vẹn tròn bổn phận. Thì, đùng một cái tin bãi khoa cử bỗng như tiếng sét giáng xuống đầu bà đồ Khoan. Bà không gượng dậy được nữa. Sự thất vọng, sự thiếu thốn cực khổ và mưa nắng yểm nhiễm lâu ngày làm cho bà đồ ốm nặng. Liên miên trong bốn tháng trời, bà nằm bẹp dí một chỗ; mặt và chân tay phù to lên; màu da xanh bủng; tinh thần phảng phất như ngọn đèn dầu cạn... Thế rồi, một đêm mưa gió, bà lặng lẽ qua đời; linh hồn chừng sang thế giới bên kia để thực hiện cái mộng võng điều, yếm thắm...
Ông đồ tê dại cả tấm lòng. Ông không giữ nổi sự điềm tĩnh của nhà nho, hỉ nộ ai lạc bất hình ư ngoại nữa. Ông khóc người bạn tao khang quý báu, khóc ngày, khóc đêm, khóc ngồi, khóc đứng, khóc như một phu nhân nông nổi và, sau cùng, thành đau mắt không khéo đến mù lòa...
- Thôi, con ra bảo chúng nó học viết đi.
Dung im lặng theo lời cha. Và, một lát sau, bọn quỷ sứ đã anh nào ngồi chỗ anh nấy, làm việc rất ngoan ngoãn.
Dung đi lại quanh trong lớp, khuyên người này một câu, bảo người kia một chữ, nghiễm nhiên như một cô giáo quen nghề. Sự chuyên chú ấy cốt để nén những sôi nổi trong tim. Những cái chỗ ngồi hiện bỏ không trên ghế ngựa, cùng những điếu, tráp, đĩa mực, nghiên son trơ trỏng vẫn khiến Dung bùi ngùi cảm thấy một nỗi buồn xa vắng.
... Một cậu học trò nhỏ bỗng gọi Dung:
- Chị kìa, nhà có khách!
Dung ngẩng đầu, hai má bừng đỏ...
Khách - một chàng trai trẻ nhã nhặn, khăn lượt, áo sa, giày bóng - ung dung bước lên hè.
Dung luống cuống:
- Chào bác Lý.
Bọn trẻ cũng nhao nhao:
- Lạy ông ạ!...
- Không dám! Chào cô, chào các em. Thầy đâu mà cô lại phải dạy các em học?
- Thưa bác, thầy tôi đau mắt nặng...
- Chết nỗi! Thế ra thầy vẫn chưa bớt à?
- Cảm ơn bác hỏi thăm...
Khách sa sầm vẻ mặt.
- Cô cứ khách tính quá! Thầy đau, tôi là học trò, nghĩa phải chạy đi chạy lại thăm hỏi, chứ nào có gì mà cô nói ân với huệ...
Dung cúi mặt, giấu một nụ cười.
Chàng trai trẻ tiếp theo, chua chát:
- Hay cô cho rằng chỉ anh Kính mới đáng là học trò của thầy?
- Chết nỗi! Bác nghĩ thế oan cho em quá... Vả lại...
- À! Nếu oan cô thì thực... may cho tôi!
Dung đánh trống lảng:
- Mời bác ngồi chơi để em pha nước uống...
- Thôi, cô ạ! Tôi vào hỏi thầy có chút việc dân xong lại phải lên tỉnh ngay.
Làm như không nghe tiếng, Dung cứ xách ấm xuống bếp...
Khi cô trở lên định sửa soạn ấm chén thì Nhuận - tên thầy lý trẻ tuổi - cũng vừa ở trong buồng ông đồ bước ra.
- Cô nghỉ nhé?
- Ấy kìa, bác ở chơi xơi nước đã...
- Nước!... Ruột gan tôi đầy cả rồi, cô ạ!...
Dung bật cười:
- Bác lý độ này rõ đến hay thưa rây!
- Cô bảo thế nào là thưa rây?
- Thưa rây là thưa rây chứ còn là thế nào nữa!
- Phải, cô giễu tôi, tôi biết! Giá người khác hỏi tôi, chắc cô đã trả lời một cách...
- Một cách làm sao nhỉ!
Nhuận không đáp, ngoay ngoảy xuống sân.
Vẻ cười cợt trên mặt Dung biến hẳn. Cô tần ngần lắng nghe tiếng giày Nhuận mỗi lúc một xa... Cô hiểu lắm, hiểu rõ lòng Nhuận tha thiết yêu mình. Cô còn biết nội làng Ỷ La chẳng ai bằng Nhuận. Khốn nhưng, đã yêu Kính, Dung còn yêu Nhuận sao được! Vả lại, Dung cảm thấy mình cần thiết cho Kính hơn là cho Nhuận. Thiếu Dung, Nhuận chẳng thiệt thòi là bao. Trái lại, Kính mà thiếu Dung thì Kính sẽ thiếu tất cả.
... Bọn học trò nhỏ viết xong; chúng thu vở chờ Dung chấm. Cô ngồi ghé vào chỗ ông đồ; tay vừa nhấc quản bút son thì mắt cô bỗng nhìn thấy mấy dòng chữ Nôm viết vội trên bìa quyển lịch cũ:
Chê đây lấy đấy sao đành?
Em chê cam sành, vớ phải quýt hôi!
Quýt hôi bán một đồng mười;
Cam ba đồng một, quýt ngồi trơ trơ!...
Sờ nét mực vẫn còn ướt, Dung mỉm cười lẩm bẩm:
Những nơi mà chát như sung
Mà cay như ớt, em tung mình vào.
Những nơi chiếu miến, võng đào,
Điếu ngà bít bạc, em nào có say!
Những nơi chiếu cói, võng đay,
Điếu sành, se sậy, em say lừ đừ!...
CHƯƠNG III
Kính cũng dậy từ tờ mờ đất như Dung. Suốt đêm dài xoay xỏa với muôn nghìn ý nghĩ, Kính thấy đã ê ẩm cả người.
Kính lần xuống gian bếp trống thiên trống địa, vừa đun nước uống, vừa để sưởi cho đỡ lạnh. Uể oải vun những cành lau khô, Kính mơ màng nhìn lửa cháy và lắng nghe tiếng hát âm ỉ của chiếc ấm sành. Ánh đỏ chờn vờn chiếu lên khuôn mặt Kính âm thầm tư lự. Kính nghĩ đã rất chín song vẫn chưa hẳn quyết bề nào. Những băn khoăn đêm trước, bởi vậy, cứ giày vò lòng chàng như con sâu ngầm khoét trái cây tươi. Lấy Dung ư? Kính chỉ e mình nghèo tong thì Dung suốt đời sẽ khổ sở. Lánh xa Dung? Kính chắc sẽ đau đớn, sẽ tiếc hận vô cùng, khi chính mắt chàng phải thấy Dung lọt vào tay kẻ khác, như Nhuận chẳng hạn. Thực tình, Kính không hiểu tại sao mình có thể đau đớn, tiếc hận, nếu Dung sẽ lấy Nhuận, nghĩa là Dung sẽ được sung sướng, vẻ vang. Yêu Dung, Kính chẳng vẫn ước mong, cầu khẩn cho Dung một cảnh đời may mắn hơn cảnh đời của bà mẹ Dung đó ư? Kính không ngờ lòng mình luẩn quẩn đến thế, Kính vẫn tự cười mình là nhỏ nhen. Vậy mà hồ nghĩ đến Dung, Kính tự nhiên cứ hằn học với Nhuận, đem Nhuận ra so sánh với mình để tức bực thêm. Là vì, sự so sánh tỉ mỉ ấy chẳng bao giờ lợi cho Kính. Nếu Kính giỏi trai nhất làng, có giọng hát hay khiến nhiều trái tim thiếu nữ rung động, và dễ dãi, và ngay thẳng, và chịu thương chịu khó lại dòng dõi thi thư thì Nhuận cũng chẳng hèn gì. Nhuận là con một ông bá hộ, nhà giàu có hàng trăm mẫu tư điền, cũng bảnh trai, cũng hay chữ, cũng thật thà, tốt bụng và danh giá biết bao. Đã đành Kính hơn Nhuận ở chỗ được Dung yêu. Ngay từ khi còn học ông đồ, Kính đã thấy Dung quyến luyến mình hơn các bạn. Cái cảnh chàng mồ côi cả cha lẫn mẹ đã khiến Dung ngày càng thêm nặng lòng thương Kính. Cảm tình ấy theo thời gian đổi thành một tình yêu bền chặt. Tuy vậy, còn ông đồ. Trong việc này, chỉ duy ý định của ông mới thực là có giá trị.
Nghĩ tới ông đồ, Kính định sẽ lại thăm thầy ngay sáng hôm ấy và, nếu tiện, sẽ hỏi ông về việc chàng định bán mấy thửa ruộng. Nói đến cảnh ngộ mình, Kính còn mong dò xét ý tứ ông đồ nữa. Kính uống tàn ấm chè, ra sân rửa mặt rồi lên nhà chít khăn, mặc áo để sửa soạn ra đi.
Trời sáng bạch... Cây cỏ bắt đầu tỉnh thức, xì xào trong gió thoảng. Một tiếng gà gáy rồi năm bảy tiếng tiếp theo... Trên cành vông, trước thềm nhà Kính, con chích chòe khe khẽ hót như còn ngái ngủ...
Phương đông mỗi lúc một vàng rực, lấp loáng bên kia lũy tre rung...
Kính mở cổng ra ngoài, hít mạnh mùi lúa thơm tản mạn trong không khí. Một cảm giác thấm dần... thấm dần vào thớ thịt, vào linh hồn chàng như một nguồn sống mới lạ.
Mặt trời lên khỏi núi Dùm. ức vạn tia lửa cầu vồng nhộm lập lòe trên cỏ ướt. Bóng cây in loang lổ mặt đường đi.
Kính tự nhiên nao nức tưng bừng trước vẻ đẹp của ngày thu. Chàng muốn hát, muốn cười, muốn nhảy, muốn chạy tung tăng như hồi còn để chỏm.
Kính chợt để ý đến một câu hát cất lên sau bờ giậu ruối:
Vì mây cho núi lên trời,
Vì chưng gió thổi, hoa cười nắng thu...
Chàng dừng bước lắng nghe, lòng phơi phới rung động và, sau cùng, hát theo:
Lá này gọi lá soan đào;
Tương tư gọi nó thế nào hở em?...
Lá khoai anh ngỡ lá sen,
Bóng trăng, anh ngỡ bóng đèn anh khêu!...
Cặp lông mày Kính bỗng nhíu lại; Nhuận vừa hiện ra ở đầu đường...
- Anh Kính sung sướng thực! Vừa đi vừa ngâm thơ...
Kính lãnh đạm:
- Bác lý đâu về sớm thế?
- Tôi vừa lại thăm thầy.
- A!...
- Chắc anh cũng lại đấy?
- Không. Tôi lên Trung Môn có chút việc. Nhưng, qua nhà thầy, tôi sẽ vào...
- Kính đỏ tai vì đã phải chối cái việc mình đương làm. Chàng tự trách: “- Ồ! Mình như thế chẳng hóa hèn lắm sao!”.
Kính ngẩng phắt đầu nhìn thẳng vào mặt Nhuận:
- Thôi, vô phép bác nhé, tôi vội lắm!
Kính rảo bước đi nhanh, cảm thấy ở sau lưng cái nụ cười rất khó chịu của Nhuận...
Tới nhà Dung, Kính vừa bước lên thềm hè đã giật mình lo lắng:
- Thầy đau nặng thế kia ư, cô Dung?
- A kìa, anh Kính!... Anh vào đây; vâng, thầy đau lắm! Thế nào, anh lại để hỏi thầy...
- Về việc bán ruộng và thăm thầy một thể.
- Anh lý Nhuận cũng vừa ở đây ra...
Tinh nghịch, Dung trỏ khay ấm chén.
- Em pha nước mời, nhưng anh ấy dỗi không uống.
Trong khi Dung nói, Kính bỗng nhìn đến mấy dòng chữ Nôm trên bìa quyển lịch mà Kính nhận ra là chữ Nhuận. Mặt Kính đỏ bừng rồi tái nhợt. Kính hỏi rất nhanh:
- Thầy vẫn nằm ở trong buồng?...
- Vâng.
- Để tôi vào chào thầy đã.
Dung âu yếm nhìn theo Kính, vẻ mặt mơ màng...
Quyển vở cuối cùng đã chấm xong, Dung ngẩng đầu bảo lũ trẻ:
- Thôi, cho các em về. Chiều vẫn phải đi học đấy nhé?
- Vâng ạ!
- Lạy chị ạ!
Bọn trẻ, mừng như đàn chim sổ bầy, vừa xô nhau ra cửa vừa cười nói ồn ào...
Dung thừ người suy nghĩ...
Một lúc lâu, Dung vẳng nghe tiếng lợn rống đòi ăn, vội đứng đậy đi xuống bếp. Cô hâm được cám, đương vợi vào lon cho hai con vật háu đói thì chợt Kính hỏi ở sau lưng:
- Cô chăn lợn trưa thế?
- Hôm nào cũng cứ tan buổi học em mới cho chúng nó ăn.
Dung trỏ con lợn đầu đàn:
- Quái, con này tự nhiên sao lại đủng đỉnh thế chả biết...
- Có lẽ nó ốm. Cô thử lấy bồ kết cho nó ngửi xem nào. Tổng ta vừa chớm có dịch lợn đấy!...
- Chết chửa! Thế mà em cứ định phiên chợ này bán cả hai để lấy tiền thuốc men cho thầy, gọi là còn nước còn tát…
Kính nín lặng nhìn con vật lử khử nằm ở xó chuồng…
Dung lẩm bẩm:
- Nếu không may nó làm sao thì thực là chó cắn áo rách!...
Câu nói như một nhát dao đâm vào lòng Kính, chàng cúi đầu, nhận lấy cái sỉ nhục chỉ là một người thừa đối với cảnh nguy bách của Dung. Và, cũng lúc ấy, hình ảnh Nhuận lại hiện ra trước mắt Kính, với một nụ cười ngạo nghễ...
Dung thấy Kính buồn vội lảng sang truyện khác:
- Vừa rồi anh nói gì với thầy mà lâu thế?
- Tôi hỏi thăm thầy và nghe thầy than thở mãi về sự vất vả của cô...
- Anh có nói đến việc ruộng không?
- Không.
Dung ngạc nhiên nhìn Kính...
- Là vì tôi trót đã nhận lời bán tất cả cho ông Chùm.
CHƯƠNG IV
Bọn trai gái làng Ỷ La, từ lúc đứng bóng, vẫn đua nhau gặt hái ồ ạt...
Ngày mỗi lúc một xế chiều, ánh nắng đã vàng úa. Mặt trời xuống dần... xuống dần rồi lặn hẳn. Sau dải núi Là lam tím, phương Tây rực lên như ánh lửa hồng. Một vài bóng chim thấp thoáng trên mù xanh. Đàn trẻ dồn trâu về xóm hò hét, luống công bên những con vật nặng nề đi chậm chạp. Gió chiều hiu hắt thổi... Những khóm lau già ngả nghiêng xào xạc, gọi dậy cái u hoài man mác của ngày thu đẹp mau tàn...
Nhưng, bọn trai gái làng Ỷ La, tản thành từng đám bọt nổi hung hung trên sóng lúa, vẫn làm việc ồn ào... Họ cách biệt hẳn thời khắc vì trong lòng họ đương rạo rực cái vui sướng được mùa.
Bao giờ cho đến tháng mười
Ta đem liềm hái ra ngoài ruộng ta.
Gặt lúa, ta đem về nhà,
Phơi khô, quạt sạch ấy là xong công...
Cái kết quả của biết bao công trình nặng nhọc, của biết bao ngày lo:
Người ta đi cấy lấy công
Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề:
Trông trời, trông đất, trông mây,
Trông mưa, trông gió, trông ngày, trông đêm...
Trông cho chân cứng đá mềm,
Trời trong bể lặng mới yên tấm lòng...
Dung cũng ở trong bọn gặt lúa vui đùa nọ và cũng đương vội vàng cắt thêm mười lượm nữa, trước khi trời tối hẳn. Khác với tất cả, Dung không hát mà cũng không cười. Dung không được may mắn như chúng bạn, Dung còn nhiều lo nghĩ không thể nói cùng ai: bệnh ông đồ thì ngày càng khó chữa; học trò đã phải cho ở nhà.
Ngót tháng trời qua đi, Dung đã quen quen, chứ cả như mấy hôm đầu, cửa trường mới đóng, thì Dung tưởng đến chết rũ đi vì buồn!
Mấy hôm đầu, Dung thấy năm gian nhà gỗ sao mà rộng thế, gường phản sao mà ngổn ngang thế; không khí lạnh như bếp tro tàn... Những tiếng nô đùa ầm ĩ, trước kia thường khiến Dung khó chịu, giờ cứ văng vẳng bên tai.
Cái nghề giậu đổ bìm bìm leo, thời vận làm ăn trong nhà đã lủng củng thì những tai ách ở đâu cứ dồn dập tới, như nước ùa vào chỗ đọng. Ngay hôm Kính lại thăm Dung, con lợn đầu đàn tự nhiên chê cám rồi chết nghẻo. Dung đã tiếc công chăm sóc gần một năm dòng lại đau đớn vì mất món tiền lo thuốc cho cha. Dung đành phải bán thóc để trả ông lang. Cái kết quả một sương hai nắng rút lại vào tay nhà giàu mất cả. Bởi thế nên tuy có gặt đấy mà Dung chẳng thấy vui gì.
Màu lửa đỏ đằng phía tây đã dịu. Hình sắc nhòa dần trong bóng tối... Xa xa, một ánh đèn, rồi vô số ánh đèn thấp thoáng qua kẽ lá tre rung...
Gánh lúa đã nặng, Dung nhắc lên vai, rảo bước về nhà...
Thoạt tới cổng, Dung đã nghe bà tổng Phay nói rè rè như lệnh vỡ:
- Sao cháu về muộn thế?
- Cháu về hôm nay còn là sớm đấy; hàng xóm vừa lên đèn xong.
Dung đặt gánh lúa xuống sân và ngờ vực hỏi bà lão xưa nay vẫn làm nghề mối lái:
- Cụ lại chơi thăm thầy cháu hay có việc gì khác nữa?
Bà cụ cười khanh khách:
- Thăm thầy cháu cũng có, mà vì chuyện khác cũng có...
Dung nóng bỏng cả mặt, thoáng nghĩ ngay đến Kính.
Cô vừa cúi xuống tháo gánh lúa vừa khẽ bảo bà cụ:
- Mời cụ vào chơi trong nhà với thầy cháu.
- Thôi, bá đi về đây. Bá đã nói hết với thầy cháu rồi. Câu chuyện mà thành thì hay quá! Chắc hẳn sau này cháu gái chẳng đời nào quên bác...
Dung thẹn đến luống cuống cả chân tay. Cô vờ ôm bó lúa chạy vào bếp. Nhưng, bà cụ tổng gọi giật lại:
- Dung ạ, rồi thầy cháu sẽ kể lại cho cháu nghe. Trời sinh ra thế, đằng nào chẳng phải hỏi ý cháu xem đã: ép dầu ép mỡ, ai nỡ ép duyên! Bá chỉ khuyên nhỏ cháu nên nghe lời thầy cháu và nghe lời bá là hơn. Cháu giờ đã khôn lớn rồi; vả thầy cháu lại...
Dung được dịp khoe:
- Ồ! Thầy cháu đã bớt nhiều, có lẽ cũng gần khỏi...
Bà cụ lắc đầu:
- Thế là cháu vẫn chưa biết gì cả!... Chắc hẳn thầy cháu còn giấu... Dung lạnh toát người. Cô không nghe bà cụ tổng nữa, quăng vội ôm lúa, đâm bổ lên nhà, thắp cây đèn búp măng rồi lật đật vào buồng thăm bố.
Mấy hôm nay tuy bận gặt hái, Dung vẫn không sao nhãng việc thuốc men cho ông đồ. Mỗi lần Dung hỏi về bệnh tình của ông, Dung vẫn thấy ông nói quả quyết là đã bớt. Vậy, có lẽ nào...!
Dung mở rộng hai cánh màn the nâu sẫm tay run run ghé sát ngọn đèn xuống gần mặt cha:
- Thầy!... Thầy thức hay ngủ?
Người ốm cựa mình, chớp chớp hai mí mắt, để lộ cặp lòng đen trơ múi nhãn. Dung nức lên một tiếng; nước mắt trào ra...
- Khốn nạn!... Ngờ đâu thầy giấu con!...
Ông đồ thở dài, sờ sẫm một lát rồi nắm lấy tay Dung.
- Thôi, nín đi, con ạ! Chẳng qua nhà đổ đốn nó mới sinh ra thế; khóc mà làm gì...
Nhưng Dung nín làm sao được! Trong lòng Dung, biết bao khổ não chứa chất đã lâu rồi... Cô gục xuống bên giường cha; những tiếng nức nở làm cho hai vai cô rung động...
Bên ngoài, gió lạnh thổi vù vù; lá cây rụng lạt xạt; vẳng xa, tiếng chó bắt đầu cắn hóng...
Ông đồ khẽ gọi:
- Dung...
- Thầy bảo gì con?
- Vừa rồi bà cụ tổng có lại đây...
Dung ngẩng đầu:
- Bà ngỏ ý hỏi con...
- Bà cụ ấy khéo chọn lúc và khéo lôi thôi lắm!
- Con đừng nói thế. Nói thế là vô ân... Lời nói chẳng mất tiền mua, con ạ!... Huống hồ người ta lại chỉ muốn điều hay cho mình!...
- Khốn nhưng hiện giờ thầy đau thế, con lòng nào còn tưởng đến việc lấy chồng? Con chẳng lấy ai cả!...
Trước những tai nạn liền liền kế tiếp, Dung nổi phẫn lên như người phải chịu sự bất công. Dung oán hận mà không biết qui oán vào ai cả. Trong trí Dung, lúc ấy, ngay hình ảnh Kính cũng mờ đi.
(còn tiếp)
Nguồn: Lan Khai Tuyển tập. Trần Mạnh Tiến sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học sắp xuất bản
www.trieuxuan.info |