Bởi vì Trung Quốc không quán triệt trung dung nghiêm ngặt. Kẻ thống trị thi hành trung dung bằng chủ nghĩa tập quyền chuyên chế cực đoan, đương nhiên đã đình trệ. Nhìn bề ngoài trung dung có vẻ bảo thủ, kỳ thực vô cùng cách mạng. Nó phản đối mọi cực đoan. Kinh tế học hiện đại, lý thuyết bảo vệ môi trường,sinh vật học, y học đều chứng minh tính chính xác của nó. Lĩnh vực nào mất cân bằng, đều xảy ra vấn đề lớn. – Thuỷ Hồng nói.
Chu Do bế Thuỷ Hồng đặt trên đùi mình, hôn lia lịa:
Không, mặc dù em tán thành chủ nghĩa nào, anh chỉ muốn sống với em. Có em, anh thà vứt bỏ tự do... Anh sẽ yêu A Nê bằng tình yêu trong sáng nhất trên đời. Đây sẽ là một cực đoan duy nhất...
Không khí nặng nề ức chế trong nhà dần dần tan đi. Chu Do bỗng dưng nẩy sinh ảo giác. Anh cảm thấy Thuỷ Hồng bế trong lòng là một A Nê đã khôn lớn, càng phong phú càng mê hồn hơn A Nê.
Đêm hôm ấy hai anh chị xoắn xuýt triền miên khác thường.
Mấy hôm sau, phòng tranh nhỏ dần dần trở lại yên tĩnh và thư thái như trước. Chu Do lại bắt đầu một lòng một dạ vẽ thân thể Thuỷ Hồng. Anh cảm thấy Thuỷ Hồng càng đẹp. Hình như anh đã yêu Thuỷ Hồng mười mấy năm, đã yêu chị từ thời thiếu nữ mười lăm tuổi, yêu cho đến nay, càng yêu càng sâu. Thứ rượu tình yêu mà anh chị cùng nấu đã không còn là thứ men tươi mới, điên cuồng, xán lạn, mà đã ở vào thời kỳ cất ủ dưới hầm lâu dài. Hầm rượu nhiệt độ không đổi đã không yên tĩnh, chất men của tình yêu luôn luôn phản ứng một cách tế nhị, tăng giá trị không ngừng, cuối cùng đã trở thành thứ rượu ngon lâu niên cất giữ hàng trăm năm trong hầm dưới đáy biển. Thời gian càng dài tình yêu càng nồng càng đậm. Tình yêu của Chu Do vẫn đang trong lên men, bọt bắn ra bốn phía. Mặc dù thi thoảng vẫn bị nước cốt nho trong mát tươi mới cuốn hút, nhưng một khi đã về đến phòng tranh của mình, anh lại biến thành một gã nát rượu tình yêu.
Trong phòng tranh suốt ngày mù mịt hơi men dịu dàng. Thuỷ Hồng phát hiện khi vẽ tranh, Chu Do bỏ nhiều công sức trên cái hồn bên trong của vẻ đẹp, giành nhiều thời gian hơn so với tìm hình dáng màu sắc. Lúc nghỉ giữa giờ buổi sáng và buổi chiều, chị đề nghị uống một ly “ngựa đầu người” Chu Do cất giữ từ trước. Vừa uống một hớp nhỏ, mặt đã ửng hồng. Chị nâng ly, ngắm nghía giá vẽ, mắt say lờ đờ nói:
...Chu Do, anh nghĩ thế nào vậy, tại sao anh vẽ em vào trong hầm rượu? Lấy phông cảnh là thùng phuy rượu to tổ bố màu vàng nhạt, quả thật phong vị rất độc đáo. Cảm giác yêu của anh rất tuyệt... Anh đừng vẽ em thành dáng say bí tỉ, tốt nhất là chỉ hơi chếnh choáng. Đàn bà hơi chếnh choáng mê hồn nhất, háu uống nhất... Anh thân yêu, đừng vẽ nữa, còn ngày mai kia mà. Bức tranh này say lòng người hơn bức trước. Lần này là say thật... Đầu em hơi choang choáng. Chúng mình có một hầm rượu đầy ắp, cả đời không uống hết ... Nào anh, ly nữa nhé, em vẫn còn muốn uống.
Thuỷ Hồng cứ nói cứ nói, mặt chị đã giống như rượu nho. Da thịt toàn thân cũng rân rấn đỏ, ánh lên như màu mã não. Bỏ bút vẽ, Chu Do lại rót hai ly “ngựa đầu người”. Cả hai anh chị đều ở vào trạng thái ngà ngà say. Rượu đầy hầm đột nhiên tăng nhanh phản ứng, toả mùi thơm nồng đậm. Hai người như si như say. Thuỷ Hồng choàng hai tay ôm cổ Chu Do thì thào:
Anh nói đúng, em cũng không muốn cho anh tự do...
Chiều hôm sau, Chu Do đến công ty dẫn ông chủ đi mua tranh, tiện thể tạt qua nhà lấy một số thư báo đem về. Thuỷ Hồng lấy kéo cắt giúp anh từng bức thư, trong đó có một bức thư thường của thành phố. Trên phong bì không có tên. Thuỷ Hồng hiếu kỳ mở thư ra. Thư cực ngắn. Chị chỉ liếc nhìn, hai chữ “Lệ Lệ” ở cuối thư lọt vào tròng mắt. Chị cười đưa thư cho Chu Do, giục:
Anh tự xem, em không muốn xâm phạm quyền riêng tư của anh.
Chu Do nhận thư, đảo mắt qua một lượt, biết ngay Thư Lệ gửi.
“Chu Do, em biết anh đang ở Bắc Kinh. Lần này tuy không tìm thấy anh, người nhà anh cũng không chịu cho em biết nơi anh ở, còn bảo chỗ anh không lắp điện thoại. Nhưng lần sau nhất định em tìm được anh. Xem xong thư thế nào anh cũng gọi điện thoại đến Thâm Quyến cho em, có việc quan trọng cần bàn. Chiều nay em bay về thâm Quyến, khi em bán xong nhà ở đó, lại đòi thêm một khoản nợ, em sẽ có thể trở lại Bắc Kinh ở lâu dài. Từ nay về sau em không đi đâu nữa, chỉ sống bên anh. Anh hiểu lầm em thế nào cũng được, chỉ xin anh đừng phớt lờ em. Tình hình của em tốt lắm, gặp mặt sẽ nói kỹ. Em muốn nói với anh một điều, anh sẽ có một phòng tranh lớn thuộc về mình.
Lệ Lệ của anh”
Cầm bức thư trong tay, Chu Do thần người ra lâu lắm.
Chương 23
Sau khi tàu chuyển bánh, A Nê nói với bố con mệt, lẳng lặng leo lên tầng trên của toa tàu, nằm im trên ghế mềm.
Cô bé nằm nghiêng, quay mặt vào trong, thẫn thờ nhìn ván toa tàu lắc la lắc lư. Có lúc trở mình hai tay đỡ cằm, hai mắt nhìn bóng cây lờ mờ lướt qua ngoài cửa sổ toa hồi lâu, cô bé nhớ lại những cái hôn của Chu Do. Cứ nghĩ cứ nhớ rồi cô bé nhắm mắt mỉm cười sung sướng. Đó là hứa hẹn và biểu thị của tình yêu. Mặc dù bao giờ anh ấy cũng ậm ừ trả lời không rõ, nhưng mắt anh nói với cô, anh thích cô biết chừng nào. A Nê rất hối hận không bảo anh hôn nhiều hơn, hôn vào môi, hôn vào cổ, thậm chí còn hai cái bí mật trước ngực. Cô bé phát hiện Chu Do thích cô hơn lần gặp đầu tiên. Nhưng cô bé lại âm thầm cảm thấy, không giống như mình hy vọng, Chu Do lúc nào cũng ở bên mình. Mấy ngày ở Bắc Kinh, cô bé thích nói đến nhiều nhất là chuyện anh ấy chờ cô lớn, tương lai sẽ thế nào thế nào. Nhưng anh ấy thích nói nhiều nhất lại là chuyện, nào là màu sắc, nào là sáng tạo, nói đi nói lại, cứ y như một ông thầy dạy cô vẽ tranh. Cô bé thật không biết xét đến cùng, anh âý thích cô, hay thích tranh cô vẽ. Muốn biết anh ấy luôn luôn thích mình, hình như không phải dễ. Nghe ra, anh ấy vẫn rất không hài lòng tranh mình vẽ. Nếu cô không ra sức luyện tập phác hoạ, không qua được cửa ải kiến thức và kỹ năng cơ bản, cô sẽ không thi đỗ vào Bắc Kinh. Anh ấy cứ nhấn đi nhấn lại, trong sáu tháng tới phải mở cho cô cái lò nhỏ, học “hàm thụ”, bắt cô cứ hai tuần gửi cho anh bài tập phác hoạ, để anh bình giảng bằng thư tay cho cô. Như vậy có lẽ cô sẽ tiến bộ rất nhanh. Cứ hai tháng anh lại đi Tô Châu, tổ chức cho cô một lần thi mô phỏng.
Những giọt lệ lặng lẽ rơi khỏi khoé mắt cô bé. Cô cảm thấy mình thật ra chẳng muốn vẽ chút nào. Đúng, cô vẽ đã mệt quá, phác hoạ và ký hoạ lại khó thế, phải bỏ nhiều thời gian và công phu. Nhưng nếu thi không đậu trường phổ thông trung học phụ thuộc học viện mỹ thuật, cô chẳng bao giờ có cơ hội gần gũi anh Chu Do. Cuối cùng anh ấy vẫn không đồng ý cô -- Nếu thi không đỗ sẽ để cô đến Bắc Kinh, dạy cô một năm nữa lại thi, anh chỉ bảo việc này phải để bố em phê duyệt. Nhưng bố hoàn toàn không đồng ý. Bố chỉ cho con gái thi vào trường phổ thông trung học phụ thuộc học viện mỹ thật một lần, thi không đỗ thì thi vào trường phổ thông trung học trọng điểm, mà một khi đỗ trường phổ thông trung học trọng điểm, tương lai thi lại vào học viện mỹ thuật càng khó...
Vừa rời khỏi Bắc Kinh, A Nê lâm vào trong buồn khổ sâu hơn. Cô hận bố đã hộc tốc đến Bắc Kinh “bắt cóc" cô về Tô Châu. Trong hai ngày ngắn ngủi ở Bắc Kinh, lại có bố kè kè bên cạnh, A Nê sợ đến mức còn bao nhiêu chuyện muốn nói đều quên nói với anh ấy. A Nê cảm thấy vô cùng cô độc. Mẹ đi rồi, bí mật trong lòng lại không thể nói với bố và A Tú. Xem ra lựa chọn duy nhất của cô đành phải thi vào trường phổ thông trung học phụ thuộc học viện mỹ thuật. Ngô thi không đỗ, cô cũng không thi phổ thông trung học trọng điểm, nhất định cô lại đến Bắc Kinh tìm anh, để anh dạy cô một năm nữa. Chỉ cần hễ đến được Bắc Kinh, ngày ngày sống bên anh ấy, cô sẽ không phân tán tư tưởng, nhất định cô càng vẽ càng tốt.
Ngoài cửa sổ toa, trời tối dần. Bóng anh ấy cũng mờ dần. Cứ quay một vòng, bánh xe lại quăng anh ấy xa hơn. Trong tiếng bánh xe, anh ấy cách cô càng ngày càng xa, cứ thế lặp đi lặp lại sẽ trở thành một ông anh xa vời vợi. Bánh tàu hoả xình xịch xình xịch, dường như cứ nhắc đi nhắc lại một ngàn lần một vạn lần mấy tiếng: A Nê em đến, A Nê em đến.... Có lúc cô bé đem lòng nghi ngờ, liệu anh ấy có thích mình thật không? Nhưng mù mịt quá, không có câu trả lời. Dọc đường cô bé cứ lặng lẽ nghĩ việc riêng, tịnh không nói chuyện với bố.
Ngồi tầng dưới, tay dở báo ra xem, mắt anh Ngô chốc chốc lại ngước lên tầng trên, chú ý bất cứ động tĩnh bé nhỏ nào của con gái. Nhưng A Nê im lặng, ngay đến một đống táo to đùng Chu Do mua cho hai bố con lúc lên tàu, cô bé cũng lười ăn, chẳng thèm động. Có lúc anh Ngô kiễng chân, nhìn trộm dáng vẻ con gái, thấy cô bé chợt vui mừng, chợt xấu hổ, chợt lại thừ người ra, có lúc còn đắp chăn khóc thút thít. Anh Ngô không dám quấy rầy con, đành phải than thở trong lòng. Anh nghĩ có lẽ A Nê cảm thấy sức ép, có lẽ A Nê mỗi lúc một nhạy cảm. Đến Bắc Kinh lần này thật ra cô bé không được anh trai thật lòng hứa hẹn. Sau khi lên tàu, suy đi nghĩ lại nhiều lần, cô bé đưa ra kết luận này. Nhất định cô bé bắt đầu nếm trải vị đau khổ của yêu sớm...
Đêm ấy anh Ngô trằn trọc mãi không ngủ. Tại sao trên đời không có một loại phẫu thuật có thể cắt đi nỗi nhớ và nỗi đau trong lòng con người? Anh cảm thấy mình làm bác sĩ ngoại khoa thật là uổng công.
Sau khi trời sáng, anh Ngô đánh thức con gái, đưa con đi rửa mặt, sau đó tìm cách dỗ con ăn. Hình như A Nê cũng thấy đói, chọn riêng một hộp to sô cô la nhân quả Chu Do mua cho mình, tựa vào cửa sổ, cắn nhai từng miếng nhỏ, từ từ nuốt.
Đoàn tầu đi qua cầu lớn Trường Giang, cách Tô Châu mỗi lúc một gần, đã nhìn thấy màu xanh mùa đông Giang Nam ngoài cửa sổ. Anh Ngô cảm thấy mình cách Thuỷ Hồng càng ngày càng xa, trái tim mình mỗi lúc một gần A Tú. A Tú đã có thai hai tháng. Gia đình họ Ngô và họ Lý đều mong A Tú sinh được đứa con trai. Anh Ngô cũng rất mong có cậu ấm. Con gái xinh đẹp quả tình khiến anh quá ư lo nghĩ. Trước khi rời Bắc Kinh, anh đã gọi điện cho A Tú, bảo vợ. Anh và A Nê sẽ đi tầu về thẳng Tô Châu, không cần ra ga đón, hai bố con anh sẽ đi xe ta xi về nhà. Trong điện thoại, A Tú hỏi chồng tại sao không về bằng máy bay, đi máy bay sẽ về nhà nhanh hơn. Anh bảo đi máy bay đến Thượng Hải phải chuyển luồng. Hơn nữa ngay đến chứng minh thư học sinh A Nê cũng không mang, không mua nổi vé máy bay. Anh nghĩ chắc lúc này A Tú đang mải chuẩn bị bữa ăn cho hai bố con anh, chửa biết chừng đang xắn tay mổ con cá quế, canh cá quế dưa chua, măng mùa đông và chân giò hun khói là những món anh thích ăn nhất. A Nê lại thích ăn mắt cá....
Nhưng không biết tại sao, trong lòng anh Ngô cứ luôn luôn bứt rứt không yên. Tuy anh vắng nhà, A Tú có gia đình họ Lý trông nom. Nhưng anh vẫn thấy lo lo. A Tú còn quá trẻ, xưa nay chưa bao giờ chủ trì một gia đình, lòng dạ lại hiền lành, nhà hàng đông khách lắm chuyện vặt, A Tú khó tránh khỏi có lúc không phân rõ tốt xấu, thật giả. Anh Ngô cảm thấy hình như mình xa gia đình đã lâu. Đột nhiên anh nhớ nhà.
Xe taxi đi vào phố nhỏ. Đi chưa được nửa phố, xe đã không đi nổi. Nửa phố nhỏ phía trước chật ních người. Nhìn từ xa, hình như có hai xe công an đỗ trước cổng nhà mình. Công an ra ra vào vào, canh gác nghiêm nghặt. Anh Ngô sợ tái mặt. Chưa kịp xuống xe, cánh cửa xe đã bị ông chủ Lý tập tễnh xô đến kéo bật ra..
Nhà xảy ra chuyện lớn ....A Tú nó....A Tú nó đã bị người ta...
Anh Ngô rẽ đám đông, xông vào nhà. Bà con lối xóm ai cũng đồng tình rẽ lối cho anh. A Nê cũng tối tăm mặt mũi, hất tay bác Lý, chạy theo bố. Mấy cảnh sát hình sự đang đứng trước cổng. Ngôi nhà nhỏ đã bị phong toả. Anh Ngô móc giấy chứng minh bảo, anh chính là chủ nhân ngôi nhà này, liền lao vào cửa chính. A Nê bị một nữ cảnh sát chặn lại ở bên ngoài. Anh em nhà họ Lý giữ chặt A Nê không buông, không cho cô bé trông thấy cảnh tưởng đẫm máu trong nhà.
Anh Ngô loạng choạng bước vào ngôi nhà nhỏ. Ngôi nhà y như ngôi mộ cổ bị đào trộm, hố đào lỗ chỗ. Anh gọi A Tú, không ai trả lời, chỉ thấy buồng khách trỗng rỗng, đồ điện trong nhà mất sạch. Mấy đồ dùng từ đới Minh đời Thanh nặng trịch, cái nghiêng cái ngả chỏng chơ. Anh xông lên gác, cũng không thấy A Tú. Mọi tranh chữ và tranh sơn dầu trong phòng khách cũng mất hết. Két bảo hiểm cỡ nhỏ và mấy tấm ván bảo vệ tường cũng bị bẩy ra, nền nhà bừa bãi ngập ngụa. Một dự cảm tuyệt vọng bám riết anh. Anh xông vào buồng ngủ, chỉ thấy mấy cảnh sát hình sự đang chụp ảnh, khám xét hiện trường lấy chứng cứ. Anh Ngô vừa thích ứng với ánh sáng u ám trong buồng, thì A Tú lọt vào tròng mắt -- Cô ngã nghiêng ra giường, thân thể loã lồ của cô vấy đầy máu tươi. Ngực, cổ và cái bụng hơi to to của cô có mấy chỗ đâm đã thôi chảy máu. Hai mắt lá răm đã trắng bệch, đờ đẫn trợn lên trần nhà. Vết máu trên ga trải giường đã bị đệm hút khô.Trên thảm nền nhà cũng đầy vết máu đen sẫm. Hai mắt anh Ngô tối sầm. Tay phải ôm ngực choáng váng. Anh bám khung cửa lảo đảo ngã khụy ngay cạnh cửa.
Hai viên cảnh sát dìu anh vào phòng khách nhỏ, cho anh uống mấy hớp nước lã. Anh Ngô từ từ mở mắt, định đứng lên ngay, về buồng ngủ cứu A Tú. Nhưng cảnh sát đã ấn anh xuống.
- Anh chính là Ngô Hoán Hùng? – Một viên cảnh sát hỏi, viên thư ký khác vội vàng ghi chép - Xin hỏi anh từ đâu đến đây? Khi sẩy ra vụ án tại sao anh không ở nhà?
- Chính tôi. Tôi là chồng A Tú...- Anh Ngô trả lời một cách tuyệt vọng, vừa run run móc túi lấy vé tàu hoả của mình và A Nê, vừa nói - Vẫn là cứu người trước đã. Còn cứu nổi cô ấy không? Tôi là bác sĩ ngoại khoa.
Viên cảnh sát lắc đầu:
- Toàn là vết thương chí mạng. Ngay đến đứa con trong bụng cũng không tha. Bọn cướp tàn nhẫn vô cùng.
ATú... Cô ấy, cô ấy bị lúc nào...
- Thời gian gây án khoảng 12 giờ tối qua đến 3 giờ sáng nay. Lý Tú Tú bị chết vào khoảng 3 giờ sáng. Hơn 9 giờ sáng nay bố mẹ cô ấy mới phát hiện...
Kẻ nào...kẻ nào gây án?
- Hiện giờ vẫn chưa rõ, đang lấy chứng cứ. Chúng tôi sơ bộ nhận xét là một băng tội phạm thông thuộc tình hình gia đình anh, có khoảng bốn tên hung thủ trở lên.
Chúng cướp của thì thôi, sao lại còn giêt người?
- Có thể Lý Tú Tú nhận biết chúng, không thì, cũng không mở của cho chúng. Bọn cướp này hình như luôn luôn hạch sách cô ấy chỗ cất giấu vàng bạc và đồ cổ trong gia đình anh.
- Những thứ ấy đã chuyển về gia đình bố mẹ tôi từ lâu. Chúng tôi đã phao tin ra ngoài, quyên góp cho bảo tàng. Những người quen biết tình hình gia đình nhà tôi nên biết chuyện này...
- Đương nhiên bọn chúng không tin Lý Tú Tú. Chúng đã cướp của lại cưỡng hiếp người, sau đó còn giết cô ấy.
- Tôi ... tôi sơ xuất quá... Ở Bắc Kinh ngày nào tôi cũng gọi điện cho cô ấy. Hai hôm trước cô ấy bảo tôi, tối nào cũng có người trong gia đình đến ở cùng. Tại sao đêm hôm qua lại không có?
- May mà không có ai, không thì có lẽ không phải một mình cô ấy chết. Nhưng theo gia đình ông Lý nói, Lý Tú Tú không để người nhà đến. Hai người chị dâu của cô ấy mỗi người đến ở một đêm. Tối hôm qua họ đến đánh một lúc bài mạt chược, Lý Tú Tú đã giục họ về nhà. Nhà hàng mẹ cô ấy bận rộn quá, buổi sáng lại dậy sớm, sợ đánh thức cô ấy, nên đã không đến nữa. Đến hay không đến ngủ cùng, không phải là mấu chốt gây án. Nghe bà con lối xóm phản ánh, anh đi Bắc Kinh tìm con gái, đã tìm về chưa?
- Tôi và con gái vừa xuống tàu.
- Vậy thì ai biết mấy ngày này anh xa Tô Châu?
- Bà con lối xóm xung quanh biết khá đông. Sau khi A Nê bỏ nhà đi, A Tú đi khắp lượt các gia đình bạn học của A Nê và cả dãy phố để tìm cô bé. Sau đó chúng tôi nhận được điện thoại của bạn học A Nê, mới xác định cô bé đã đi Bắc Kinh...
- Vậy thì những người nào biết tình hình gia đình nhà anh?
- Tôi không rõ, bà con lối xóm xung quanh thường xuyên nhờ tôi làm thủ tục vào viện chữa mổ...
Anh Ngô không còn muốn trả lời câu hỏi của cảnh sát hình sự. Anh đã không thể chống đỡ được thân thể mình. Anh đờ đẫn nhìn A Tú đắp tấm ga trên giường, đau khổ nghĩ đến tấm ga trải giường có máu đầu tiên. Anh bỗng cảm thấy mình chính là hung thủ giết A Tú. Chính anh đã dẫn A Tú vào ngôi nhà nhỏ này, lại cưới cô ấy đến ở đây, còn để cô ấy ở nhà một mình. Đáng lẽ anh phải nghĩ đến vấn đề an toàn cho vợ để cô ấy về nhà mẹ đẻ mấy hôm, vậy thì cho dù ngôi nhà này có bị cướp bóc không còn gì, A Tú cũng sẽ không bị giết thê thảm. Chính anh đã hại A Tú, hại cả đúa con còn trong bụng của anh. Đây là hai mạng người, mà A Tú xinh đẹp thảo hiền sẽ vĩnh viễn không bao giờ sống lại..
Anh Ngô đau đớn muốn chết, quỳ sụp lên người A Tú, lại ngất đi một lần nữa.
Bị chặn lại bên ngoài cổng nhà mình, A Nê đã biết A Tú bị kẻ xấu giết hại. Bà con cả dãy phố đều đang xôn xao bàn tán, họ bảo A Tú chết thê thảm quá. A Nê sợ quá, cứ run bắn từng cơn. Cảnh tượng đẫm máu trên phim và vô tuyến truyền hình cứ lần lượt hiện ra trước mắt cô bé. Cô không thể tin nổi A Tú ngày ngày nấu cho cô từng bữa ăn chu đáo, lại thường ngồi yên lặng trước mặt làm mẫu cho cô vẽ, đã không còn bao giờ tỉnh lại nữa. Cậu em nhỏ của A Nê nằm trong bụng A Tú cũng bị giết. Chưa đẻ đã bị giết, ôi khủng khiếp vô cùng... Mẹ A Tú ơi, A Nê này chưa từng gọi mẹ một tiếng nào, chưa từng được nhìn em nhỏ... có lẽ bố đang cấp cứu mẹ A Tú và em trai nhỏ. Người nào bố cũng cứu được, nhất định sẽ cứu được mẹ A Tú...
- Mẹ A Tú...
Cuối cùng A Nê đã gào một tiếng đau thương và khủng khiếp.
- Gào cái gì mà gào! Bây giờ gào đã muộn! - Người con cả gia đình họ Lý quắc mắt mắng A Nê - Tất cả là tại mày. Mày chạy lên Bắc Kinh, nếu mày không đi chắc chắn em gái tao không bị chết! Rõ dơ cái mặt, mới có một tý tuổi...
A Nê đột nhiên phát hiện những người xung quanh ai cũng trừng mắt căm giận nhìn mình. Cô bé bắt đầu nhận ra chính mình đã gây ra tai hoạ lớn. Cô sợ hãi nắm chặt vạt áo bà Lý xưa nay luôn luôn nuông chiều mình. Nhưng bà Lý đã hất tay cô ra. A Nê khiếp quá run bần bật. Cô bé cảm thấy mọi người xung quanh đều giống như ma quái nhìn mình với bộ mặt hung dữ, mắt phóng vào cô những đốm lửa đáng sợ, cứ làm như cô là kẻ giết người còn sót lại. Cô hy vọng biết bao bố mình từ trong nhà chạy ra ôm bế cô. Nhưng liệu bố có trợn mắt nhìn cô như thế không? Mấy hôm nay bố đã không hoà nhã vui vẻ như trước kia. Bây giờ nhìn thấy mẹ A Tú và em nhỏ đã chết, nhất định bố cũng nổi khùng với mình. Được nuông chiều đã quen, lần đầu tiên A Nê bị bơ vơ cô lập sa vào chỗ bị bao vây, bị chửi mắng, bị căm giận... Hai chân cô bé sụp xuống, há miệng kêu lên một tiếng rồi nằm lăn ra đất. Không ai đỡ cô dậy, chỉ có một nữ cảnh sát bước tới xách cô bé như xách con gà con để lên bậc cổng vào.
Không biết bao nhiêu thời gian đã trôi đi, A Nê nghe thấy có ai đó gọi A Tú như xé tim rách phổi, chỉ nhìn thấy một chiếc băng ca phủ khăn trải giường trắng được mấy viên cảnh sát khiêng từ cửa đi ra. Trên tấm ga trắng để lại nhiều vết máu tím bầm, loang lổ. Người nhà họ Lý khóc tới mức chết đi sống lại. Bà con lối xóm trong phố nhỏ đến xem ai cũng gạt nước mắt. Đó là mẹ A Tú ư? A Nê không dám bước lên trước. Cô bé co dúm ở chân tường như đứa con bị bỏ rơi, sợ quá khóc không thành tiếng. Chiếc băng cáng lướt qua trước mặt cô. Tấm ga trắng như tuyết, những vết máu loang lổ, cả đám đông vây xem đen ngòm trước mặt - Ba mầu đỏ, trắng, đen mà cô đã từng yêu chuộng và quen thuộc cứ à à ập đến trước mặt mình như cơn mưa bão máu, làm cho mọi cảm giác màu sắc trước kia của cô bé đều chết cứng trong trái tim.
Đám đông đã ra về. Ông chủ họ Bạch và em trai anh Ngô biết tin tìm đến, đã bế A Nê vào trong nhà. Giống như một bức tượng đất, anh Ngô thẫn thờ nhìn ngôi nhà trống rỗng bị cướp không còn một thứ gì và những vết máu trên tường, mồm cứ lẩm bà lẩm bẩm hết lần này đén lượt khác:
- A Tú, anh có lỗi với em, em chết thê thảm quá... A Tú, anh có lỗi với em...
Mặc cho ông chủ Bạch Hồng Căn và Ngô Hoa Hùng khuyên giải thế nào, anh vẫn quỳ mãi trước giường A Tú không đứng dậy. Nước mắt nước mũi tuôn trào như mưa.
Đầu óc hỗn loạn, A Nê mở mắt chỉ nhìn thấy trong nhà trống không, y như cảnh đổ nát trong phim. Sau khi vải tranh bị tháo dỡ, những khung tranh vẹo vọ vứt bừa phứa đầy nền nhà, còn có cả những mẩu vụn của quyển tranh và sách tranh. Bọn khốn nạn không chỉ giết A Tú, lấy cắp đồ đạc tốt trong nhà, mà còn cướp sạch mọi tranh vẽ của anh Chu Do trên tường. A Nê hốt hoảng nhìn chung quanh tường, hình như mình cũng bị bọn chúng giết chết cùng tranh vẽ. Tranh của anh Chu Do là toàn bộ mạng sống của cô bé. Hơn mười tháng qua, không ngày nào cô bé không sống chung với tranh, y như sống bên anh Chu Do. Nhưng giờ đây, chúng đi đâu hết cả? Không có tranh, cô biết làm thế nào? Không có tranh, cô bé sẽ không nhận ra anh Chu Do. Không nhận ra anh Chu Do, cô bé sẽ không chạy đi Bắc Kinh. Vậy thì có đúng mình đã giết mẹ A Tú và em trai nhỏ? Vậy thì mình có đúng là đứa trẻ hư hỏng nhất, xấu xa nhất trong phố nhỏ?
A Nê bước vào góc tường với dáng vẻ hoảng hốt, hai tay run run, cẩn thận tháo gỡ một góc cánh hạc trắng còn sót trên khung tranh. Đây là vật lưu niệm duy nhất anh Chu Do để lại cho cô bé. Thân thể cô bỗng co giật, nhưng không có bất cứ cảm giác nào. A Nê không còn gì hết. Các bạn nhỏ phớt bơ cô bé. Các cô các chú vốn yêu mến cô bé, ai cũng né tránh. Ông ngoại bà ngoại nhà họ Lý coi cô bé là công chúa nhỏ cũng không thấy đâu. Ngay đến bố cũng hình như hoàn toàn không có đứa con như cô trên đời...
Tay run run, A Nê khẽ vuốt ve cánh hạc trắng. Cô không dám nghĩ đến anh trai. Anh trai sẽ chẳng bao giờ thích cô nữa. Cô không nghe lời bố và anh trai, tự ý bỏ nhà đi Bắc Kinh tìm anh trai. Anh trai không bao giờ còn nhận đứa em hư hỏng làm chết hai người. Nhưng anh trai, anh đừng đổ hết tội cho em. Nếu kỳ nghỉ đông anh đến Tô Châu thăm em, em sẽ ở nhà không đi đâu.... Anh trai, em không trách anh đâu. Anh vẫn nên đón em đi. Em không thể sống ở đây được nữa, cho dù làm con bé hầu hạ giúp việc anh, em cũng cam lòng. Em sẽ học nấu cơm, giặt quần áo, cạo tấm pha màu ... Anh trai, không phải em đã giết mẹ A Tú và em trai nhỏ, chỉ có anh mới tin em phải không?... Nhưng A Nê không còn mặt mũi nào đi gặp anh trai. Cô đã không giữ nổi tranh của anh trai, đã để mất hết tranh anh trai tặng. Đây đều là những tác phẩm tâm huyết của anh ấy, vẫn chưa đưa đi tham dự triển lãm tranh cá nhân, vẫn chưa in vào quyển tranh, vẫn chưa chính thức xuất bản. Nhưng bây giờ đã mất sạch, có lẽ không bao giờ tìm thấy, còn biết ăn làm sao, nói thế nào với anh trai?
Mẹ ơi, mẹ ở đâu? Lần nào gọi điện cho con, mẹ cũng không nói mẹ ở đâu. Tại sao mẹ cắt đứt bố? Mẹ về nhanh mẹ ơi, A Nê con... cần mẹ, mẹ ơi...
A Nê gào một tiếng, mất hết cảm giác, choáng ngã trên ghế xô pha. Lúc này anh Ngô mới giật mình bừng tỉnh, quay sang chăm sóc con gái. Ông chủ Bạch lấy nước và khăn mặt đắp lên trán A Nê. Ba người tíu tít lay gọi, lại bận rộn hồi lâu, A Nê mới coi như tỉnh lại. Anh Ngô thở phào, ngẩn người nghĩ một lúc, nói với ông chủ Bạch và em trai, vẫn nên đưa A Nê về nhà ông bà nội trước đã. Xem ra ở đây không ổn...
Vừa có được sự ấm cúng gia đình mới, anh Ngô lại một lần nữa mất tình yêu. Lần mất này thảm hại nặng nề hơn lần trước. Thuỷ Hồng xét cho cùng vẫn sống hạnh phúc. Còn A Tú đáng thương và mạng sống nhỏ nhoi trong bụng lại biến thành tro bụi. Trong đau buồn cực độ, anh Ngô chợt nghĩ đến mình vốn hy vọng tương lai A Tú sẽ rắc tro xương của anh xuống dòng sông nhỏ. Nhưng có ngờ đâu, bây giờ đã gấp đôi tuổi vợ, anh lại bưng hộp tro xương của ATú. Anh sẽ không rắc tro xương của A Tú. Anh phải giữ tro xương của hai mẹ con ATú bên mình, giữ cho đến khi anh cũng hoá thành tro bụi.
Hai biến cố gia đình và tình yêu trong một năm, khiến anh Ngô bỗng chốc già khọm đi. Mắt anh đờ đẫn, hành động chậm chạp, sắc mặt u ám, tóc rụng từng mảng. Ngay đến mấy người đàn bà trong phố luôn luôn yêu mến anh lâu nay cũng đều tránh xa. Người ta lại bắt đầu đoán già đoán non nguyên nhân tại sao Thuỷ Hồng đột nhiên bỏ nhà đi. Hình như có công năng đặc biệt, Thuỷ Hồng từ lâu đã dự đoán nỗi bất hạnh của gia đình họ Ngô. Tầng lớp làm công ăn lương trong phố, ngoài việc đồng tình và giận dữ bất bình, cũng ngấm ngầm được cân bằng về tâm lý. Họ được một kết luận tự an ủi mình - Thật ra có của cũng chưa hẳn có phúc, có nhiều tiền trái lại không an toàn nhất, vẫn cứ nên sống yên lành tốt hơn cả, Thượng Đế còn coi như công bằng.
Công việc phá án hầu như tiến triển chậm chạp. Dân trong phố nhỏ nơm nớp lo âu.
Anh Ngô cũng mất dũng khí dọn dẹp ngôi nhà đẫm mấu. Anh quyết định biếu gia đình họ Lý ngôi nhà nhỏ của mình, tuy trong lòng anh rất tiếc. Ngôi nhà.gác độc đáo phía bắc gối đầu dòng sông nhỏ, phía nam quay ra phố đã để lại cho mấy đời nhà họ Ngô biết bao nhiêu truyền thuyết đẹp và thảm cảnh, mà truyền đến đời anh lại diễn ra một bi kịch càng đau thương tê tái. Anh Ngô đâu có biết vị tổ tiên nào đó của gia đình họ Ngô đã để mất lòng nữ Thần phục thù, bắt con cháu đời sau của gia đình họ Ngô phải trả giá thê thảm nặng nề như thế. Ngôi nhà gác đã từng là vũ đài của những câu truyện tình mấy thế hệ nhà họ Ngô. Anh căm ghét nó lại quyến luyến nó. Nhưng quả thật anh không thể giữ nổi nó. Bây giờ anh chỉ còn một đứa con gái. Cũng trong ngôi nhà gác nhỏ này, con gái anh nẩy sinh mối si tình. Nếu cứ để con gái tiếp tục sống ở đó, nó sẽ hoá điên thật. Vẫn cứ nên để ngôi nhà nhỏ chung sống với bố mẹ A Tú. Mặc dù tài sản ngôi nhà có hậu hĩnh, cũng không thể đền bù nổi nỗi đau thương mất con gái của gia đình họ Lý...
Mấy hôm sau, anh Ngô dọn nốt tài sản còn lại, trao cả chùm chìa khoá ngôi nhà nhỏ cho bố vợ. Anh nói với ông già:
Khi còn sống A Tú rất thích ngôi nhà này. Vợ con ra đi từ đây, nên con nghĩ, vẫn nên giành ngôi nhà này cho bố mẹ. Tuy một phần ba tài sản ngôi nhà này nên thuộc về Thuỷ Hồng. Nhưng Thuỷ Hồng luôn luôn thích A Tú, cô ấy cũng sẽ vui lòng biếu ngôi nhà này cho gia đình họ Lý. Ngộ nhỡ cô ấy không đồng ý, con cũng sẽ có cách tính trả cô ấy một số tài sản khác. Bố mẹ cứ yên tâm nhận đi. Từ nay về sau, con sẽ thường xuyên về thăm bố mẹ. Con có lỗi với ATú, cũng có lỗi với bố mẹ...
Ông chủ Lý nhận chìa khoá. Tự nhiên nước mắt tràn trề, ông nghẹn ngào nói:
- Nếu còn một đứa con gái nữa, tôi cũng sẽ gả nó cho anh. Anh mãi mãi là con rể của gia đình họ Lý... Chỉ oán A Tú nhà này số khổ, không có phúc để sống sung sướng... Đạo đời bây giờ khốn nạn đến nỗi không hiểu nổi...
Anh Ngô rất hối hận lúc đầu không nghe lời Thuỷ Hồng. Tuy anh đã chuyển một phần đồ cổ và đá quý của gia đình họ Ngô mình cất giữ đến ngôi nhà lớn của gia đình họ Ngô theo ý Thuỷ Hồng. Nhưng anh không hạ quyết tâm chuyển đi toàn bộ. Xét cho cùng, A Tú còn quá trẻ và hiền lành, quá thiếu kinh nghiệm ứng phó. Nếu gặp bọn cướp, cô ấy không cố sống cố chết giữ tài sản gia đình, có lẽ còn giữ được tính mạng. Nhưng nói ra những điều đó lúc này cũng không tác dụng gì. Anh Ngô càng hối hận ngày xưa không cùng Thuỷ Hồng chuyển về ở ngôi nhà cũ tại Ôn Gia Ngạn sớm một chút. Không thì A Nê sẽ không gặp Chu Do ở bên dòng sông nhỏ. Đương nhiên Chu Do cũng không có cơ hội biết Thuỷ Hồng. Mà bản thân nếu không lấy A Tú, A Tú tự nhiên cũng không chết thê thảm như vậy.... Ngôi nhà nhỏ xinh đẹp đến nỗi khiến người ta khiếp sợ là một đạo diễn tàn nhẫn. Hình như nó phải đẩy toàn vở kịch đến cao trào trong vũng máu mới chịu từ từ khép lại tấm màn đen...
Bác sĩ Ngô dọn về ở ngôi nhà cũ của gia đình họ Ngô, trong một thời gian rất dài, cũng không dám đứng trước bàn mổ. Hễ trông thấy máu, anh lại choáng, tay cầm dao lại run. Bệnh viện cũng sợ anh để xảy ra sự cố điều trị, đề nghị anh đến Viện điều dưỡng cạnh Thái Hồ nghỉ một thời gian. Nhưng tính mạng bố anh Ngô đang nguy kịch, anh không thể dời bố một bước. Không biết có bao nhiêu người bệnh vốn hy vọng còn sống khoẻ mạnh dưới dao mổ của anh Ngô đã mất đi cơ hội sống sót trong cõi chết bởi vụ án đẫm máu không liên quan.
Ông già Ngô hơn bảy mươi tuổi vẫn chưa giải thoát khỏi nỗi đau mất đứa con dâu yêu quý Thuỷ Hồng, lại gặp một đòn đau A Tú và đứa con trong bụng chết thê thảm. Trên giường bệnh, ông già Ngô suy kiệt nhanh chóng từng ngày. Tuy không còn sức trách mắng con trai cả, nhưng trong mắt ông đầy vẻ oán giận con trai. Nếu Hoán Hùng và Thuỷ Hồng dọn về nhà tổ sớm hơn, có thể đã không ly hôn, cũng không gặp tai hoạ. Đối với bà lão, ông Ngô cũng ăm ắp ánh mắt không chịu tha thứ. Nếu bà không kiên quyết để con trai cả và con dâu cả dọn đến ở ngôi nhà gác âm khí không tan kia, thì làm gì có chuyện báo ứng này! Bà Ngô suốt ngày nước mắt lưng tròng. Bà cảm thấy cả gia đình này đều đổ nguyên nhân tai hoạ lên đầu bà. Thật tình bà cũng ôm nỗi ân hận khó cứu vãn nổi Thuỷ Hồng và A Tú...
Công việc điều tra vụ thảm sát bên dòng sông nhỏ triển khai toàn diện. Phán đoán bước đầu là việc làm của một băng tội phạm gây án chạy trốn có trí năng cao. Nhưng chắc chắn chúng có sự phối hợp của những người thông thuộc tình hình gia đình họ Ngô. Hiện trường hầu như không để lại tung tích và chứng cứ có giá trị. Thái độ né tránh và tê liệt lạnh lùng đối với vụ án của dân phố khiến cảnh sát hình sự hết sức ngạc nhiên. Nhân viên điều tra vụ án nhận xét, anh Ngô không nên chuyển khỏi phố nhỏ vào lúc này. Người không đi, có lẽ trà không đến nỗi nguội nhanh như thế. Nhà hàng họ Lý buôn bán vắng khách, có thể buông lưới bẫy chim. Sau khi hâm mộ và đố kỵ đối với việc gia đình họ Lý đánh đổi con gái lấy ngôi nhà nhỏ, người ta coi hai gia đình Ngô - Lý không đáng đồng xu. Khi lại về thăm gia đình họ Lý, anh Ngô cảm thấy dân chúng cả dẫy phố nhỏ hình như không quen biết anh. Mười mấy năm anh phục vụ không hoàn trả đối với phố nhỏ đã bị xoá sạch. Anh Ngô bắt đầu hiểu tại sao Thuỷ Hồng cuối cùng đã đi khỏi phố nhỏ đóng kín này. Anh phát hiện thì ra người giầu kẻ nghèo ở lẫn lộn đều đem lại bất tiện cho nhau. Trong môi trường ấy, nỗi đau khổ của giai cấp trung lưu tỏ ra xa xỉ và dư thừa biết chừng nào. Anh Ngô càng cảm thấy cô độc và mù mịt. Nhưng anh vẫn thường quanh quẩn đi đi lại lại một mình ở cuối phố vào những lúc đêm khuya thanh vắng để nhớ lại những giờ phút ngắn ngủi mà hạnh phúc lần lượt sống chung với hai người vợ yêu quý.
A Nê đã được bà nội nhờ người làm thủ tục chuyển trường. Từ đó đã cách xa ngôi nhà gác nhỏ âm khí nặng nề. Giống như con chim nhỏ bị sét đánh, cô bé sợ hãi sà vào lòng ông bà nội. Nhưng ngôi nhà tổ cổ kính suốt ngày toả mùi ẩm ướt và hơi thở xưa cũ đâu có khiến cô bé cảm thấy được an ủi và vui vẻ. Cô phát hiện mình đã bị trông coi nghiêm ngặt. Bà nội thuê hẳn một người đàn bà ở miền bắc Tô Châu vừa cao vừa to ngày ngày đưa đón cô đi học, hình như sợ cô bé lại bỏ đi Bắc Kinh lần nữa. Bố cũng buộc con gái ngừng hoạt động trong nhóm mỹ thuật và thu hết mọi dụng cụ vẽ tranh, sổ tranh, thuốc vẽ và tranh ảnh. Ngày nào cô bé cũng lặp đi lặp lại một cách máy móc đoạn đường quy định từ nhà đến trường, rồi lại từ trường đến nhà. Thậm chí cô cảm thấy mình chỉ từ một buồng giam nho nhỏ chuyển đến một nhà giam to hơn mà thôi.
Cô bé vẫn được hai ông bà già thương yêu. Nhưng A Nê lại càng ngày càng trầm lặng. Lòng cuồng nhiệt đối với mỹ thuật và sự si mê đối với anh trai của cô bé đều bị vụ án đẫm máu bên dòng sông nhỏ đột nhiên chặn đứng bóp chết. Cô bé càng lún sâu vào cảnh cô độc. Trước mắt cô bé không bao giờ còn màu sắc và tranh đẹp, chỉ có những pha và ánh mắt khiếp sợ. Màu đỏ cô bé thích nhất đã biến thành máu tươi. Bức chân dung anh trai tự vẽ màu đỏ đã bị những vết máu tanh đặc sệt nhấn chìm. Không có tranh của anh trai, không có lò tranh và sàn nhảy ở phòng khách, anh trai cũng biến thành giấc mộng mơ hồ lạnh lẽo và xa vời. Cô bé không bao giờ còn dám nghĩ đến Bắc Kinh. Cứ nghĩ đến Bắc Kinh, trong đầu cô bé lại xuất hiện toà án thiếu niên. Cô bé thường bị những cơn ác mộng làm bừng tỉnh. Trong giấc mơ cô bé đứng trước vành móng ngựa, chung quanh đều là rừng khăn quàng đỏ tím lịm và những đôi mắt màu đỏ máu, chửi mắng cô xơi xơi và xét hỏi lên án cô...
Khi tỉnh cơn ác mộng, cô bé nhìn thấy bố ngồi ở mép giường mình, vừa khóc vừa nói sai lầm không thể tha thứ của cô. Bố nói, chính tranh vẽ đã huỷ hoại gia đình hạnh phúc này, huỷ hoại tính mạng của A Tú và em trai bé bỏng, huỷ hoại cả tiền đồ của A Nê. Chu Do là một nghệ sĩ lưu manh vô trách nhiệm. Chính hắn đã đem đến gia đình này những bức tranh đầy rẫy quái gở và khủng khiếp. Nghệ thuật của hắn là những bức tranh được vẽ bằng cách chấm đau khổ của nhiều người và gia đình làm thuốc vẽ. A Nê tuyệt đối không được bao giờ qua lại với hắn nữa. Nếu hắn biết vụ thảm sát xảy ra bên dòng sông nhỏ, hắn càng không thích A Nê. Có lẽ hắn đã quên em gái nhỏ Tô Châu của hắn từ đời tám hoánh.
A Nê tiếp nhận mệnh lệnh này một cách tê dại, cam tâm chấp nhận trừng phạt sau khi gây ra hoạ lớn. Bố cũng không còn bao giờ là người bố hiền lành yêu mến trước kia. A Nê không hề muốn trông thấy ông bố ngày càng trở nên nóng nẩy và đáng sợ. Niềm vui duy nhất của cô bé chỉ là hàng ngày sau khi đi học về cùng với em trai nhỏ Bì Bì - cục cưng của chú ruột chơi đùa ở vườn hoa. Nhưng niềm vui này lại thường kèm theo những cơn choáng ngất đột nhiên. Trong mơ hồ cô bé cảm giác thấy đôi bàn tay nhỏ mềm mại vuốt má mình và thủng thẳng gọi từng tiếng chị ơi, để cô bé tỉnh lại trong cơn choáng ngất. Lúc ấy cô bé ôm chặt và thơm Bì Bì nhỏ như một người mẹ nhỏ thơm con mình. A Nê dồn toàn bộ tình yêu em trai nhỏ chưa sinh của mình cho Bì Bì. A Nê yêu sớm không hề đem lại kết quả, lại nẩy sinh quá sớm một số tình cảm mơ hồ của người làm mẹ. Nhìn đứa con gái đã không giống chị, cũng chẳng giống cô dì, anh Ngô đành phải thở dài, âm thầm nuốt nước mắt vào bụng.
Tên tù nhỏ A Nê đã mất sức phản kháng. Cô bé chỉ biết ù lì, ngoan ngoãn tuân theo sự quản chế và chiều chuộng của gia đình họ Ngô giành cho mình. Chỉ có điều cô bé vẫn còn dấu diếm cất giữ một góc cánh hạc trắng trên bức tranh sơn dầu. Đây là mẩu tranh còn lại cuối cùng cô đã yêu đau khổ và cuồng nhiệt gần một năm nay. Cô biết kỹ xảo cất giữ kín, bất cứ ai cũng không tra tìm nổi. Cô bé mong mình mau chóng lớn khôn, y như mẹ, bay ra khỏi nhà tù lớn xinh đẹp này, bay đến bên anh trai. Mặc dù lúc ấy anh trai đã lấy vợ, cô cũng phải chung sống với anh. A Nê hận lần đầu tiên gặp anh ấy, mình còn nhỏ tuổi quá. Nếu lúc ấy đã là cô gái lớn mười tám tuổi, cô tin tưởng anh ấy nhất định sẽ đưa cô về Bắc Kinh. Bây giờ mọi người trong gia đình đã không bao giờ cho cô thi vào trường phổ thông trung học thuộc học viện mỹ thuật, cô đành phải thi vào một tường phổ thông trung học trọng điểm, ba năm nữa sẽ thi vào đại học Bắc Kinh. Lúc ấy không ai có thể ngăn cản cô đi Bắc Kinh. Chỉ có điều không biết anh trai liệu có tha thứ cho cô đã để mất những bức tranh quý giá...
Anh trai, tại sao anh không gửi thư cho em?....Chắc chắn bố đã giấu thư ... Anh trai thân yêu, tạm biệt anh... Ba năm nữa liệu anh có chờ em?...
A Nê bắt đầu giành thời gian vẽ tranh trước kia vào học tập và làm bài. Sau khi chuyển trường, thành tích học tập của cô bé đã xuống loại trung bình. Cô bé vẫn chưa hoàn toàn tập trung tinh thần. Ngày nào cũng đọc bài vở một cách khó khăn, giống như một con mọt sách nhỏ. Các bạn học nam trong trường thì thầm bàn tán cô bé là một người đẹp lạnh lùng, lạnh như hoa tuyết trên cây lạp mai mùa đông. Nhưng A Nê biết, trong tim mình còn có một dòng suối nóng nho nhỏ, giống như một đốm sáng lấp lánh trong tuyết lạnh, đang dãy dụa một cách yếu ớt, nước suối tuôn ra, đem lại cho cô chút hơi nóng và ấm áp cuối cùng...
Chương 24
Sau hơn một tháng, Thuỷ Hồng và Chu Do mới được biết vụ thảm sát bên bờ sông nhỏ và những biến cố trong gia đình. Anh Ngô cố ý kéo dài thời gian thông báo cho hai người. Một mặt là vì anh Ngô còn bận lo liệu hậu sự cho A Tú và bố đẻ, luôn phải ở trong tình trạng đau buồn và u uất, rất không muốn để Thuỷ Hồng động vào vết thương của mình. Mặt khác anh Ngô cũng không muốn để Chu Do cảm thấy xảy ra chuyện này, có thể làm cho anh ta từ đó loại trừ nỗi lo về sau -- Anh Ngô hoàn toàn nhìn ra, sự tồn tại của A Nê là mối đe doạ đối với cuộc sống hạnh phúc của Chu Do và Thuỷ Hồng. Một khi Chu Do biết vụ án đẫm máu đã dẫn đến nỗi đau lòng của A Nê và sau khi A Nê bị buộc phải tạm thời vứt bỏ hội hoạ, chắc chắn anh ta sẽ cảm thấy nhẹ nhõm. Điều này khiến anh Ngô cảm thấy khó chấp nhận. Mặc dù bi kịch này có nguồn gốc gián tiếp từ Chu Do, (nếu không bị anh ta thọc gậy bánh xe, sẽ không bao giờ sẩy ra một loạt cảm cúm ác tính sau đó do “siêu vi trùng” này gây nên). Nhưng Chu Do lại có thể không chịu bất cứ trách nhiệm pháp luật nào trước cái chết của ba người. Bọn trẻ đương thời, từ lâu đã coi đạo đức là truyền thống giả dối, chứ không hề cảm thấy ân hận và tự trách lương tâm bởi hành vi của mình.
Anh Ngô cứ trì hoãn không nói cho họ biết tin dữ ở phương Nam, có lẽ chính là không muốn để cho Chu Do quá ư tự do tự tại. Lúc đầu anh viết một bức thư ngắn, báo tin anh và A Nê đều bình yên về đến Tô Châu. Cho mãi đến sau khi hai đám tang đều tổ chức xong xuôi, anh mới có thời gian viết cho hai người một bức thư dài, kể rõ quá trình ra đi của A Tú và bố đẻ, đồng thời gửi chuyển lời dặn dò của ông Ngô viết cho Thuỷ Hồng trước lúc nhắm mắt. Ông Ngô một lần nữa hy vọng chị có thể trở về gia đình họ Ngô. Ông cảm thấy tiếc suốt đời không được gặp lại Thuỷ Hồng lần cuối cùng. Trong bức thư dài viết cho Ngô Hoán Hùng, với lối sống luôn luôn vì người khác, ông Ngô không có bất cứ trách móc và yêu cầu nào đối với Thuỷ Hồng.
Chu Do và Thuỷ Hồng đang suốt ngày say sưa trong tình yêu và đam mê nghệ thuật. Chu Do lại sắp sửa vẽ xong một bức tranh thể hình mới. Chỉ có điều mấy ngày gần đây, Thuỷ Hồng thấy hơi buồn. Chị mấy lần gọi điện cho A Nê. Căn nhà gác nhỏ chỉ vọng lại những hồi âm tút tút, luôn luôn không có người nhận điện thoại. Bức thư dài của anh Ngô, y như sấm sét giữa ban ngày, đánh chị ngã vật ra đất, đột nhiên biến rượu ngọt mà hai người dày công chưng cất thành một hầm rượu đắng.
Thuỷ Hồng không sao tưởng tượng ra cảnh đẫm máu. Hễ nhắm mắt vào, bóng dáng của A Tú vẫn hiện ra sống động. Mặc dù trong thư, anh Ngô không hề đả động đến nguyên nhân của vụ thảm sát, nhưng mỗi chữ lại hình như đang khiển trách sự tự tư và lạnh lùng của chị.
Thuỷ Hồng bị một đòn ngã qụy. Chị cảm thấy mình là kẻ phạm tội nhởn nhơ ngoài pháp luật, một tên tội phạm hình sự nặng, giết hại ba mạng người, nhưng đã cao chạy xa bay. Cho dù bị đưa ra vành móng ngựa, chị cũng khó lòng gột rửa sạch nghiệp chướng của mình. Gánh nặng tinh thần của lương tâm, đạo nghĩa và tình mẹ đè nặng trái tim chị, khiến chị cứ run rẩy và co giật từng cơn.
Ba mạng người, toàn là những người thân chị yêu mến sâu sắc. Sự chấm dứt của ba tính mạng đều có liên quan mật thiết đến sự bỏ đi của chị. A Tú là cô gái chị nhìn thấy lớn khôn, tiếp nhận gánh nặng chị vứt lại, chia sẻ nỗi lo lắng và ân hận của chị. A Tú một lòng một dạ yêu anh Ngô, lại đang mang trong bụng đứa con của gia đình họ Ngô, mang mơ ước tốt đẹp đối với tương lai, đã ra đi một cách không hề có phòng bị. Cô vừa mới chiếm được cảm tình của anh Ngô, mới chỉ hưởng có vài tháng hạnh phúc. Nếu không đi vào ngôi nhà nhỏ, A Tú vốn có thể lấy một chàng trai tương xứng vừa lòng, cuộc sống cũng có thể sung sướng dễ chịu. Kẻ nào đã gán lên đầu A Tú số phận rủi ro này? Suy nghĩ kỹ, trái tim Thuỷ Hồng đau nhức nhối, ân hận vô cùng.
Thuỷ Hồng cũng không nhẫn tâm đọc thư di chúc của ông Ngô. Ông Ngô viết bức thư này một ngày trước khi nhắm mắt. Nét chữ tuy run run, nhưng vẫn ngay ngắn, vẫn hết sức cẩn thận như vô số cuộc phẫu thuật ông đã mổ trong cuộc đời. Bố chồng là bậc trưởng thương yêu chị nhất trong cả dòng họ. Bố chồng yêu mến chị chân thành mà nhân từ. Từ khi chị gặp ông lần đầu, lòng yêu mến chân tình thẳng thắn của ông đối với chị đã bộc lộ trước mặt cả gia đình. Vì vậy chị đành phải đi khỏi ngôi nhà lớn nhà họ Ngô, dọn đến ở ngôi nhà nhỏ bên dòng sông. Nhưng mười mấy năm qua, bố chồng luôn luôn đối xử lịch sự với con dâu. Chưa bao giờ ông gọi riêng chị bàn việc nhà. Ông gói chặt lòng yêu thích tha thiết chân thành trong trái tim mình vào trong tình yêu mến bình thường giữa bố chồng và con dâu. Nhưng lần nào gặp bố chồng, chị đều có thể cảm thấy sự quan tâm và chăm sóc đặc biệt ở đằng sau tình thân ấy. Chị và anh Ngô lấy nhau không bao lâu, để ủng hộ chị theo đại học, ông Ngô đã đặc biệt ưu ái, thuê hẳn một người giúp việc trông coi A Nê. Trong các kỳ nghỉ, ông lại giúp chị mời thầy giáo phụ đạo ăn tiểu táo, nhờ người giúp chị giới thiệu bản thảo, lại còn chạy vạy khắp nơi xin việc cho chị. Thuỷ Hồng nhận biết một cách sâu sắc, bậc cha chú có học thức tu dưỡng đã biểu đạt và kìm chế tình yêu của mình như thế nào. Ngay đến mẹ chồng cũng không moi ra được một mảy may sai sót. Trước sự quan tâm yêu mến của bố đối với thế hệ con cháu, anh Ngô càng nhiều lần cảm động. Nhưng ông Ngô lại ra đi đột ngột. Bệnh tình của ông vốn có thể kéo dài một thời gian. Chắc là vì đau lòng quá độ, ông Ngô đã ra đi. Nghĩ đến già nửa năm sau khi quen Chu Do, sở dĩ chị chậm chấp nhận tình yêu của Chu Do, không chỉ vì A Nê, mà càng sợ đau lòng bố chồng. Ông Ngô không chỉ là bố, mà còn là ân nhân, là bậc thầy và bạn thân của chị. Chị cảm thấy hơn mười năm qua, tình cảm của chị đối với ông Ngô có lúc thậm chí vượt qua tình cảm đối với anh Ngô. Đó là thứ tình cảm yêu kính và ngưỡng mộ tinh thần trong sáng siêu phàm thoát tục, bây giờ đã trở nên hiếm hoi và quý báu biết chừng nào...
Lời căn dặn của ông Ngô đã đánh thức tình yêu tinh thần kiểu Platon của Thuỷ Hồng. Từ đáy lòng, chị tự trách mình càng ngày càng sâu nặng. Chị cảm thấy mình thất lỗi với bố chồng quá chừng. Cho đến lúc hấp hối, ông cũng không biết rút cuộc Thuỷ Hồng bỏ đi đâu. Trong những giây phút cuối cùng của cuộc đời, ông vẫn còn mong Thuỷ Hồng có thể trở về với dòng họ và vương quốc tinh thần của ông. Còn chị, trong năm này, chị say sưa trong tình yêu nồng nàn với Chu Do, rất ít nghĩ đến đi thăm ông. Lúc ông cần chị nhất, chị đã không giành cho ông một mảy may quan tâm và báo đáp nào. Thậm chí trước lúc ông tắt thở, chị cũng không gặp ông lần cuối cùng. Chị đã phản bội một bậc cha chú và người bạn đáng tôn kính nhất. Chị là người đàn bà hư hỏng tự tư, lạnh lùng, tàn khốc, mười tội ác không tha. Chị đã huỷ hoại hai thế hệ nhà họ Ngô. Chị biết ăn làm sao biết nói làm sao trước bà con bô lão của quê hương Tô Châu?
(còn tiếp)
Nguồn: Ái tình họa lang (Ngôi nhà của những bức tranh tình yêu). Tiểu thuyết của Trương Kháng Kháng. Vũ Công Hoan dịch. Nhà xuất bản Văn học sắp xuất bản.
www.trieuxuan.info |