III. Rồi ngày thứ bảy đến. Hương dậy sớm hơn thường lệ. Bình thường, tối thứ sáu, sau một tuần học vất vả, Hương tranh thủ đọc. Lúc đó Hương không đọc các sách hoặc tài liệu chuyên môn, liên quan đến bài vở mà cô đọc sách báo, nhằm bổ sung các kiến thức xã hội. Những lúc đó, cô say mê đọc đến khuya. Có lúc vớ được cuốn tiểu thuyết gì không dứt ra được, cô có thể thức trắng đêm để rồi ngủ đến tận trưa hôm sau, nghĩa là trưa thứ bảy.
Lần này, Hương đi ngủ sớm hơn và 6 giờ sáng đã tỉnh giấc. Ngoài kia, trời vẫn còn mờ mờ sương. Qua cửa sổ, cô ngắm nhìn dãy hoa tuylíp đủ màu vàng, đỏ, tím... Những cánh hoa như đua nhau giãn ra để hít thở không khí trong lành sau một đêm khép lại ngủ yên. Hương vùng dậy lấy chiếc áo khoác mỏng mặc vào và quàng chiếc khăn xoa. Nói là đầu thu nhưng ở Paris, thời tiết đã se lạnh. Chỉ mặc một chiếc áo mỏng ngắn tay như khi thời tiết vào thu ở Việt Nam là không ổn. Hương đi khắp một vòng quanh tòa nhà nơi cô ở. Mọi cảnh vật xung quanh vẫn còn yên ắng lắm. Ngoài đường xe vẫn chạy đều mặc dầu ít hơn các ngày khác trong tuần bởi vào ngày thứ bảy, vẫn có những người phải đi làm, những người khác tranh thủ đi công việc, thăm viếng hay mua sắm. Ngày thứ bảy thường là ngày mà các siêu thị, cửa hàng, cửa hiệu đông đúc khách nhất trong tuần. Có khi chọn hàng xong phải chờ xếp hàng cả tiếng mới thanh toán được tiền. Tuy nhiên, đông nhất là từ 11 giờ trưa trở đi. Người Pháp nói chung và người Paris nói riêng vẫn thích ngủ dậy trưa, bởi có lẽ đất nước họ được sở hữu một khí hậu ôn hòa đến tuyệt vời. Những buổi sáng chủ nhật là lúc tĩnh lặng nhất trong tuần, ngoài đường hầu như không có xe chạy. Trong ký túc xá của Hương cảnh yên tĩnh gần như tuyệt đối. Sau một tuần làm việc căng thẳng, họ muốn được cùng nhau hưởng thụ một ngày chủ nhật theo đúng nghĩa nghỉ ngơi. Chính vì vậy khi Tổng thống Sarkozy (Xắccôzy) đưa ra dự luật làm việc ngày chủ nhật tùy theo ngành nghề, khu vực v.v... đã gặp phải sự phản ứng của số đông dân Pháp. Họ không muốn làm việc suốt cả tuần đã đành nhưng họ cũng không muốn mình nghỉ mà nhìn thấy người khác làm việc. Họ muốn giữ nếp văn hóa của người Pháp, tận hưởng ngày nghỉ chung cho dù nền kinh tế của thế giới nói chung và của nước Pháp nói riêng đang gặp vô vàn khó khăn.
Sau khi trở về phòng, Hương ăn qua loa và tranh thủ tắm rửa. Vì sáng sớm thứ bảy nên cô chẳng phải chờ đợi ai cả. Khu bếp và khu vệ sinh công cộng vẫn vắng vẻ.
Lúc chuẩn bị túi xách, cuốn sổ ghi chép, sổ ghi số điện thoại, thẻ điện thoại và vé tàu điện ngầm Hương mới chợt nhớ ra lần trước quên không hỏi ông cụ mã số để bấm khi vào cửa. Mà cô cũng chẳng biết nhà của họ là nhà riêng hay là nhà căn hộ. Nếu là căn hộ thì phải có mã số vào cửa, còn nếu nhà riêng thì có thể là chuông. Nhưng theo cung cách chỉ dẫn của ông cụ, có lẽ là nhà riêng thì đúng hơn. “Thôi cứ đến nơi xem sao đã rồi hẵng hay”- cô tự nhủ.
Đúng như lời ông cụ, từ chỗ Hương ở đến nhà họ đi thẳng một mạch, không phải chuyển tàu và ba mươi phút sau, cô đã có mặt tại thành phố Antony. Là thành phố thuộc tỉnh Hauts-de-sent (Ôđơxen), vùng Ile-de-France (Inđơfăngxơ), Antony nhỏ nhưng xinh xắn và là thành phố thứ mười của tỉnh. Nằm ở độ cao sáu mươi hai mét, Antony có khoảng sáu mươi mốt nghìn dân, trải dài trên một diện tích chín trăm năm mươi sáu hécta. Dòng sông La Bièvre (La Bievơrơ) êm đềm chảy qua thành phố trông thật nên thơ.
Ra khỏi tàu điện ngầm, quên mất lời hướng dẫn của ông cụ, Hương phải nhìn sơ đồ thành phố song thấy bối rối, không biết con phố Musse là đi xuôi hay đi ngược. Mặc dù ở Paris hơn một năm rồi nhưng Hương vẫn chưa quen tìm đường theo bản đồ. Trong khi đó, người Pháp họ thông thạo trong việc tra cứu bản đồ, tìm đường theo sơ đồ, lần ra hướng rất nhanh. Có lẽ họ đã được làm quen từ bé với các loại bản đồ, sơ đồ chăng. Hương cũng nhìn sơ đồ, cũng cố định hướng nhưng vẫn cảm thấy lúng túng và không tin là hướng mình sẽ đi có đúng hay không. Nếu ngược lại e sẽ mất nhiều thời gian mà có khi càng đi lại càng lạc. Nghĩ vậy, Hương vội tìm một quán giải khát, hỏi người phục vụ. Người này đã chỉ cho cô tận tình, rõ ràng. Và quả thật, theo lời chỉ dẫn, chỉ khoảng bảy phút sau, Hương sẽ tới nơi. Nếu đi ngay, sẽ đến sớm hơn giờ hẹn khoảng mười phút. Hương thấy có lẽ không nên đến quá sớm. Nhưng vì không hiểu có cần phải hỏi mã số cửa hay không, nếu cần cô phải tìm cabin để gọi điện thoại cũng không dễ, bởi cô chưa một lần đặt chân tới đây. Nghĩ vậy, Hương bước vội. Kia rồi! Ngôi nhà ba mươi tư đã hiện ra trước mắt cô. Không phải là tòa nhà có nhiều căn hộ mà là một ngôi nhà bé bé, xinh xinh ẩn sau một khu vườn nhỏ, có cửa ra vào bằng sắt sơn màu nâu sáng. Phía trên cửa sắt thiết kế các song và hình hoa nên ta có thể trông từ ngoài vào vườn và nhà, phía dưới là cả một tấm sắt vì vậy chủ nhà đã cho lắp một hộp thư ở phía trong. Phía trên bên phải cửa sắt, Hương thấy cái chuông nhỏ. Vậy là không cần mã số cửa. Có lẽ vì thế mà ông cụ đã không nhắc Hương phải ghi, bởi thường các cụ già bao giờ cũng cẩn thận. Chỉ cần bấm chuông là đủ. Vậy là vẫn còn thời gian. Hương thả bộ dọc phố. Nhà nào cũng chỉ một tầng hoặc hai. Mái lợp bằng loại ngói Ardèche (Ácđétsơ) màu ghi xám. Mỗi nhà đều có khoảng không riêng biệt và khu vườn phía trước, phía sau, xung quanh trông thật thích và đáng yêu.
Nhìn đồng hồ sắp đến 10 giờ, Hương quay trở về nhà ông cụ. Vừa bấm chuông, cô vừa quan sát kỹ bên trong. Phía bên trái ngôi nhà, trong khu vườn phía trước, một pho tượng Phật bằng thạch cao được đặt trên một phiến đá, nhìn xuống một bồn nước nhỏ. Ôi! Vậy là gia đình này vẫn theo đạo Phật. May quá! Dù sao nếu xét về mặt tôn giáo, Hương đã tìm thấy điểm tương đồng.
Đúng 10 giờ Hương bấm chuông. Một phụ nữ trạc tuổi ngoài bốn mươi ra mở cửa. Bà không đẹp, dáng thấp nhưng trông trẻ trung và có vẻ quý phái. Nhìn vẻ mặt lạnh lùng của bà, Hương thấy ngài ngại. “Không biết bà là con gái hay con dâu của ông cụ. Không hiểu cụ bà là người nước nào. Mà sao mình cứ nghĩ tới những chuyện vẩn vơ, không đâu vào đâu vậy nhỉ. Mình đến đây để dạy học, để kiếm tiền giúp mẹ chứ đâu có cần tìm hiểu điều gì khác. Họ là người nước nào, là con dâu hay con đẻ thì đâu có liên quan đến mình. Ừ! nhưng xét cho cùng, họ là người Việt Nam thì mình vẫn thích hơn”- Hương thầm nghĩ.
Bỗng một giọng nói tiếng Việt chuẩn cắt ngang luồng suy nghĩ của Hương:
- À, cô có phải là…. ?
Hương nhanh nhẹn đáp :
- Dạ, cháu là sinh viên, đến theo hẹn với ông cụ nhà ta để gặp gia đình và xem việc học của em gái lớp mười.
- Mời cô vào!
Cửa mở, Hương đi theo chủ nhà. Ngay sau cửa ra vào, phía bên phải là kệ để giày dép. Cô chủ bảo Hương để giày lại và mang dép đi trong nhà. Hương được dẫn vào phòng khách. Cô ngạc nhiên đến sung sướng khi thấy toàn bộ gian phòng trang trí theo phong cách Á Đông. Đồ bày biện không nhiều nhưng trông thật tinh xảo và sang trọng. Có nhiều đồ trang trí kiểu xứ Huế. Rõ nhất là bàn thờ gỗ chạm khảm trai, phía trên hai bên có bài trí hai câu đối viết bằng chữ vàng trên nền đỏ. Phía trong góc là một cành mai vàng ngự trong một bình gốm trang nhã mà đẹp. Mới nhìn Hương cứ ngỡ là cành mai thật vì từ lá cho tới hoa, có những nụ, những cành có vẻ như đang héo rũ xuống. Nhìn cành hoa, bỗng dưng Hương thấy nhớ mẹ, nhớ quê da diết. Có lẽ mẹ Hương không phải là người xứ Huế bởi chưa một lần mẹ kể cho cô nghe về xứ ấy, nhưng nhiều người bảo giọng nói của mẹ đúng là giọng Huế, Hương không biết có phải vậy không. Nhưng trong gian nhà nhỏ của mẹ con Hương không mùa Tết nào không có một cành mai. Có một lần, mẹ đưa Hương đến thăm gia đình một phật tử trung tín. Đó là ngôi nhà nhỏ nằm dưới chân một đồi cát trắng xóa, lọt thỏm trong một vườn mai đang độ mãn khai. Khung cảnh yên bình và đẹp tựa tranh vẽ. Lúc mẹ ngồi nói chuyện, Hương tha thẩn một mình trong vườn mai, ngắm những bông mai khoe sắc trên cành và những cánh mai đang dát vàng trên mặt đất, cảm thấy mình như là nét bút nguệch ngoạc đang di chuyển trong bức tranh thiên nhiên chỉ có hai màu vàng và trắng.
Đang mải mê hồi tưởng về cành mai xứ Huế, bỗng một giọng nói tiếng Việt trầm ấm cất lên:
- Chào cô!
Hóa ra là ông cụ. Ông có vẻ vui khi gặp lại đồng bào của mình. Đi bên cạnh ông là một em gái. Chắc chắn em là con của cô chủ vừa rồi vì nhìn em giống cô như đúc. Họ ở Tây mà da lại ngăm ngăm, nét đặc Á Đông. Người Tây rất thích làn da và các đường nét này. Trong khi đó Hương vừa từ Việt Nam qua mà da cứ trắng nõn nà. Ở nhà ai cũng thích, cũng khen nhưng sang đây lại thấy bình thường.
Dạ, cháu chào ông. Chị chào em.
- Em chào chị.
- Ôi, em nói được tiếng Việt hay quá! Em tên gì?
- Tên em là Hồng Nam, còn chị?
- Chị là Mai Hương.
Ông cụ tiếp lời:
- Cô giúp em vừa học toán, vừa giao tiếp thêm bằng tiếng Việt. Đó là nguyện vọng của gia đình chúng tôi.
- Dạ, cháu hiểu. Cháu thấy em cũng nói tiếng Việt đấy chứ ạ.
- Nói được nhưng chưa tốt và ngại. Có nhiều người gốc Việt, sinh ra và lớn lên tại Pháp, không nói được tiếng Việt, mặc dù có những gia đình cả hai bố mẹ là người Việt hẳn hoi.
- Dạ, cháu cũng chưa được tiếp xúc nhiều người Việt Nam ở Pháp nên cũng chưa rõ lắm ạ.
Ông cụ tiếp tục :
- Kể ra cũng khó bởi con cái khi bắt đầu biết nói và chập chững tập đi đã được gửi đến nhà trẻ, trường mẫu giáo và sau đó là đi học vì bố mẹ phải đi làm. Thời gian ở trường, tiếp xúc với bạn bè nhiều hơn ở nhà. Khi về đến nhà thì ăn rồi ngủ nếu còn bé, còn lớn lên lại lo bài vở. Thực ra thời gian ở nhà với bố mẹ thì nhiều nhưng tiếp xúc thì ít, nói chuyện lại càng ít. Vả lại, hai bố mẹ làm việc cả ngày đã mệt rồi, về nhà lại lo cơm nước, dọn dẹp nhà cửa, giặt giũ áo quần, còn đâu thời gian để nói đến chuyện dạy tiếng Việt cho con hay nói chuyện bằng tiếng Việt cùng con. Có những gia đình, bố mẹ cũng nói tiếng Việt cùng con, chúng nó nghe, hiểu nhưng lại trả lời bằng tiếng Pháp cho dễ, cho nhanh. Lâu lâu quen rồi không dùng tiếng Việt nữa.
- Thế sao em Hồng Nam lại chịu nói tiếng Việt ạ?
- Thực ra cũng phải giảng giải tâm tình nhiều đó cô ạ. Lâu nay các em tham gia học lớp tiếng Việt do Hội người Việt Nam tại Pháp tổ chức. Về nhà, cả nhà cố gắng dùng tiếng Việt để giao tiếp. Bà ngoại Hồng Nam lúc còn sống và cô Hồng Minh là mẹ em luôn giữ nếp sống của cố đô Huế, vì vậy tiếng Việt là một trong những tiêu chuẩn mà gia đình tôi muốn các cháu phải giữ.
Vừa lúc đó, cô Hồng Minh mang khay trà ra mời khách.
- Tôi là Hồng Minh, còn cô?
- Dạ, cháu là Mai Hương.
- Ôi, cái tên đẹp quá! Hương thơm ban mai.
Vừa uống nước, cô vừa hỏi Hương về việc học, nơi ăn chốn ở của Hương. Lúc này Hương thấy cô có vẻ đỡ lạnh lùng hơn. Sau khi nghe Hương nói, gia chủ có vẻ hài lòng khi biết cô đang là sinh viên của trường Đại học Sư phạm tại Paris, một trường danh tiếng mà kể cả người Pháp muốn vào cũng không phải dễ. Một lát sau, khi chỉ còn cô Hồng Minh và Hương, cô chủ vào đề luôn:
- Nếu cô chấp nhận, mỗi tuần cô giúp em hai buổi, mỗi buổi một tiếng rưỡi. Em Hồng Nam không phải đến trường vào chiều thứ tư và thứ bảy. Vậy cô có thể giúp em vào hai buổi chiều đó được không?
Hương nghĩ: Một tuần dạy hai buổi mà mỗi buổi có một tiếng rưỡi thì chẳng bõ công đi lại. Nhận hay không đây? Nhưng thôi mình mới là sinh viên, thấy em Hồng Nam cũng dễ thương, mình cứ giúp đã, chưa nghĩ vội đến chuyện tiền nong. Mà xem cung cách cư xử của gia đình, từ ông cụ cho đến cô Hồng Minh, quả đây là một gia đình gia giáo, nề nếp, mới trông đã thấy nể rồi.
- Vậy ý cô thế nào?
Lúc đó Hương mới nghệt mặt ra:
- Dạ được ạ. Nhưng cháu không biết chiều thứ tư em Hồng Nam có chịu học muộn không ạ. Bởi vì thứ tư hàng tuần, cháu phải học ở trường đến 17 giờ mới xong. Từ trường cháu đến đây chắc phải mất khoảng bốn mươi nhăm phút. Vậy buổi học chỉ có thể bắt đầu vào lúc 18 giờ cô ạ.
- Được. Còn thứ bảy thì bắt đầu vào lúc 15 giờ nhé. Cô giúp em môn toán. Cô lại học chuyên về toán thì tốt quá. Khi giảng có thể bằng tiếng Pháp nhưng khi nói chuyện, giao tiếp, cô cứ sử dụng tiếng Việt với em nhé. Còn tiền bỗi dưỡng, xin cô cho biết chúng tôi sẽ xin gửi cô.
Hương nghĩ họ thật là lịch sự, lại còn hỏi ý kiến mình về vấn đề tiền nong nữa chứ. Nhưng Hương có biết sự thể ra sao đâu, cô thật thà:
- Lần đầu tiên cháu đi làm gia sư ở Pháp, cháu không rõ lắm. Nhưng cháu nghe nói sinh viên đi làm thêm ở Pháp, sẽ được trả tiền thù lao theo giờ tính bằng lương tối thiểu của người Pháp.
- Đó là nếu cô đi bán hàng hoặc phục vụ trong các nhà hàng còn đi làm gia sư là cô phải hoạt động bằng trí tuệ. Vì vậy tôi nghĩ tiền thù lao sẽ phải khác. Nếu cô chấp nhận, chúng tôi xin gửi cô mỗi giờ dạy là hai mươi euro, vị chi một tiếng rưỡi là ba mươi ơ rô. Nếu sau một thời gian, em tiến bộ, chúng tôi sẽ bồi dưỡng cô thêm. Ý cô thế nào? Tôi sẽ gửi tiền cô sau mỗi buổi dạy hay sau một tháng?
- Cháu đồng ý, cháu cám ơn cô. Còn tiền cô gửi cháu lúc nào cũng được ạ, tùy cô.
Hương trả lời mà lòng rộn lên niềm vui sướng. Đúng là mình gặp may rồi, mình đâu có ngờ lại được thù lao cao đến thế. Có lẽ mình là sinh viên trường Đại học sư phạm chăng hay là mình gặp được một gia đình tốt bụng? Để đáp lại thịnh tình đó, có lẽ mình phải nghĩ trước hết đến chất lượng giảng dạy. Và có lẽ điều cốt yếu là phải biết được Hồng Nam yếu ở những điểm gì, cần bù đắp thiếu hụt chỗ nào thì mới đáp ứng được nhu cầu. Nghĩ vậy, Hương đề nghị:
- Cô ơi, hôm nay nếu Hồng Nam không bận, cô cho phép cháu gặp em một lúc có được không ạ?
- Ồ, tôi cũng có cùng ý nghĩ đó. Em có một phòng học riêng, tôi sẽ bảo em mời cô vào phòng.
(còn tiếp)
Nguồn: Bông mai vàng trước gió. Tiểu thuyết của Trần Thị Hảo. NXB Văn học, 7-2009.
www.trieuxuan.info |