tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Tiểu thuyết
03.09.2009
Lan Khai
Mực mài nước mắt

Chương 2- Hết tiền nhà đến tiền gạo, giờ lại tiền thịt, và còn tám nhăm thứ tiền khác nữa thế này thì tôi cũng đến chết mất, chả sống được! - Kim, không chờ mụ hàng thịt xuống khỏi cái thang gỗ khấp khểnh, lập tức quay ngay vào kể lể bằng một giọng sũng nước mắt. Khải ngẩng đầu, tay đặt dần cái quản bút lên trang cuối cùng tập bản thảo chàng đang viết nốt:


- Khổ quá! Thì mợ cứ để mặc tôi có phải là nhẹ mình không... Sắc mặt khải biến từ vàng xỉn sang màu tái nhợt. Chàng tì hai khuỷu tay xuống mép bàn; sau lần kính cận thị, cặp mắt chàng mở to nhìn thẳng vào Kim với một vẻ bực dọc và chán nản: mợ cứ mặc tôi van khất người ta thế nào yên chuyện thì thôi.


- Nếu mặc được thì nó đã ra một nhẽ khác!


- Sao lại không? Ấy thà như thế còn hơn là cứ nay eo sèo, mai eo sèo mãi, không ai chịu nổi...


- Giá những người có nợ họ chịu để tôi yên thì cứ gọi là cạy răng, tôi cũng chẳng nói lấy nửa câu.


- Đã thế, mợ cứ nói. Mợ nói thế nào cho nó nảy ra tiền được thì còn gì hay bằng!...


- Cứ chết quách ngay đi là rảnh chuyện. - Kim dằn dỗi quay mặt vào vách. - Chết là thôi chẳng còn điều nọ tiếng kia rắc rối nữa!


- Chẳng ai bắt ép được ai hết... Mà chẳng ép thì sự cũng đã muộn rồi.


- Nào tôi có ngờ đâu đến nỗi chỉ vì đồng tiền mà mợ đâm ra oán hận tôi như thế, lấy chồng thì theo cảnh ngộ của chồng. Ở đời này ai chẳng muốn phấn giồi mặt, nhưng cái đời tôi chẳng may đã như vậy, tôi còn biết làm thế nào? Đối với công việc bổn phận một người chủ gia đình, tôi tưởng tôi cũng đã làm đầy đủ lắm rồi thì phải. Mợ thử xem: ốm thở chẳng được thế này, tôi cũng cố ngồi dậy để viết... (Khải nhìn xuống trang bản thảo). Với lại chỉ còn một đoạn cuối nữa là có tiền ngay, chứ phải chờ đợi lâu la gì cho cam...


- Đã chắc bán được ngay chưa! Hay là tết nhất đến nơi, các nhà xuất bản người ta còn để tiền chi món khác...


- Hãy thử xem; chẳng nhà này thì nhà kia, lo gì!


- Thế mới rõ đương yên đương lành đọc canh chịu tội - Giọng Kim trở nên đay nghiến và chế giễu. Giá chịu viết cho nhà Nghệ thuật, có phải giao sách ăn tiền, nhẹ mình bao nhiêu? Đâu đến nỗi phải chạy ngược chạy xuôi để chỗ này nó rìm giá, chỗ kia nó bắt chẹt...


Khải xô ghế đứng dậy, chàng không thể chịu được nữa những lời quá thiết thực mà Kim đay đi đay lại đã hàng trăm lượt về cái việc Khải đòi tăng tiền nhuận bút, nó đã khiến cho nhà Nghệ thuật tuyệt giao với chàng.


- Gớm, có mỗi việc tầm thường ấy mà mợ cứ làm như tôi đã phạm một tội đại phản nghịch không bằng. Sự thực, ai ở vào địa vị tôi, người ấy cũng phải tức. Tại sao những sách tôi đã viết bán cũng chạy tay như của mấy văn sĩ khác, mà số tiền nhuận bút của tôi lại chỉ bằng nửa những người kia? Chẳng qua lão Nghệ thuật nhận thấy tôi vợ con một đàn một lũ, cho rằng dù bắt chẹt thế nào tôi cũng phải chịu. Người ta đã xử với mình theo lối con buôn, mình cũng phải biết cho người rằng còn có quyền lợi của mình nữa chứ. Không làm thế, thiên hạ nó cũng cười cho là ngốc...


- Ôi chào! Ở đời giả dại làm ngây, chứ khôn kia để bán dại này mà ăn! Biết thế nào cho cùng... Vả lại, cậu xoay xỏa lắm chỉ tổ mua thù chuốc oán vào mình, chứ đã được tích sự gì? Cứ lờ mờ như anh Ngọc thế mà lại hóa yên thân yên xác...


- Yên thân! Khải nhún vai và cười mũi: Thì ra khổ đau gì bà chẳng biết hãy yên thân cái đã! Và những thằng chồng chỉ biết sấp mặt xuống, đừng kể gì là tức khí, là nhục nhã hết.


- Nhục nhã nào chưa biết, hãy biết cái nhục nhà không có gạo đổ vào mồm, với các đứa không bằng đầy tớ mình nó nói cho như chửi vào tận mặt mà vẫn phải chịu đấy...


- Ở đời, ai không nợ? Và cái nghèo phải đâu là cái xấu...


- Ngồi mà cãi lý bây giờ thì ai theo kịp cậu được! Theo ý tôi, chẳng lôi thôi gì cả... Nếu người ta trả mình kém một chút, mình chịu khó viết gia thêm số trang thì đâu cũng vào đấy!...


- Chịu thôi! Mợ chẳng thấy vì chịu khó mà tôi thành ra đương vùi lấp cái tên tôi dưới một đống giấy lộn đấy ư? Viết văn có phải như đóng đồ gỗ đâu mà bảo cố gắng để lấy thêm tiền.


- Nghề văn đã không nuôi sống nổi người, cậu sao còn cứ đa mang nó mãi?


Khải giương to hai mắt nhìn vợ chàng ngây ra chẳng khác một kẻ mộ đạo chợt nghe ai xui hạ chính ngay cái thần tượng của mình xuống mà làm củi! Im lặng giây lâu chàng mới thủng thẳng nói bằng một giọng đầy xót xa:


- Thôi, tôi đã trót rồi; và mợ, tôi xin mợ đừng nói nữa...


Kim lảng:


- Cậu đừng tưởng cái việc đòi tiền nhuận bút đã được người ta khen đâu! Cậu không xem bao nhiêu đứa nó xúm lại công kích cậu, mỉa mai rằng đã là văn sĩ mà còn yêu sách tiền nong là không xứng đáng, là bẩn thỉu, là vật chất, là...


- Là đê tiện nữa chứ gì? Khải toan nói tiếp - Chẳng cứ những quân khốn nạn ấy, tôi dám chắc mợ cũng nghĩ như vậy. Chàng thấy Kim đáng bỉ hơn bao giờ hết. Chàng cho Kim mới là kẻ thủ phạm đã gây nên tất cả mọi đau đớn vật chất và tinh thần của chàng. Một ý tưởng chạy vụt qua óc chàng: giá Kim chết! Giá chàng có thể giết được vợ! Khải rùng mình tự ghê tởm và càng oán ghét Kim. Chàng đứng sững lại, nói chõ vào mặt thiếu phụ như khi người ta cảm thấy cần phải giảng cho vỡ cái ngu ngốc của kẻ đần độn: - Mợ phải biết chính những đứa công kích tôi, nếu ở vào địa vị tôi, chúng cũng làm như tôi đã làm. Chúng sở dĩ đã nói trái với lương tâm chúng, ấy chẳng qua vì chúng muốn mình nịnh hót chủ để hòng có được thêm miếng thịt miếng xôi nào đó thôi. Stefan Zweig đã bắt một hãng quay phim Mỹ phải trả bản quyền cuốn tiểu thuyết lịch sử Marie Antoinette của ông ta mười lăm triệu Mỹ kim, Léon Tolstoi đòi nổi trang tiểu thuyết Anne Karénine ba nghìn roubles thì không sao, một văn sĩ ở cái nước “nghìn năm văn hiến” này, trái lại, đã bị các bạn cùng nghề chửi là vật chất, và đã bị ngay vợ mình ngờ là hiếu sự, chỉ vì anh ta đã dám đòi những... tám hào một trang bản thảo gồm ba mươi ba dòng, mỗi dòng mười hai chữ. Bằng ở cái lý nào tôi hỏi mợ, người ta cứ ép buộc nhà văn phải cao thượng, nghĩa là phải uống nước lã, để rồi người ta lại bỉ báng nhà văn là phường kiết xác? - Khải ngừng lại, tự hồ để lắng nghe cả một quãng đê dài phẫn uất nó vỡ tung ra trong lòng chàng.


“Người Việt Nam thực là một giống quái gở! Họ nhất định ép văn nhân phải cao thượng bằng cách chịu nghèo suốt đời, thế rồi họ bỉ thử chính ngay sự nghèo túng ấy, và cho văn nhân bất quá là một hạng bất mãn bởi thi không đỗ, một hạng dở ông, dở thằng vô tích sự. Cùng một lúc, họ đã thờ phụng những Lý Thái Bạch, Tô Đông Pha, Hàn Dũ, Đỗ Phủ và hiện đang hết sức tán tụng những Shakespeare, Goethe, Tolstoi, v.v...


Khải sục sạo quanh trong gian gác, Kim gục xuống cánh tay và sụt sịt khóc, như bất cứ một người đàn bà nào ở vào một cảnh ngộ như nàng: “Ai lại hẳn mấy tết rồi mà vẫn mẹ một nơi con một nẻo. Trong nhà thì đồng xu không có... lấy gì mà trang trải công nợ, lấy gì mà mua sắm một tí gọi là đón tay cho trẻ lúc lên nhà!”.


Khải buồn quá. Chàng đã cố quên mà sự thực cứ được phô bày ra truớc mắt chàng một cách sỗ sàng và tàn nhẫn. Khải ngồi bệt xuống chỗ cũ, mắt chàng vẩn vơ nhìn trang bản thảo trong khi trí chàng nghĩ bâng khuâng đến cha già, con dại: “Tội nghiệp quá! Cả Kim nữa... Kim, dù sao cũng chỉ là một người đàn bà ít học vấn và hiểu biết, thế thôi. Làm cách nào bây giờ? Chỉ còn độc một kế là viết cho xong quyển tiểu thuyết này”. Khải cầm lấy bút. Trời, suốt đời chàng, Khải có lẽ không mong gì còn có lúc thoát ly được cái khổ đánh đĩ ngòi bút chăng? Nếu vậy thì đổi quách nghề như Kim đã nói.


Một giờ sau, Khải ném tạch quản bút xuống mặt bàn. Chàng xoa tay: “Thử lại thằng cha Hàn mặc xem nào. Hắn tăm mình mãi, may ra hắn sẽ trả mình được một giá phải chăng...”.


Khải tiến đến trước gương dài mốc thủy, chàng thắt lại cái múi chiếc cravate màu huyết dụ đã hoen ố và sờn mép. Nhìn cái dung nhan gầy và xanh phản chiếu trong làn gương, Khải chép miệng: “Coi chừng lại theo Vũ Trọng Phụng sớm”. Và lòng chàng nao nao hẳn lên, cũng chẳng rõ ấy là tình thương bạn hay thương thân. Chàng không muốn có thêm một đau đớn nữa, khi lòng chàng đã nhiều đau đớn, chàng mặc vội quần áo, với cầm một tập bản thảo; đoạn quay ra đầu thang gác:


- Mợ ở nhà nhé! Tôi đi một lúc xem thế nào rồi tôi về ngay.


- Kim nín lặng.


Cái nó đến óc chàng trước hết, khi Khải xuống tới đường, ấy là một điều lo: Chủ nhân Hàn mặc thư xã vắng nhà thì sao? Lại nữa, hắn có thể có nhà, nhưng quyển văn của chàng cũng có thể không bán được, vì một lẽ gì đó - chẳng hạn, như Kim đã nói: “... Tết nhất đến nơi, các nhà xuất bản còn để tiền chi món khác”. Khải thở dài: Cái hy vọng cuối cùng mà chàng cố níu lấy thế là tan mất, chẳng khác một bóng mây nhỏ đằng chân trời giữa khi đại hạn. Và ở đời, còn cái cô đơn nào mênh mông bằng cái cô đơn của một kẻ đã mất đến cả cái hy vọng sau cùng? Chàng cảm thấy nó trong hơi lạnh của cái nắng hanh vàng và trong như mật, trong cái tưng bừng của đám đông, của xe cộ, của các hàng rong, của tiếng còi xe hơi, của tiếng chuông xe đạp, tiếng kêu gọi, tiếng cười đùa quanh mình và nhất là trong cái thắm tươi, kiều diễm của các cô thiếu nữ. Khải cúi đầu, bước lủi thủi trên vỉa hè. Chàng ngạc nhiên sao ngay giữa nhân loại, một người lại có thể lẻ loi được đến như chàng. Chàng nhắc đến tên bạn, nhất là các bạn đã được chàng cho nhờ vả, để có cớ mà oán trách. Chàng có cảm tưởng như hết thảy đều tệ bạc với chàng, và chàng ôm ghì lấy cái buồn đơn chiếc, như người sắp tự tử vuốt ve khẩu súng lục. Ồ, nhưng mà buồn đã vậy: Người ta có thể sống với trăm nghìn buồn khổ nó chứa chất trong tim; người ta không thể nào sống được mà lại không có lấy ít ra là một tia hy vọng. Khải cũng thế. Mặc dầu sự thất vọng. Sư lo lắng, sự sầu muộn, Khải, rút lại, vẫn cố tìm lấy cho lòng chàng một ước mong. Chàng ước mong lẩn thẩn giá có người vô ý bỏ rơi một ví tiền. (Khải liếc nhìn nhanh một chỗ kín đáo - một gốc cây hay một nhóm cỏ nào đó - để cho cái ví rơi có thể còn được đến lúc chính chàng nhìn thấy). Chàng tưởng tượng cái cách khôn khéo chàng sẽ cúi xuống nhặt chiếc ví; chàng tự hỏi xem nên rẽ vào con đường vắng nào để có thể ung dung kiểm soát số tiền bắt được. Chấp chiếm của chẳng phải của mình, Khải cũng biết là một điều mà người ta không khen; nhưng... ồ, cần quái gì cái thứ luân lý đặt ra bởi những kẻ chưa từng bao giờ hiểu thế nào là đói, rét, nhất là chưa bao giờ hiểu nỗi đau đớn của một người cha khi thấy chính lũ con mình đói rét! Chàng lẩn thẩn đếm: “một... hai... ba... bốn, năm... năm tờ giấy hai chục... Một trăm đồng cả thảy!”. Một trăm đồng, đủ chán! Khải có màng chi nghìn ấy, vạn khác, chàng chỉ cần một số tiền vừa vặn để dẹp tắt cho gia đình chàng những tiếng than khóc, những tiếng eo xèo. Khải thoắt lên một cái xe tay và giục túi bụi anh phu xe chạy ba chân bốn cẳng về phố Hàng Bún. Chàng nhảy bốn bậc thang một lên gác. Chàng ấn một trăm bạc vào tay Kim, sau khi đã hôn như tưới lên trán, lên mắt, lên má nàng: “Thôi, mình đừng khóc nữa... Tiền đây rồi!... Tất cả một trăm bạc đấy mình muốn tiêu gì tùy ý!” Khải phân vân, chẳng biết có nên làm như vậy chăng; hay là chàng sẽ quay về với một vẻ tuyệt vọng, và sẽ khoanh tay ngồi thừ ra ở trước bàn viết, sau khi đã ném tập bản thảo xuống mặt sàn gác và nguyền rủa một người bạn tưởng tượng nào đó đến hết lời. “Tấn bi kịch sẽ kéo dài cho đến lúc mẹ cu thật cuống, bấy giờ ta mới thủng thẳng đứng lên và trịnh trọng như một tay phù thủy hợm mình, ta sẽ đọc một câu thần chú bố vờ đoạn hô: một, hai, ba... biến!... Chị chàng cứ gọi là “lác mắt”, khi thấy bố cu gí vào tận mũi một trăm bạc!”. Khải bật cười, làm cho mấy thằng bé nhặt lá bàng phải ngơ ngẩn. Nhưng chàng vẫn say sưa trong giấc mộng: “Thấy chồng không bán tiểu thuyết mà tự nhiên có nhiều tiền, chị chàng tất nhiên tò mò hỏi... Ta sẽ nói thực cái may mắn phi thường của ta, và sẽ giơ cho Kim xem cái ví...” (hình ảnh cái ví da màu đen nhánh bày trong tủ kính nhà Gô đa thoáng hiện trước mắt Khải). Chàng nắc nỏm: “Cái ví đẹp quá!...”, và nghĩ lo: “... Không biết nên giữ để dùng hay vứt bỏ?...”.


CHƯƠNG III


Khi các món nợ đã trang trải xong đâu vào đấy, và các hành lý của chàng (một hòm quần áo với hai bồ to sách) đã được xếp cẩn thận trên nóc ô tô hàng rộng lớn, như cả một gian nhà, Khải ngạc nhiên nhận thấy rằng sự đổi chỗ ở, thực ra, không có gì khó chịu, như chàng lầm tưởng. Trái lại thế! Khải nhìn Kim, và nói qua một nụ cười: “Những ngày cuối cùng ở Hà Nội thực là cả một ác mộng”. Ấy là một đoạn đời đã hết hẳn, đã qua đi mãi mãi - và lòng chàng tự nhiên lâng lâng khoan khoái, trong sự chờ đợi bâng quơ một cái gì mới mẻ nó sẽ bắt đầu cho chàng.


Hành khách lên đã đầy xe. Người cảnh sát thổi một tiếng còi. Chiếc ô tô từ từ ra cổng bến Nứa và rẽ lên cầu sông Cái. Vậy là thôi, vĩnh biệt Thăng Long, với những cái vinh, cái nhục chàng đã sống ở đấy; vĩnh biệt Nghệ thuật tôn ông, cả chủ nhân Hàn mặc tư xã nữa!


Những ngón ranh ma trong sự lợi dụng và bắt chẹt của anh chàng văn sĩ nửa đời này cũng chẳng kém chi của bạn đồng nghiệp hắn. Biết thóp cảnh nhà văn chạy Tết, cái cảnh chính hắn, xưa kia, đã từng qua, hắn đã vờ kêu túng ầm ĩ, khi Khải vừa mở miệng nói cái mục đích đến thăm của chàng: “Bực quá, tiên sinh ạ, ai lại Tết nhất đến nơi, mình phải trả nào tiền in, nào tiền giấy hàng trăm món, thế mà mấy thằng đại lý chó chết cứ ì ra, thì tiên sinh tính cứ tức đến phát điên lên được hay không?”. Và hắn vồn vã mời Khải đến bên khay đèn: “... Hãy làm mấy phát đã! Anh em lâu không gặp nhau, đi đâu mà vội... Câu chuyện tiền nong, rồi đâu tự khắc có đấy!”. Nhưng, luôn mấy tiếng đồng hồ, hắn chỉ nói những câu phiếm và chỉ kể lể những cái không mảy may quan thiết chi đến Khải. Chàng đâm nóng ruột: “Thế nào, ông anh có lấy giúp đệ quyển tiểu thuyết này chăng?”. Hắn vẫn chờ câu hỏi ấy, tuy cứ làm ra dáng uể oải cầm lấy tập bản thảo giở xem (cứ theo thời giá tám hào một trang, quyển tiểu thuyết của Khải bán rẻ cũng phải một trăm hai mươi đồng). Hắn thở dài: “Chẳng mấy khi đại huynh hỏi đến, - Ồ, Khải bán chứ có vay đâu! - đệ mà không có đưa lại huynh tiêu thì thực rất lấy làm ân hận; khốn nỗi, chính đệ cũng đang quẫn bách hết sức...”. Hắn ngừng lại để hút, và khi đã nhận rõ vẻ lo lắng, thất vọng của Khải, hắn mới ngọt ngào bổ nhân nghĩa:


- Thôi, chẳng mua bán gì cả, đệ cố lo sáu chục đưa đại huynh tiêu; còn hơn thiệt chừng nào thì kể như đại huynh giúp đệ, được chăng?


- Được. - Khải hổ thẹn như một gái đĩ chưa quen nghề khi phải nghe những câu mặc cả sống sượng - Cho xin một mẩu giấy trắng để tôi viết tờ nhượng bản quyền.


Nhận tiền xong, Khải lập tức đứng dậy ra về. Chàng nghĩ: ấy là tiếc cái thằng người nào cũng biết rằng một ngày kia nó phải chết, và khi từ giã cõi đời thì vua Ngô ba mươi sáu tàn vàng, thác xuống âm phủ chẳng mang được gì, mà nó còn tham lam tàn nhẫn được đến thế đấy! Giá nó có thể sống mãi mãi thì không biết sẽ tệ như thế nào! Và chàng cảm thấy một nỗi buồn tuyệt vọng, trước cái cảnh loài người, để mưu sự sống riêng cho mình, cứ phải ác hại lẫn nhau.


... Ngày cuối năm hơi vẩn sương; vòm trời nặng như cái vung chì úp xuống cảnh vật. Khải nhìn dòng sông Bồ Đề chảy mông mênh và lạnh lùng, như một mối vô tâm thiên vạn cổ...


Hết dải cầu - mà một lần, Khải đã nghe bọn lái thoi gọi rất đúng là cái giàn mướp - ô tô vào một phố đông đúc, có những cửa hàng sặc sỡ, và những người đi sắm tết tưng bừng quá một đám hội. Sau cùng, xe bon bon trên đường thiên lý, hai bên là những mảnh ruộng đã gặt mở liên tiếp đến tận chân trời màu bạc. Từng lũy tre nổi lác đác trên cái phẳng lặng của mặt đồng, với những ngọn cong vút như những tia nước xanh. Đó là những làng mạc yên tĩnh đến gần như ngủ say trong khuôn sáo những tục lệ không bao giờ thay đổi. Cái thế giới thôn quê chất phác, nhũn nhặn và quen thuộc quá! Ngay vòm trời vẩn mây đè nặng bên trên và ngọn gió bấc lộng qua khoảng trống cũng có vẻ giản dị và bình thản. Chẳng bù với cái thế giới phồn hoa! Khải có những ý so sánh hay hay về cái quan niệm sống và hạnh phúc một đằng của người nông phu, tâm hồn đã hòa nhịp theo sự vần chuyển đều đều của thời tiết, với một đằng của người thành thị, lúc nào cũng sôi nổi những ham muốn chẳng bao giờ thỏa mãn.


Chiếc xe vẫn vùn vụt trên con đường đá xám, theo cái tốc độ bốn mươi nhăm cây số một giờ. Kim, chừng lạnh, ngồi nép mãi vào bên Khải, và kéo vạt áo pardessus của chàng che ngực. Khải nhìn vợ, nàng mỉm cười, mắt long lanh sáng và má hây hây đỏ...


Một tình thương bỗng tràn ngập cả tâm hồn Khải. Chàng tội nghiệp cho Kim, bởi cái lẽ Kim chỉ là một người đàn bà ít học vấn và hiểu biết. Thực vậy, giá Kim cao hơn chút nữa, nàng sẽ chịu cái nghèo dễ dàng hơn, và nàng sẽ quý sự hy sinh của chàng cho văn chương bao nhiêu. Ấy là chưa nói Kim sẽ an ủi chàng vô cùng, bằng cách thấu rõ tấn kịch nó đương diễn ngấm ngầm trong lòng Khải - trong lương tâm một nhà văn đã gần bốn mươi tuổi mới nhận ra rằng tất cả quan niệm của mình về nhân sinh cũng như về nghệ thuật đều hư ngụy đến hầu thành một tội ác. Bởi không thể tìm được ở Kim một khích lệ tinh thần, Khải càng phàn nàn cho Kim, và coi cuộc nhân duyên của hai người như một điều sai lầm đau đớn. Nhưng dù thế nữa, Khải vẫn không có quyền cứ vô tâm với những cái nó tạo nên hạnh phúc của một người mà chàng đã lấy làm vợ. Lại còn bốn thằng con và một ông bố già nữa. Chẳng nhẽ chàng hy sinh cả bấy nhiêu cuộc đời cho cái mà chàng lấy làm lẽ sống của chàng? “Ta, trước hết, phải mưu sự no ấm và sự yên ổn cho gia đình ta đã!” - Bằng cách nào? Khải kiểm duyệt các phương kế mà, quanh mình chàng, người ta vẫn dùng để đi tới sự đắc thắng trong xã hội; và chàng tự thú rằng hết thảy cùng không hợp với cuộc đổi đời lớn lao đương bắt đầu trong tư tưởng của chàng. Vấp phải vấn đề khó khăn, chàng loay hoay tìm mãi mà không ra một cách giải quyết nào ổn thỏa. Tinh thần và xác thịt chàng, đồng thời bị tiếng động cơ đều đều ru dần vào giấc ngủ: đêm qua, chàng đã chẳng thức suốt sáng để dự cuộc tiễn hành của mấy ông bạn đồng nghiệp, toàn thuộc cái hạng “giang hồ khí cốt” đấy ư? Họ đã xa chàng biết chừng nào! Cả cái cách sống bên ngoài khuôn phép “của phường dung tục” mà bọn nghệ sĩ vẫn tán dương là đẹp đẽ, là cần cho sự sáng tạo dồi dào mãnh liệt, Khải cũng chỉ còn hơi mang máng như nó đã thuộc về một kiếp nào mù mịt quá.


Xe đến Việt Trì và đỗ lại trước một dãy hàng quà. Khải bị Kim đánh thức: Chàng vừa chớp chớp hai mi mắt vừa mỉm cười, như để tạ lỗi: “Mệt quá, ngủ dìu đi một tí mà đã nửa đường rồi!”. Câu chàng nói bị át đi bởi muôn tiếng ồn ào của người lên kẻ xuống và của những hàng rong chèo kéo khách mua. Khải thấy đói, liền rủ vợ ăn mỗi người một bát phở gà; chàng uống thêm một chai bia nhỏ nữa; rồi, khi xe chạy, chàng lại thiu thiu ngủ...


Lúc chàng tỉnh giấc lần thứ hai thì xe đã sắp qua cầu sắt phủ Đoan Hùng, bắc ngang trên dòng Lô Giang, nước réo ầm ầm như tiếng xay thóc. Một kỷ niệm làm vẩn tâm hồn Khải: Mười năm về trước, những chuyến xe ngược xuôi còn phải dùng phà khảm từ bờ bên này sang bờ bên kia. Và, một lần chàng đã cùng mấy bạn... đứng trên mui phà, thề với nhau những việc lấp biển vá trời. Ấy là một chiều cuối đông, trời cũng vẫn mây như chiều nay, và gió bấc cũng chạy lướt từng cơn trên ngàn lau hoa trắng; lưng chừng không, một con vạc lẻ bỏ rơi những tiếng kêu buồn... Mấy bạn... của chàng, hiện giờ, đã hoặc chết rũ trong một xó tối tăm nào, hoặc đương từ... xa trông vời về cố quận... Khải buông một tiếng thở dài; đoạn chàng cất tiếng ngâm một bài thơ cổ chàng đã chuyển dịch sang quốc âm, mặc dầu tiếng ngâm của chàng bị tiếng động cơ lấn át:


Thuở loạn, xuôi đông thế...


Ngày yên, ngược một mình!


Quê người, đầu điểm bạc:


Đất cũ, dáng non xanh...


(Thế loạn, đồng nam khứ;


Thời thanh, độc bắc hoàn!


Tha hương, sinh bạch phát;


Cựu quốc kiến thanh sơn).


Bài thơ mới gợi cảm làm sao! Nó tỉnh thức trong đáy lòng chàng biết bao nhiêu là u hận, bao nhiêu mối tiếc thương đối với những gương mặt chẳng bao giờ lại thấy, và những ngày mà chàng còn có những bồng bột, những say sưa nó làm cho ta chỉ thấy đời có một ý nghĩa trong sạch và giản dị. Mười năm đã qua đi. Thời gian cứ như nước chảy dưới chân cầu, chẳng hề gián đoạn. Chàng đã ba mươi nhăm tuổi; chàng đã mất nhiều, nếu chưa nói là mất cả - trừ mối hoài nghi đối với những cái nó đã làm căn cứ cho hết thảy ý nghĩ, tình cảm và sự nghiệp của chàng. Khải chua chát: “... Sự nghiệp của một kẻ viết văn kiếm gạo!... Một kẻ đem tên đánh đĩ với đời, đầu đường cuối phố kẻ cười người chê, đúng như Tản Đà đã nói...”. Và, bùi ngùi, Khải nhìn qua cửa xe: Sông núi lúc năm tàn nhuộm một màu ảm đạm. Một mùi cỏ ướt theo gió thấm vào giác quan chàng. Hai bên vệ đường, những dải rừng xưa vẫn dựng đứng cái vẻ xác xơ đưới những từng mây vẩn. Đó đây, một vài đốm lửa nương cố ghi yếu ớt những dấu sinh hoạt lẻ loi... Bóng tối và mây đen càng lâu càng dày đặc. Sự hòa hợp dịu dàng của mọi hình sắc gieo vào hồn Khải một bâng khuâng kỳ lạ.


Khải đến nhà vào lúc ánh đèn còn sáng: Ông cụ lang và bốn thằng nhỏ chưa đi nằm. Vừa nghe tiếng Kim gọi, lũ trẻ nhao nhao chạy ra đón; có đứa không kịp xỏ chân vào giày, guốc; cả con chó lài, vẫn nhớ chủ, cũng chồm lên, muốn rứt phăng cả xích sắt.


Ông cụ lang hỏi bằng một giọng vui vẻ:


- Các con đã lên đấy à? Sao chậm thế, làm ông và các cháu mong mãi, nhất là thằng cu Tí, nó nhắc cậu mợ luôn miệng...


Kim ôm thằng út lên lòng và hôn hít túi bụi:


- Vợ chồng con cũng nóng ruột quá; nhưng mãi hôm qua nhà con mới bán được sách cho người ta!


Khải kéo cái điếu bát để làm hơi thuốc lào, mà chàng đã phải nhịn suốt từ sau lúc rời bỏ Việt Trì. Chàng hỏi bố:


- Ông và các cháu ăn cơm rồi à?


- Ối chào, các anh ấy kêu đói ầm nhà cửa ngay từ chập tối kia! Để bảo thằng nhỏ nó nấu cơm hai vợ chồng ăn...


- Thôi chúng con ăn tạm phở cũng được. Nấu cơm bây giờ cách rách lắm!


- Thế thì chi bằng có bánh chưng nóng đấy, bóc vài chiếc ra mà ăn.


- Con sợ chưa cúng?


- Ông đã đặt lên thắp hương ở bàn thờ Phật và ở bàn thờ ông Vải rồi.


- Nếu vậy tốt quá! Con đương thèm bánh chưng...


Lũ trẻ bâu ngay vào bố:


- Phải đấy, cậu cho chúng con với nhé, cậu nhé!


- Chúng bay vừa cơm rồi! Mai hãy ăn bánh; no bụng quá, đêm lại làm rầy người ta!


Cu Tí ngoẹo đầu:


- Không, bé ăn bây giờ kia... nào... nào!


- Thằng Diệp! Cậu bảo thì nghe ngay chứ! Chóng mẹ cho kẹo và dép mới đây này... Kim vừa nói vừa lấy các thứ ở hòm ra và chia cho lũ trẻ mỗi đứa một phần đều nhau. Một gói kẹo dừa và một đôi sandale.


Thằng lớn tuổi nhất phụng phịu:


- Có sandale thế mà mẹ không mua quần áo lính thủy!...


Một nét buồn thoáng qua trên mặt Kim:


- Các con mặc tạm áo tết năm ngoái vậy! Cậu ốm, làm gì ra tiền...


Cu Tí nói chõ:


- Độ ở Hà Nội... cậu ốm, em cũng biết! Lúc nào cậu khỏi, cậu mới mua quần áo tây cho được chứ!... cả súng này... cả xe đạp này... cả kèn nữa kia!...


- Thật! Em bé nói phải. Các anh thì thua nó tuốt... Cụ lang gật gù khen cháu út đoạn quay lại phía Kim: Thầy xem ý thằng cu con nó lý sự đáo để: nói đâu ra đấy! Giời chứng sống thì phải biết!...


Cụ còn thuật lại vô số những cái hóm hỉnh của thằng Diệp. Khải để vợ nghe chuyện bố, chàng vặn to cái ngọn đèn Hoa Kỳ, dùng để ăn thuốc lào, cho thêm sáng, và cầm cây đèn búp măng sang các gian bên soi khắp một lượt.


Nếp nhà của cụ lang Xuân Hòa đã cũ lắm, gồm có ba gian hai chái rộng thênh thang. Luôn mấy năm sống vắng vẻ một mình, cụ lang nhất định cứ không cho ai thuê bớt, sợ nếu các cháu cụ lên, chúng sẽ không có chỗ chơi đùa ăn ngủ. Nếp nhà này đối với Khải, là cả một kho kỷ niệm não nùng, chàng đã sống ở đấy những ngày đen tối nhất; và cũng ở đây, mẹ chàng đã thở hơi thở cuối cùng, người mẹ đã để thương để nhớ cho lòng chàng không bao giờ nguôi được.


Khải qua gian giữa thờ Phật, tới gian bên là chỗ thờ mẹ chàng rồi vào gian trái mà trước kia, chàng đã dùng làm buồng ngủ.


Dưới ánh đèn dầu tây, các chi tiết hiện dần lên với một vẻ hoang tàn thảm đạm: bộ salon bằng gỗ tạp nhuộm, kê trước bàn thờ Phật, cái bàn viết què chân và đã mất một ô kéo, đứng tựa lưng vào vách gần ngay đấy, vài cái giường giát, một đôi tràng kỷ mối xông, dăm ba cái hòm khóa chuông bục đáy, vài cái tủ bỏ lổng chổng, tất cả đều mốc thếch dấu phù sa của trận lụt hồi tháng bảy (Tuyên Quang năm nào cũng phải mấy ngày ngâm nước). Bốn phía, vách tam hợp đã lở nhiều chỗ, để trơ lượt nan nứa, và mở lối cho gió lạnh vào trong nhà. Ngẩng nhìn mái tranh, Khải thấy nội các rui mè đều bị khói ăn đen kịt, và đầy những mạng nhện rủ buông như thao nón.


Khải lại trước bàn thờ mẹ và châm mấy nén hương cắm vào cái bát sứ vẽ rồng. Chàng nhận thấy bức thủy họa, do tay chàng vẽ để ghi cái hình ảnh mẹ chàng khi bà cụ vừa tắt thở, đã phai màu nhiều quá. Bộ ngũ sự, bằng gỗ sơn son, cũng đã khuyết mấy thứ - chắc hẳn bị nước cuốn đi. Khải bùi ngùi muốn khóc, chàng cảm tưởng như bao nhiêu dấu vết của dĩ vãng đều vây cả lấy chàng mà bảo: “Không, anh đừng bỏ chúng tôi nữa! Vắng anh ngần ấy năm, cái tình trạng của chúng tôi ra thế nào, anh thử xem?”. Thực chưa bao giờ Khải ái ngại cha mẹ, vợ con chàng bằng bấy giờ, lại cũng chưa bao giờ cái vấn đề mưu toan sự no ấm và sự yên ổn cho gia đình chàng thúc giục lòng chàng đến thế! Cùng một lúc, cả cuộc đời chàng hiện ra, ngửa nghiêng và lỡ dở một cách vô cùng tuyệt vọng.


“Cậu ơi, sang ông bảo gì ấy...” - Tiếng gọi của đàn trẻ càng khiến tim chàng như bị vò xé. Họng chàng thắt lại. Một cảm giác cay cay xông lên mắt chàng. Khải lộn về chỗ ngồi. Nhưng, từ lúc lại tiếp chuyện cha, Khải không dám nhìn thẳng vào gương mặt mà những ngấn răn reo đều như bảo ngầm chàng: “Hãy thiết tha với những cái gì ngươi không thấy được hai lần”.


(còn tiếp)


Nguồn: Lan Khai Tuyển tập. Trần Mạnh Tiến sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học sắp xuất bản


www.trieuxuan.info

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cõi mê - Triệu Xuân 25.03.2020
Giấy trắng - Triệu Xuân 25.03.2020
Anh em nhà Karamazov - FYODOR Mikhailovich Dostoyevsky 16.03.2020
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 15.03.2020
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 15.03.2020
Đêm Sài Gòn không ngủ - Trầm Hương 10.03.2020
Trong cơn lốc xoáy - Trầm Hương 10.03.2020
Ông cố vấn - Hữu Mai 26.02.2020
Đẻ sách - Đỗ Quyên 15.02.2020
Hòn đất - Anh Đức 13.02.2020
xem thêm »