tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Tiểu thuyết
25.09.2009
Trương Kháng Kháng
Ái tình họa lang

Chương 5


Bên mâm cơm, A Nê cứ xê dịch dần ghế của mình về phía Chu Do cho đến khi sát hẳn mới cầm đũa. ăn một miếng, cô bé dừng lại đột nhiên nói phứa với Chu Do:


Chú Tiểu Chu, nhà cháu nhiều phòng như thế này. Ba người ở lãng phí quá. Khi nào chú chuyển đến nhà cháu ở cũng được. Nhà con một chán chết. Cháu luôn luôn mong có một đứa em trai để tiện làm chị. Bây giờ cháu không muốn có em trai nữa. Cháu muốn có một anh trai. Chú Tiểu Chu, chú có chịu làm anh cháu không? Hôm ở bên bờ sông, lần đầu tiên gặp cháu, chú gọi cháu là em nhỏ, đúng không?


Vậy thì… Đương nhiên được. Chú chỉ có anh trai chị gái, không có em gái.


Chu Do không muốn làm A Nê thất vọng. Anh thầm nghĩ cô bé này tốt quá. Ngay đến câu xưng hô lần đầu của mình, cũng được cô bé dùng làm lý lẽ.


Hay quá, vậy từ nay trở đi cháu gọi chú là anh. Cháu không chơi với bố cháu mẹ cháu nữa, cứ chơi với anh trai. Chúng ta cùng vẽ tranh. Các bạn trong nhóm mỹ thuật chắc chắn hâm mộ cháu chết mất…


Chu Do nhìn A Nê. Anh rất thích vẻ đẹp thiếu nữ  trong sáng thuần khiết của A Nê. A Nê quá giống Thuỷ Hồng. A Nê là thời thiếu nữ của Thuỷ Hồng. Thuỷ Hồng là thế giới tương lai của A Nê. Anh nẩy sinh ảo giác, cứ ngỡ như đang nói chuyện với Thuỷ Hồng. Giá như Thuỷ Hồng cũng giống A Nê, đem chữ yêu trong ngôn ngữ mắt, trực tiếp nói ra bằng ngôn ngữ có âm thanh tròn vành rõ nghĩa, thì anh là người hạnh phúc nhất dưới gầm trời.


Thấy Chu Do im lặng, anh Ngô nói:


Tiểu Chu, đúng là anh có thể suy nghĩ ý kiến của A Nê. Nền kinh tế của Tô Châu đang cất cánh, nhất định hoạ sĩ có nhiều đất dụng võ. Nếu anh chuyển đến Tô  Châu, tất cả ở đây không khó khăn gì. Chúng tôi sắp sửa dọn về nhà lớn của bố mẹ,  đúng là không biết sử dụng ngôi nhà này như thế nào. Nếu anh ở Tô Châu, sẽ có thể  chịu khó dạy bảo A Nê vẽ tranh. A Nê cần được anh hướng dẫn. Nếu anh làm thầy giáo của cháu, khi lớn khôn, chắc chắn cháu sẽ trở thành một nữ hoạ sĩ có tên tuổi. Những người làm bố mẹ như chúng tôi rất lo tiền đồ của con gái. Có đúng thế không Thuỷ Hồng?


Phải, được như thế còn gì bằng…


Thuỷ Hồng trả lời, vội vàng quay mặt sang  phía A Nê.


Anh trai, vậy thì anh đừng đi nữa - A Nê lại quay mặt sang Chu Do.


Cho Do cười đáp:


Lần này e không được. Về Bắc Kinh vẫn còn rất nhiều việc phải làm. Để tôi về suy nghĩ thêm…. Nhưng, lực lượng mỹ thuật của Tô Châu yếu quá, ít có dịp giao lưu. Tôi nghĩ A Nê hiện đang học lớp tám,  qua một hai năm nữa, A Nê sẽ có thể thi vào trường trung học phụ thuộc Học viện Mỹ thuật Bắc Kinh. A Nê, nếu em có thể cố gắng thi đậu trường trung học phụ thuộc, đến Bắc Kinh, anh sẽ chịu trách nhiệm dạy em, chắc chắn tương lai sẽ thi đậu Học viện Mỹ thuật…


ý kiến này hay đấy - Anh Ngô vui vẻ hỏi A Nê -  Con muốn đi Bắc Kinh không A Nê?


Muốn! - A Nê sung sướng nhảy quớ lên - Thật ra, trước kia con muốn thi vào trường trung học phụ thuộc Học viện Mỹ thuật Triết Giang. Bây giờ con thay đổi ý định. Con muốn đi Bắc Kinh. Thành Tô Châu nhỏ tí xíu, ngay đến một hành lang, một nhà trưng bày tranh ảnh ra hồn cũng không có. Nếu con đi Bắc Kinh sẽ có thể ngày ngày cùng anh  trai vẽ tranh!


Thuỷ Hồng khẽ nói:


Vậy thì con phải chịu khó khổ luyện. Trường trung học phụ thuộc Học viện Mỹ thuật Trung ương đâu có phải dễ dàng thi đậu.


Có anh trai, con nhất định sẽ thi đỗ. - A Nê hất mạnh mái tóc đen óng ả  mềm mại của mình.


ăn xong cơm trưa, A Nê ôm tất cả bản vẽ nháp của mình đến cho Chu Do xem. Trong đó có  tranh phác hoạ, tranh thuốc  nước, còn có cả mấy bức sáng tác tự do. Chu Do bảo A Nê, tranh phác hoạ của em vẽ sai, nhưng tranh thuốc nước em có cảm giác rất tốt, rất giầu sức tưởng tượng, khác với mọi người. Chu Do coi trọng nhất là linh khí và cá tính trong hội hoạ. A Nê vẽ rất nhiều, đúng là một cô bé mê tranh. Nhưng tiếc rằng thầy giáo hướng dẫn của em trình độ thấp. Nếu cứ để thày giáo này hướng dẫn tiếp, e rằng A Nê rất khó thi vào trường học Bắc Kinh.


Chu Do chia tranh của A Nê thành ba loại. Loại thứ nhất anh đề nghị cô bé đốt cho bằng hết. Đó đều là những tác phẩm phỏng chế sao chép can vẽ lại, mà can vẽ lại, cũng không phải là tác phẩm của hoạ sĩ chuyên nghiệp, mà là tranh thông thường  của hoạ sĩ hạng bét. Loại thứ hai là tranh bài tập phác hoạ. Anh nói cho cô bé những nhược điểm và phương pháp của từng bức tranh. Anh bảo cô bé trong tương lai, mặc dù chọn ngành hội hoạ, hay ngành mỹ thuật công nghiệp, phác hoạ đều là tri thức và kỹ năng cơ bản của hoạ sĩ. Cho dù là Pi cát xô bậc thầy của phái hiện đại, thì năng lực tạo hình phác hoạ thời kỳ đầu của ông  cũng không kém  những hoạ sĩ của chủ nghĩa tả thực trong phái học viện hiện nay. Luyện tri thức và kỹ năng cơ bản rất khô khan, tiến bộ cũng chậm. Nhưng đây là con đường phải qua để đi vào nghệ thuật hội hoạ, phải học từ trong đó để biết phương pháp quan sát sự vật cả khối. Giống như em bé học đàn pi a nô, nhất định phải luyện đi luyện lại nhiều lần các bài tập, có bài thậm chí phải đánh hàng trăm hàng ngàn lần. Chu Do bảo A Nê, các nghệ sĩ ưu tú hầu như không có tuổi thơ và thời thiếu niên vui vẻ. Khi anh ở lứa tuổi  như A Nê, thầy giáo bắt anh ngày nào cũng phải vẽ phác hoạ tượng thạch cao, vẽ không tốt  còn phải vẽ lại. Có lần cực chẳng đã anh đã đập tượng thạch cao. Loại thứ ba là tranh sáng tác tự do của A Nê.  Đây là con đường chủ yếu nâng cao hứng thú hội hoạ, bồi dưỡng cảm giác nghệ thuật và năng lực sáng tạo. Nhất định phải dùng hình thức hội hoạ để giữ lại những cảm giác đặc biệt nhìn thấy, cảm thấy, nghĩ thấy, mơ thấy, nửa mơ nửa nghĩ thấy, để vẽ những cái người khác không phát hiện, không cảm giác thấy.


A Nê, em chớ để mất cảm giác và tưởng tượng của mình -  Chu Do một lần nữa căn dặn cô bé -  Học vẽ tranh không khó, nhưng làm một hoạ sĩ ưu tú không dễ dàng, thường là người có cảm giác tốt, nhưng lại thiếu tri thức và kỹ năng cơ bản, mà kỹ xảo tốt lại thiếu sức tưởng tượng. A Nê, liệu em có chịu nổi gian khổ này không?


Chịu được – A Nê trả lời dứt khoát.


Vậy thì tốt. Bây giờ em luyện tập phác hoạ đi – Chu Do nói và tiện tay cầm luôn pho tượng con ngựa lớn Đường Tam Tài đặt trước mặt A Nê -  Em vẽ cái này trước, anh vừa xem em vẽ, vừa dạy em.


A Nê bưng bảng vẽ bắt đầu vẽ phác hoạ theo theo trình tự và phương pháp quan sát Chu Do giảng. ở bên A Nê, Chu Do can lại tranh chân dung hôm qua anh vẽ cho A Nê. Vừa can anh vừa xem. Có lúc dừng bút nói với cô bé mấy câu, sửa mấy nét. Khi A Nê bắt đầu bôi sáng tối, anh dịch về phía sau cô bé, giảng cho cô lợi dụng sáng tối, hư thực, đen trắng xám như thế nào để tạo hình. Anh uấn nắn thói quen quan sát trước kia của cô bé, dạy cô đặt điểm nhìn vào đúng đầu ngựa là điểm gần nhất của  con ngựa lớn, sau đó dùng ánh sáng còn lại của góc mắt để gọt dũa điểm giữa, điểm xa và bên rìa ngựa lớn. Anh bảo cô bé phải dùng phương pháp này mới vẽ ra được mối quan hệ sáng tối, hư thực của vật tĩnh, vẽ ngựa lớn thành những mảng lồi lõm. A Nê thông minh quan sát một lúc theo phương pháp này, đã hiểu ngay nội dung sâu xa huyền diệu trong đó. A Nê vui sướng reo lên:


-  Em biết điểm yếu của mình rồi. Thì ra các chỗ cục bộ em đều vẽ thực, vẽ rõ như nhau, cái ở phía sau em cho nhảy lên phía trước. Cho nên không có cảm giác lập thể. Anh trai,  anh đúng là một thầy giáo giỏi. Em học vẽ tranh ba năm, vẫn không hiểu nhiều bằng một buổi chiều nay.


Vừa nói A Nê vừa thơm lên má Chu Do một cái. Bàn tay nhỏ nhắn bị bút chì nhuộm đen bôi mấy vết đen lên cổ Chu Do.


Anh Ngô ngồi trên ghế xô pha nhìn đôi vừa là anh em vừa là thày trò, cảm thấy hết sức hài lòng. Anh hy vọng tình bạn giữa A Nê và Chu Do được giữ gìn và phát triển lâu dài. A Nê tìm được cho mình một thầy giáo miễn phí từ bên ngoài đến, xem ra cô bé đúng là một đứa trẻ may mắn. Khi chưa được hơn một tuổi, Thuỷ Hồng lên Thượng Hải học đại học, đằng đẵng bốn năm liền, anh Ngô đã tự tay nuôi dạy con khôn lớn. Anh rất muốn dùng tâm huyết nửa đời về cuối của mình vun xới tưới tắm cho cây giống nhỏ bé, cho đến khi nuôi con gái thành một cây to sai cành trĩu quả.


Liệu có nên giữ Chu Do ở lại thêm mấy ngày? Anh Ngô có vẻ còn băn khoăn. Anh định hỏi Thuỷ Hồng. Khi nào Chu Do vẽ xong tranh chân dung cho vợ, anh phải nhờ người đi mua trước cho Chu Do một vé tàu về Bắc Kinh. Đương nhiên việc này phải để Thuỷ Hồng quyết định. Nhưng quay đầu lại, anh không thấy Thuỷ Hồng trong phòng khách., nhìn vào nhà ăn và phòng sách cũng không có. Nhớ lúc ăn cơm trưa vừa rồi, thấy vợ có vẻ như mất hồn, chưa biết chừng Thuỷ Hồng trong người khó chịu đã lên gác nghỉ. Anh Ngô không quen ngủ trưa, liền đến trước mặt Chu Do xem anh vẽ. Bức tranh can phóng to của A Nê  đã sơ bộ hình thành dưới ngòi bút của Chu Do. Không dấu nổi niềm vui, Chu Do nói với anh Ngô, hai hôm nay đúng là anh cảm thấy mình đã phát huy tới mức vượt quá trình độ . ở bên cạnh, A Nê nói chen vào, cô bé sẽ giữ lại bức tranh lớn, còn bức tranh nhỏ để anh trai đem đi, treo ở trong phòng ở để ngày nào anh trai  cũng nhìn thấy em gái. Anh Ngô hỏi Chu Do, A Nê vẽ thế nào, Chu Do bảo một buổi chiều tiến bộ vượt bậc, đúng cách đúng lối sẽ ổn cả.


Lúc sắp tối Thuỷ Hồng mới xuống gác. Chị bảo hơi nhức đầu, chợp mắt một lúc đã đỡ nhiều.Anh Ngô bảo mình phải đi chợ mua thức ăn , để mời Chu Do ăn bữa tối. Thuỷ Hồng bảo, chị không muốn nấu cơm, anh hãy gọi điện thoại cho A Tú, bảo A Tú làm hai món đặc sản Tô Châu “thịt sóc cá hồi” và “cá trèn om vàng”, xào thêm một bát mã thầy đậu phụ thịt thái nhỏ và một đĩa đậu tằm xào suông đem đến để Chu Do nếm thử. Khi ăn cơm tối, anh Ngô tiếp Chu Do uống rượu nếp cái, một loại rượu nổi tiếng Giang Tô có tên là “rượu vò kín”, độ vừa phải, anh Ngô đích thân đi hâm nóng, mùi rượu càng thơm ngon thanh khiết. A Nê đòi uống. Vừa uống mấy hớp mặt đã đỏ ửng. Còn Thuỷ Hồng viện lý do người khó chịu, một giọt cũng không uống. Chu Do thầm nghĩ, em không uống thì anh uống, cứ uống say bét nhè, gục đầu xuống là ngủ, để khỏi mất ngủ, tự tìm buồn chán. Nếu rượu vào có nói gì sơ xuất, cũng đành xin lỗi. Anh không nhìn Thuỷ Hồng, cái chén to tướng, anh cứ uống tì tì hết chén này đến chén khác. Anh Ngô thấy thế cũng trợn mắt há mồm, cứ nói rối rít, suy cho cùng, người phương bắc hào sảng, tửu lượng hơn người. So với tửu lượng của ChuDo, đàn ông Tô Châu như tôi chỉ như người Quảng Đông uống trà ca ra te, thẹn quá, thẹn quá!  Chu Do uống một lèo hết cả chai, mặt vẫn tỉnh khô. A Nê vỗ tay reo to, lấy chai nữa, lấy chai nữa. để bố và anh trai lập kỷ lục ghi nét. Nhưng Thuỷ Hồng ấn luôn chai rượu, nói nhỏ nhẹ, Chu Do là người cẩn thận, chỉ sợ chủ nhà không vui, không cần mời ép uống rượu. Nhưng em lo anh ấy uống nhiều, ngày mai vẽ hỏng bức tranh của em, em biết tính sổ với ai? Anh Ngô cười bảo cũng phải, vẫn nên để Tiểu Chu đi nghỉ sớm một chút. Anh coi như cũng đã liều mạng tiếp quân tử, kỳ thực tiếp không nổi. Cả nhà ăn cơm và thức ăn, khen ông chủ Lý, bố A Tú tay nghề cao, giỏi nấu nướng, lại nói chuyện phiếm một lúc mới đi ngủ.


Xét cho cùng Chu Do uống rượu khiếp quá, đêm hôm trước lại mất ngủ, vừa ngả người xuống giường một lát đã ngủ liền, cả đêm không mằm mơ. Anh vốn muốn mượn men rượu, để  có thể trút xả đôi điều, nhưng bị Thuỷ Hồng đi guốc trong bụng, nên đành phải dốc bầu tâm sự vào trong lời nói mê.


Sáng hôm sau anh Ngô ra khỏi nhà đi làm đúng giờ. A Nê cũng hớn hở đến lớp.


Khi tiếng cửa sắt loảng xoảng vang lên, lại nhốt Chu Do và Thuỷ Hồng trong ngôi nhà gác nhỏ yên tĩnh, ngọn lửa trong trái tim Chu Do đã bùng cháy trở lại. Anh cứ ngắm Thuỷ Hồng trước bảng vẽ, mong chị nói với mình điều gì, hoặc, chiếc khăn sợi trắng trên cổ chị lại khẽ rơi tụt xuống như hôm qua, để lộ nước da trắng mịn màng dưới cổ và đường khe vú thần bí  lõm sâu kéo dài đến trước ngực.


Nhưng Thuỷ Hồng ngồi ngay ngắn trước cửa sổ vẫn im lặng. ánh mắt của chị không nóng cũng không lạnh, dịu dàng mà hữu hảo, còn hơi tỏ vẻ yêu thương của bậc lớn tuổi. Mắt tĩnh như nước lặng, sóng phẳng như gương, hình như tất cả đều đã chấm dứt, không cần giải thích, cũng không chờ hỏi. Thi thoảng trong mắt có tia chớp, giống như sao băng trượt qua mặt biển tối như mực, đang nói ra một ẩn ngữ, một câu đố…. Chu Do bắt đầu nghi ngờ cảm giác hôm qua của mình. Lẽ nào ngôn ngữ mắt lại sai lệch lớn như vậy? Lẽ nào đàn ông phương bắc không hiểu ngôn ngữ mắt của đàn bà Giang Nam? Có lẽ trên thế giới vẫn chưa có một bộ từ điển ngôn ngữ mắt thông dụng? Càng không thể nói đến chuyện xoá nạn mù chữ cho những đàn ông si tình đàn bà hờn oán. Trong lòng Chu Do buồn bã. Anh biết Thuỷ Hồng đã đóng chặt cánh cửa sắt trái tim. Già nửa buổi sáng, Chu Do không lúc nào nhìn thấy  hai vệt ửng đỏ khiến trái tim anh đập gấp quá như hôm qua. Anh cặm cụi vẽ tranh, cảm thấy mình  vẽ xong bức tranh trong trạng thái đau khổ gần như thất tình. Tình cảm trên mặt tranh và màu sắc dưới ngòi bút của anh không chỗ nào là không tiết lộ bí mật từ đáy lòng. Đây là bức tranh anh vẽ thời gian dài nhất và cũng gian nan nhất trong mấy ngày gần đây. Mầu sơn bị bôi đậm bôi dày từng lớp từng lớp, ngâm thấu tình yêu nồng nàn, cháy bỏng trong trái tim anh. Nếu treo trong buồng ngủ của Thuỷ Hồng, mỗi loại màu sắc đều truyền đến chị nỗi khát vọng sâu sắc của anh, chúng sẽ không bao giờ phai màu trong cuộc đời Thuỷ Hồng. Khi bức tranh dần dần tiến gần đến kết thúc, anh cảm thấy đúng là không muốn tặng nó cho Thuỷ Hồng. Anh phải đem theo, để ngày nào chị cũng ở bên anh. Có lẽ thế nào cũng có ngày chị sẽ từ trong tranh bước ra thật.


Gần trưa, Chu Do vẽ xong. Lui lại mấy bước, anh thưởng thức từ xa Thuỷ Hồng trong tranh.


Thuỷ Hồng thở phào một cách nhẹ nhõm. Nơm nớp lo âu, chị đứng lên, bước đến gần bức tranh. Chị cảm thấy mình như  trải  qua một thế kỷ dài dằng dặc, vừa được sinh trở lại trên bức tranh --  Trái tim chị run rẩy, mắt mờ nhoà, y như bị một thứ gì đánh mạnh một cái, càng như bị một cái hôn nóng bỏng. Người trong tranh đúng là chị ư? Tại sao trên má lại có vệt ửng hồng nhàn nhạt? Tại sao trong mắt lại âu yếm, dạt dào tình thương thế kia? Đôi môi hơi hé mở, hình như đang nói điều gì. Lông mày khe khẽ rướn lên, hình như đã nhận lời gì. Những từ ngữ vô thanh trên mặt tranh, giống như một bản bị vong lục ký đầy chữ yêu, khiến chị không thể phản cung chỗ nào, không có nơi đâu để trốn. Chiếc bút vẽ thần kỳ đã dẫn dắt linh hồn chị, đã dùng màu sắc và đường nét trói chị lại, sau đó giữ lại trong bàn tay anh. Chu Do đúng là một con ma nghệ thuật. Anh chỉ dùng màu sắc tóm bắt chị, chị lại không có chỗ nào ẩn nấp trong mây trong mù trong biển trong sóng. Giờ phút này Thuỷ Hồng thật không biết mình đứng trước cửa thiên đường, hay là bên bờ vực thẳm. Chị rất muốn nhắm mắt lại, gục lên bộ ngực nở nang của Chu Do, để mặc anh đưa chị đến nơi chân trời góc biển, cho dù nơi đó là tận cùng của trái đất…


Nhưng chị không thể. Thuỷ Hồng giật mình, mở to cặp mắt ướt. Chị cảm thấy từng chuỗi từng chuỗi khoá sắt trên thân mình và những vật ngoài thân đúng là quá ư nặng nề. Chị vẫn không thể bất chấp tất cả xông phứa đi như những người đàn bà hôn nhân đã chết. Đêm qua chị đã mở cống xả ngọn lũ dồn ứ hai ngày trước. Mà nước lũ lại bùng nổ sáng nay cũng vừa rút . Chị vẫn còn ngăn chặn được nó bằng con đê lý trí. Đê chị không vỡ được. Bởi vì chị không có lý do để vỡ đê. Cho dù vì thế mà chị mất Chu Do, cho dù vì thế mà chị sẽ hối hận, chị cũng đành.


Anh vẽ đẹp quá…..- Thuỷ Hồng cười nhạt nói --  So với bản thân tôi… càng có hồn, cũng giầu nội hàm hơn. Thật đấy, tôi không biết nói thế nào hơn. Hình như đó không phải tôi, mà là một người đàn bà trong lý tưởng của anh. Đàn ông thường hay lý tưởng hoá đàn bà. Nhưng xin nói thật, tôi vẫn rất thích anh. Thật sự cảm ơn anh. Chỉ có điều anh quên ký tên anh trên tranh. Đối với tôi điều này quan trọng nhất…


Thuỷ Hồng nói, rồ cầm bút cẩn thận đưa cho Chu Do, nhẹ nhàng bảo, tôi phải đi nấu cơm trưa, rồi quay người đi vào bếp. Cửa buồng bếp đóng đánh sầm một tiếng.


Chu Do đứng thẫn thờ trước bức tranh. Đầu anh trống rỗng.


Anh cảm thấy từ ngày đầu tiên mình gặp con sông nhỏ, cảnh vật  trước mắt luôn luôn chìm trong sắc điệu đẹp mà buồn thê lương. Tuy sau đó, cuối cùng anh đã không hẹn mà gặp được người đẹp, nhưng vẫn không có được tình yêu mình muốn. Có lẽ điều này càng buồn khổ hơn so với những ai chưa từng gặp người đẹp trên thế giới. Anh biết mình không thể đem người đẹp đi, cũng không thể đem đi bức tranh này. Quyền sở hữu bức tranh, giống như bản thân người đẹp, đi đôi với việc sáng tạo ra nó, sinh mạng của nó và người đẹp đã thuộc về anh, chứ không phải bất cứ người nào khác. Chu Do chỉ có thể đem bản thân anh đi. Anh đã vẽ tới mức quá mệt, cũng yêu tới mức quá mệt. Quả thật anh rất khó tiêu tan quá nhiều ấn tượng và cảm nhận mấy hôm nay trong ngôi nhà gác nhỏ này. Anh phải nhanh chóng trở về Bắc Kinh. Nếu anh không khẩn trương dời khỏi nơi này, sớm muộn cũng sẽ chuốc lấy phiền toái. Anh cảm thấy mình đã không thuộc về mình. Chu Do Chu Do, xem ra cậu đã mất tự do, đành phải sống và vẽ tranh theo mệnh trời.


Nét mặt buồn rười rượi, Chu Do lấy máy ảnh, nhằm vào bức tranh Thuỷ Hồng chụp một vài kiểu toàn cảnh và từng phần, ở cự ly gần và cự ly xa. Đang chụp thì anh Ngô về.Anh Ngô bảo đã mua được một vé tầu nằm đi Bắc Kinh ngày mai. Anh Ngô có vẻ ca cẩm giải thích, vé tàu hoả khó mua lắm. Anh phải nhờ một bệnh nhân trước kia anh đã từng chữa bệnh cho họ, tìm cách đổi cho anh từ tay một người khác, cho nên đành phải vé ngày nào đi ngày ấy. Nhưng anh, Thuỷ Hồng và A Nê thật tình đều muốn giữ Chu Do ở lại thêm vài ngày.


Chu Do hình như đã nhận ra điều gì từ trong dáng điệu ân hận của anh Ngô. Chu Do hiểu được nỗi lo ngại và bất lực của anh Ngô -- Anh chàng Chu Do này vốn là con ngựa gỗ Troia được A Nê coi là một  thứ đồ chơi to, kéo về thành cổ. Nếu không quyết đoán mời anh ta ra khỏi cổng thành, thì Helena- người đẹp trong thần thoại Hy Lạp của anh Ngô - Thuỷ Hồng có khả năng bị “kẻ trộm” nấp trong ngựa gỗ cướp đi mất. Chu Do nhận vé tầu, rối rít cảm ơn. Anh bảo, lẽ ra anh cũng nên tranh thủ thời gian trở về, dù sao thì công việc cũng đã gần xong, ngày mai ra về là thích hợp.


Buổi chiều từ nhóm mỹ thuật về, vừa bước vào cửa , A Nê đã khoe:


Con đưa cho thầy Lục xem bức phác hoạ vẽ hôm qua, thầy không tin con vẽ. Sau đó con nói anh trai Chu Do dạy con vẽ. Thầy Lục bảo rất muốn mời anh trai đến giảng bài cho nhóm mỹ thuật của chúng con.


A Nê về đến nhà, không khí cả gia đình vui vẻ hẳn lên. A Nê chạy đến trước tranh chân dung của Thuỷ Hồng ngắm nghía kỹ, sau đó ghé sát tai mẹ nói:


- Mẹ ơi, mẹ xinh thật, giống như cô dâu mới, má đỏ ửng…


- Đừng nói bậy -  Thuỷ  Hồng nói nhỏ ngăn con gái -- Đấy là do mẹ đánh phấn nhẹ, đã vẽ lên tranh, cần có một chút màu sắc, không thì sắc mặt sẽ nhợt nhạt quá, phải không?...


-  Ô…..phải….


Anh Ngô đã im lặng suy nghĩ  khá lâu trước bức tranh. Ngay đến A Nê vừa nhìn đã phát hiện, vẻ mặt mẹ mình khác ngày thường, thì tại sao anh Ngô không nhận ra? Bức tranh này vẽ cực đẹp, đẹp hơn tất cả ảnh  anh chụp cho Thuỷ Hồng mười mấy năm nay. Anh vô cùng thích bức tranh này. Chu Do đã không bỏ qua cái hồn truyền thần nhất, có lẽ là kín đáo nhất của đối tượng vẽ. Hai hôm nay anh Ngô láng máng cảm thấy, hình như Chu Do có sự ngưỡng mộ và quyến luyến khó nói đối với Thuỷ Hồng. Anh Ngô không lạ một chút nào đối với chuyện này. Trong bạn bè chung quanh mình, luôn luôn có nhiều người thầm yêu Thuỷ Hồng. Anh đã quen từ lâu việc bạn bè công khai bày tỏ lòng thiện cảm đối với người vợ yêu của mình. Nhưng xưa nay Thuỷ Hồng không động lòng trước sự cung kính và theo đuổi đó. Biểu hiện tình cảm của Thuỷ Hồng trên bức tranh, anh quen lắm. Khi mới yêu và trong yêu say đắm, anh thường hay nhìn thấy. Nhưng mấy năm gần đây, trong đời sống vợ chồng phẳng lặng mà ổn định, anh rất hiếm nhìn thấy cái vẻ y như bẽn lẽn, lại y như hân hoan này. Niềm tự tin anh Ngô xây dựng đã mười mấy năm nay lần đầu tiên bị lung lay. Trong lòng anh rối bời. Lẽ nào trong xã hội bây giờ, hầu như gia đình nào cũng gặp phải cuộc khủng hoảng tình cảm và cuối cùng cũng sẽ rơi xuống đầu anh? Lẽ nào trái tim du di của Thuỷ Hồng trên bức tranh đang lìa xa anh?.... May mà anh đã mua vé tầu cho Chu Do. Anh hy vọng sau khi về Bắc Kinh, Chu Do lại chìm trong  đám con gái thường ngày. Còn về Thuỷ Hồng… anh tin mình đã hiểu thế nào là mất bò mới lo làm chuồng, lô cốt dễ dàng công phá từ bên trong, chỉ cần anh tìm trở lại tình cảm vợ chồng trước kia, chỉ cần Thuỷ Hồng án binh bất động, cho dù Chu Do có hấp dẫn đến mấy, cũng không mở nổi cánh cửa ngôi nhà nhỏ của gia đình họ Ngô.


Anh Ngô quyết định mình phải đối xử  hữu hảo lịch sự, cho đến khi Chu Do dời khỏi Tô Châu.


Lúc này A Nê đang vô cùng đắc ý vì mình đã khoe anh trai Chu Do với thầy giáo và các bạn trong nhóm mỹ thuật  một cách thành công. Cô bé lại xoắn xuýt Chu Do, cứ ríu ra ríu rít  nói  chuyện hoài với Chu Do.


Anh trai ơi, đêm qua em nằm mơ, toàn là màu sắc rực rỡ. Em còn vẽ một bức tranh đẹp hết ý. Trong tranh có anh và em. Em còn đem nó đi Bắc Kinh tham dự triển lãm!


Chu Do ngạc nhiên hỏi:


A Nê, trong giấc mơ, em mơ thấy màu gì?


Em mơ thấy các loại màu, màu đỏ, màu vàng, màu xanh lá cây, màu xanh da trời, màu nào cũng có, cứ  sáng lấp lánh, đẹp vô cùng….


Thật không đơn giản, A Nê, tương lai  em sẽ trở thành hoạ sĩ giỏi.


Tại sao?


Chu Do vui vẻ bảo A Nê:


Nói chung người bình thường nằm mơ, thường không có màu sắc. Người nằm mơ dùng màu sắc vẽ tranh lại càng hiếm. Ngày xưa khi học vẽ tranh, anh không mơ thấy màu sắc, cảm giác tồi tệ vô cùng. Thầy giáo bảo bao giờ em mơ thấy màu sắc, thì có hy vọng. Sau đó anh vẽ màu sắc thục mạng. Mùa xuân đến luống hoa, mùa hè vào rừng rậm, mùa thu lên Hương Sơn, đều là những nơi màu sắc rực rỡ nhất để vẽ cảnh thật, cố tạo cảm giác màu sắc cho mình. Ngày nào anh cũng xem hàng loạt những thứ có màu sắc, kích thích phản ứng màu sắc cho bản thân. Cứ thế sống già nửa năm, cuối cùng có một lần anh nằm mơ thấy màu sắc, đẹp vô cùng, y như những búi lông vũ màu sắc sặc sỡ. Anh biến thành từng con gà trống lóng lánh sắc màu. Từ đó trở đi, anh thường hay mơ thấy những bức tranh màu sắc. Anh cũng hiểu ra, màu sắc đến từ tình cảm của con người. Thầy giáo bảo, tranh vẽ của anh thay đổi hắn, như thay bằng một người khác.


Anh Ngô nói:


Như tôi, ngày nào cũng ở bên bàn mổ, những thứ nhìn thấy đều bê bết máu tươi, nhưng cũng chưa bao giờ nằm mơ thấy màu sắc.


Thuỷ Hồng nghĩ rồi nói:


Em nằm mơ, hình như có lúc xem phim màu, có lúc xem phim đen trắng.


Chu Do lại nói:


A Nê, sau này nếu em mơ thấy màu sắc gì, sau khi thức cố gắng dựa vào trí nhớ, vẽ nó ra gửi cho anh xem, được không?


Được.


A Nê lại cưỡi lên hai đùi gối Chu Do, lại còn níu cổ anh lay lay. Chu Do cảm thấy hơi thở của thiếu nữ phả vào mặt từng cơn tới tấp. Hai đùi gối của anh cảm thấy hơi ấm của cơ thể A Nê truyền sang. Trong con mắt đen láy của cô bé cũng cháy bỏng nhiệt tình. Có lẽ lần sau  anh đến Tô Châu, A Nê cũng đã là một người đàn bà chín chắn mà xinh đẹp. Anh hy vọng biết chừng nào người đang tựa vào mình lúc này là Thuỷ Hồng. Cứ thế anh tưởng tượng, để mặc A Nê xoắn xuýt, thơm má mình.


Anh Ngô nói:


A Nê là cái kẹo cao su, một khi đã dính anh, anh có ném đi cũng không ném nổi. Trước kia ngày nào nó cũng  xoắn xuýt bố, bây giờ lại xoắn xuýt anh trai….


A Nê vui vẻ nói:


-  Khi nào anh trai đi, con lại xoắn xuýt bố.


Thuỷ Hồng ở bên nói:


- Tiểu Chu, ngày mai anh phải đi rồi, sau khi anh đi, chúng tôi làm thế nào để phụ đạo A Nê vẽ tranh?


- Ngoài vẽ nhiều ra, còn phải bắt em xem nhiều tranh đẹp. Tốt hơn hết là treo một số tranh đẹp và tranh nổi tiếng ở trong buồng của em. Tôi sẽ gửi cho em một ít tranh, tôi cũng sẽ tặng em một số tranh tôi vẽ. Lâu dần con mắt thẩm mỹ và khẩu vị của em sẽ  được hun đúc. Sau này bố trí phòng nhỏ của em thành một cái lò tranh. Bốn chung quanh đều là tranh,  chăm chỉ hun A Nê thành một con vịt tranh bé bỏng.


- Thế thì hay quá!


A Nê sung sướng reo lên. Nhưng vừa nghĩ đến Chu Do sắp ra đi, vành mắt cô bé đã đỏ hoe. Nước mắt, nói rơi là rơi lã chã.


Chu Do vuốt mái tóc em nói:


- A Nê, đừng khóc, em gái bé bỏng của anh. Sau này, anh sẽ thường xuyên đến thăm em. Năm nào cũng đến, được không? Sau này mỗi lần anh gặp em, em lại thêm một tuổi. Chẳng  mấy năm nữa, em  sẽ thành một cô gái lớn. A Nê, anh rất cảm ơn em, không có em, anh uổng công đến Tô Châu, có thể vẫn còn đang chạy rông khắp nơi. Gặp em, anh có được một  đứa em gái bé bỏng xinh đẹp, lại còn được kết bạn với bố mẹ em. Đối với việc vẽ tranh  từ nay về sau của anh,  điều này rất quan trọng ….


Thuỷ Hồng đứng lên đi vào bếp.


A Nê càng khóc càng đau lòng. Cô bé  hu hu, nghẹn ngào nói:


- Em phải theo anh đi Bắc Kinh. Anh đưa em đi Bắc Kinh được không?


Anh Ngô không ngờ chỉ có ba ngày, bốn bức tranh, A Nê đã có tình cảm sâu sắc như thế đối với Chu Do. Bế con gái xuống khỏi đùi gối Chu Do, anh nói:


- A Nê, bây giờ thời gian còn sớm, còn một lúc nữa mới ăn cơm. Vừa giờ con chẳng  nói  đã mơ thấy màu sắc, mơ thấy cả một bức tranh đẹp là gì? Con hãy lên gác vẽ nó lại được không? Anh trai con tặng con bức tranh đẹp như thế, con cũng nên tặng anh trai con một bức tranh mới đúng. Đi đi con, hãy lên gác vẽ tranh.


Nghe nói vậy, A Nê lau nước mắt, gật gật đầu, lập tức nhảy khỏi ghế xô pha, lao lên gác nhanh như gió.


Anh Ngô nói với Chu Do, hôm nay, khi hết giờ làm việc anh mua nhiều cá tươi tôm tươi, định làm cỗ tiễn Chu Do. Bây giờ anh phải vào bếp cùng vợ nấu cơm tối. Một mình Thuỷ Hồng làm không xuể.


Chu Do bắt đầu thu xếp hành trang. Trong hành lý, ngoài quần áo mặc bẩn ra, là đồ dùng hội hoạ như hộp vẽ và máy ảnh. Mặc dù hành lý giản đơn, nhưng anh càng chỉnh lý càng hỗn loạn, y như tâm tư anh đang rối như tơ vò, không tìm thấy cảm giác gì nữa. Anh thẫn thờ nhìn bức tranh Thuỷ Hương. Nhìn một lát, cuối cùng vẫn quyết định tặng lại Thuỷ Hồng. Anh trịnh trọng viết tên mình ở góc dưới bên phải bức tranh. Giây phút ấy, anh cảm thấy hình như anh cũng để lại linh hồn mình cho Thuỷ Hồng. Anh lại ngắm hai bức tranh của A Nê và Thuỷ Hồng. Không đem đi được là Thuỷ Hồng. Đem đi được là ANê. Vậy thì coi như Thuỷ Hồng bị cắt thành hai nửa. Anh đem theo một nửa Thuỷ Hồng. Còn nửa kia tạm thời gửi lại ngôi thành này. Thế nào cũng có ngày anh sẽ gộp hai Thuỷ Hồng thành một hoàn chỉnh.


Khi ăn cơm tối, A Nê không hào hứng chút nào đối với những món ăn sắp đầy mâm. Cô bé bảo mình sắp vẽ xong tranh. Vội vàng và mấy miếng, chạm với Chu Do một nửa cốc nước ngọt, cô bé lại hấp tấp chạy lên gác vẽ tranh.


Anh Ngô sốt sắng giới thiệu với Chu Do từng món thức ăn trên mâm. Anh bảo phong cách của món ăn Tô Châu là thanh đạm và giản dị chất phác. Nhưng “công nghệ” lại hết sức cầu kỳ. Dân chúng ăn cơm thường ngày, cho dù là cơm rau cũng vô cùng tinh tế, ví dụ như xì dầu vừng đậu phụ khô thái nhỏ trộn với hoa mã lan, súp lơ hầm ba ba…. Anh kể một hơi đến mười mấy món nổi tiếng, lại còn say sưa giới thiệu với Chu Do quá trình chế biến. Chu Do  cứ ậm ừ  nghe như nước đổ là khoai, càng nghe càng lẩn  thẩn. Viện cớ ngày mai phải ngồi tàu, anh chỉ uống tượng trưng mấy hớp. Biết rõ miếng ngon vị ngọt trên mâm đều là do Thuỷ Hồng tự tay xào nấu, nhưng trong miệng nhạt thếch. Rút cuộc có lẽ anh cũng không biết mình  đã ăn những món gì.


Cuối cùng Thuỷ Hồng bưng lên món xúp rau rút, lần lượt múc vào bốn bát canh nhỏ hoa lan. Anh Ngô giải thích, rau rút nuôi trồng ở Thái Hồ, xào nấu với măng thái quân cờ, thịt gà thái quân cờ, nấm hương và dăm bông, có vị thơm mát, trơn mềm, tươi ngon vô cùng. Nhìn bát xúp sứ mịn trước mặt, Chu Do ngẩn người, cầm thìa, nhưng không chịu múc. Bát xúp giống như một đầm nước màu lá cây xanh biếc, đang nổi lên từng bông, từng bông hoa súng, dưới nước có cá đớp lá súng, nhả ra những bọt nước như ngọc trai, cũng giống như một cảnh vật trong tranh Giang Nam xinh đẹp. Cho dù là một bát xúp, vẫn có màu sắc trong sáng. Cuối cùng anh đã xúc một thìa sóng xanh biếc đưa lên miệng, chỉ nhìn thấy từng lá, từng lá rau rút như ngọc bích hơi cuộn lại, y như lá sen cực nhỏ đầu mùa hè vừa nhú lên góc nhọn đang  ẩn chứa giữa lõi lá những tinh khí trên trời dưới đất trong sông trong hồ.


Chu Do bưng bát xúp rau rút dốc sạch một hơi vào bụng. Anh không muốn nhai nát chúng, chỉ sợ làm hỏng tác phẩm nghệ thuật của Nữ Thần Thái Hồ. Khi xúp rau rút trôi qua cổ họng, anh có cảm giác như đang vỗ về, xoa xoa một thứ  tơ lụa. Nó cứ xoắn xuýt cả phần xác lẫn phần hồn anh. Từ nay trở đi nó đã thuộc về anh.


Chu Do không biết mình nên nói gì với anh Ngô và Thuỷ Hồng. Cổ họng anh nghẹn lại, không nói ra được một chữ cảm ơn.


Chừng hơn một tiếng đồng hồ sau, A Nê đi xuống gác. Cô bé không chạy thật nhanh, mà dấu tay ra sau lưng, cứ chần chừ đứng ở cửa cầu thang, lẳng lặng vẫy tay gọi Chu Do. Chu Do đi đến chỗ cô bé. A Nê lấy bức tranh ở đằng sau đặt lên tay Chu Do, rồi quay người chạy lên cầu thang.


Không chờ Chu Do ngồi xuống, anh Ngô và Thuỷ Hồng đã xô đầu tới. Chu Do vội vàng dở ra xem. Đó là một tấm giấy cứng gấp làm đôi như thiếp mời. Màu sắc rực rỡ trên bức tranh ùa tới loá cả mắt.


Bức tranh vẽ phác rất đẹp. Hình như chia thành hai bức một trái một phải. Bức bên trái vẽ một cô gái mặc bộ quần áo màu cánh sen, đứng trên một chiếc cầu nhỏ  to tiếng vẫy gọi, hai mảng lớn màu xanh cánh trả và hồng nhạt quét phẳng, đằng sau là một con sông nhỏ phông màu đen xanh da trời, Hai thứ màu sắc không đồng điệu với nhau phối hợp lại, gây  hiệu quả nghệ thuật hiện đại rất mạnh mẽ. Hình người vẽ ngây thơ vụng dại, gọn gàng xúc tích, đường nét rõ ràng khoẻ khoắn, chỉ có điều nét mặt cô gái rất buồn.


Bức tranh bên phải, biến thành một nam một nữ. Chàng trai cao lớn tuấn tú, mặc áo gió màu xanh da trời. Bên anh là một cô gái mặc bộ váy áo lụa màu đỏ tươi, một tay níu cổ chàng trai, một tay chàng trai ôm eo cô gái. Bối cảnh là một mảng nắng vàng vẽ phẳng. Chung quanh hoa tươi nở rộ. Mọi thứ màu sắc đều đang tưng bừng nhảy nhót. Nét mặt hai người tươi cười sung sướng. Vòng hoa trên đầu cô gái nổi bật, rực rỡ lạ thường.


Trong phút chốc cả ba người đều im lặng.


Một lúc sau anh Ngô chau mày nói:


….Phải chăng….phải chăng….Đây là một bức thư tình vẽ bằng tranh? Con bé A Nê này… con bé này, cũng chín quá sớm….


Như đã từng suy nghĩ, Thuỷ Hồng nói:


Anh đừng quên, khi chúc mừng sinh nhật mười ba tuổi, đã có người đến tặng nó hoa, còn có cả bạn học trai làm thơ cho nó…


Vậy thì …. Vậy thì nó cũng không nên….không nên bày tỏ thẳng thừng với Chu Do như thế.  Nó nóng vội quá thể…. – Anh Ngô nhìn Chu Do tỏ ra rất xúc động -  Nó thích Tiểu Chu cũng không có gì lạ, xét đến cùng, có lẽ là một điều tốt. Nhưng…. nhưng vẫn còn hơi sớm….


Nghe vậy, cảm thấy hơi chối, Chu Do vội ngắt lời anh Ngô:


Thật ra chỉ xét về tranh, bức tranh này rất đẹp. Anh chị xem, ngôn ngữ hội hoạ của A Nê rất có sức biểu hiện –  Quần áo em vẽ cho  bé A Nê là màu đỏ nhạt, còn váy áo của A Nê lớn, lại là màu đỏ tươi. Em chọn  màu đỏ tươi, chứng tỏ tình cảm của em rất nồng thắm. Thông thường những cô bé có thể nằm mơ thấy màu sắc, phần đông là  tương đối chín sớm và đa tình. Anh chị lại nhìn, bức tranh này cấu tứ cũng rất có đặc điểm, thực tế là bức tranh nhóm xơ ri, thời gian cách nhau khoảng sáu bảy năm. Nhưng chỉ cần từ trái đến phải, thời gian đã tự nhiên nhảy qua đi. Em hiểu dùng phương pháp này để biểu đạt nguyện vọng của mình, chứng tỏ A Nê rất có khí chất nghệ thuật và sức tưởng tượng. Còn nữa, A Nê tuy  còn  chưa tiếp xúc nhiều với trường phái hội hoạ hiện đại, nhưng  đối với ngôn ngữ hội hoạ hiện đại lại tự thông không cần thầy hướng dẫn. Tranh của em có vẻ giống phong cách của hoạ sĩ Do Thái Marc  Chagall, bậc thầy phái hiện đại, mặt tranh tràn đầy hào hứng tuổi thơ, ảo tưởng và trữ tình. Chagall là một trong những hoạ sĩ phái hiện đại tôi thích nhất, không thuộc trường phái nào, nhưng tiếp thu ưu điểm của các trường phái….


Chịu khó nghe Chu Do nói hết, sau đó anh Ngô hỏi Chu Do:


Vậy anh xem, bây giờ làm thế nào?


Chu Do trả lời ngay:


Hãy cứ để em tiếp tục giữ phong cách này, luôn luôn vẽ tranh.


Tôi, tôi không nói vẽ tranh, tôi định nói…đối với tình cảm trên tranh của A Nê….- Anh Ngô nói thêm.


Chu Do bỗng chốc tắc tịt. Theo thói quen, anh quay sang tìm Thuỷ Hồng. Thuỷ Hồng nhanh chóng nhìn đi chỗ khác. Anh phát hiện mặt chị tái nhợt, thở cũng gấp hơn. Trong mắt như có lửa phốt pho lờ mờ loé lên rồi vụt tắt. Chị ngồi xuống ghế xô pha, bưng một cốc trà lên uống. Vừa uống một hớp không hiểu sao bị sặc, ho sù sụ. Anh Ngô bước đến đấm lưng cho vợ. Chị hẩy tay chồng ra. Cứ thế ngồi im lặng hồi lâu, chị mới khẽ nói:


Tôi nghĩ…thực ra tình cảm của A Nê rất trong sáng, cũng hết sức non ớt, hết sức yếu đuối. Anh hãy yêu quí giữ gìn cẩn thận, đừng để nó bỗng chốc thất vọng quá, nó sẽ không chịu nổi…


Chu Do ngả người vào bệ cửa sổ. Hai tay đỡ chặt lưng, toàn thân lạnh giá.


Một lúc sau, cuối cùng A Nê  đã từ  trên cầu thang đi xuống. Bước đến trước mặt Chu Do, A Nê bẽn lẽn hỏi:


Anh trai… Anh có thích  bức tranh em vẽ tặng anh không?


Có…. thích.


Anh sẽ đem về Bắc Kinh chứ?


Đem.


Sẽ treo trong phòng anh, ngày ngày nhìn em chứ?


Đương nhiên.


Vậy thì… vậy thì anh có bằng lòng chờ em lớn lên không?


Em sẽ lớn lên, trở thành một A Nê xinh đẹp như mẹ em. -  Chu Do gật gật đầu.


A Nê bỗng ôm chầm Chu Do, hôn lên má anh. Cặp môi nhỏ tươi non như một cái đĩa, hút chặt má Chu Do. Đôi mắt sáng long lanh của em chảy ra những giọt lệ sung sướng. Nước mắt như giọt sương rơi trong lòng bàn tay Chu Do. A Nê vừa khóc lại vừa cười, hình như hoàn toàn quên còn có bố mẹ ở bên cạnh.


Chu Do khe khẽ gỡ cánh tay A Nê, bế cô bé đến ghế xô pha, vuốt mái tóc em nói:


A Nê, em còn nhỏ quá, khi nào lớn hơn chút nữa, em sẽ hiểu nhiều điều. Nào, đừng khóc nữa, anh trai ngày mai sẽ ra đi, hãy để anh trai hát cho em nghe một bài nhé.


Chu Do mơ màng nhìn Thuỷ Hồng, cất giọng nam trầm khe khẽ hát:


Ta là một con sói đến từ phương bắc


Đi giữa cánh  đồng hoang bao la


Gió bấc thổi lạnh giá


Cát vàng  bay à  à


Ta chỉ biết cắn chặt răng giá buốt


Gào lên hai tiếng dài


Không vì thứ gì khác


Chỉ vì đồng cỏ đẹp trong truyền thuyết….


Tiếng hát thê lương, buồn thảm, y như tiếng nức nở của một con sói cô độc trên đồng tuyết giá lạnh phương bắc, bay qua Trường Giang xa vời vợi, vọng về trên Thái Hồ mênh mang lờ mờ ánh trăng. Thuỷ Hồng đã không kịp tránh đi. Nước mắt chị cuối cùng đã ứa ra khỏi tròng mắt, rơi lã chã ngay trước mặt Chu Do, chồng và con gái A Nê.


Sáng sớm hôm sau, Chu Do xách túi hành lý của mình, khoác hộp vẽ ra khỏi cửa. Anh xin miễn cả gia đình anh Ngô tiễn ra ga, thậm chí cũng không để anh Ngô đi gọi xe cho mình.


Chu Do lần lượt bắt tay cáo từ anh Ngô, Thuỷ Hồng ở cổng, lại cố gỡ bàn tay nhỏ của A Nê ghì chặt cánh tay mình, lau khô nước mắt cho cô bé, sau đó đi một mình ra đầu đường chờ xe.


Bầu trời âm u như khi anh đến. Phố nước vẫn lờ mờ trong mù khói. Bến đá dài hình thang cao vút trên bờ sông kè đá loang lổ và những ngôi nhà cũ kỹ im lìm khẽ run rẩy trong bóng nước. Chu Do không biết mình còn đến nữa hay không.


(còn tiếp)


Nguồn: Ái tình họa lang (Ngôi nhà của những bức tranh tình yêu). Tiểu thuyết của Trương Kháng Kháng. Vũ Công Hoan dịch. Nhà xuất  bản Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cõi mê - Triệu Xuân 25.03.2020
Giấy trắng - Triệu Xuân 25.03.2020
Anh em nhà Karamazov - FYODOR Mikhailovich Dostoyevsky 16.03.2020
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 15.03.2020
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 15.03.2020
Đêm Sài Gòn không ngủ - Trầm Hương 10.03.2020
Trong cơn lốc xoáy - Trầm Hương 10.03.2020
Ông cố vấn - Hữu Mai 26.02.2020
Đẻ sách - Đỗ Quyên 15.02.2020
Hòn đất - Anh Đức 13.02.2020
xem thêm »