Còn anh Ngô, người chồng trước kế thừa đạo đức phẩm chất của ông Ngô, có lẽ là một người khiến chị hổ thẹn nhất trong tất cả những người yêu mến chị. Sức khoẻ của anh cũng bị tổn thương khó lòng cứu vãn bởi nghiệp chướng của chị. Năm qua, anh Ngô tỏ ra khoan dung, độ lượng và thân thiện đối với chị, cũng vượt hẳn ngoài dự kiến của chị. Cho đến bây giờ, anh Ngô vẫn giữ kín bí mật của ba người. Vì hạnh phúc của con gái và chị, một mình anh gánh chịu sự giày vò về tinh thần người ngoài không thể tưởng tượng nổi. Nếu một năm trước, biết được kết cục và hậu quả bi thảm do cơn bão tình yêu gây ra, liệu chị có sà vào lòng Chu Do? Chị hỏi mình mà trong đầu trống rỗng mù mịt.
Còn tính mạng, nghệ thuật và mối tình vừa nẩy sinh quí như vàng của A Nê con gái đáng thương, tất tần tật đều bị chị bóp chết, bóp chết một cách không thể nào bù đắp cứu vãn nổi. Nếu... nếu....nếu tính mạng có thể sống lại một lần nữa, chị sẽ không bao giờ như thế này, chị sẽ để cho mọi người vì chị mà kiêu hãnh, tiếp tục sống hạnh phúc.
Lần đầu tiên Thuỷ Hồng sinh nghi và căm ghét tín điều mà trước kia chị cho là “yêu trên hết”. Chị không chịu nổi đau thương nặng nề và tự trách như vậy. Chị muốn khóc mà không có nước mắt. Chị khóc không thành tiếng. Nếu nước mắt giảm nhẹ được tội ác của chị, hãy để dòng sông góp bằng nước mắt của chị chở chị về Tô Châu. Ngoài cửa sổ trời tối dần. Trong nhà càng u ám. Cuối cùng, khi tỉnh lại trong hôn mê, chị nói với Chu Do luôn canh ở cạnh giường những lời lộn xộn:
- ... Em không chịu nổi nữa. Tình yêu và nghệ thuật tàn khốc quá, vừa bắt đầu đã bám đầy máu. Em không thể cùng anh tiếp tục hoàn thành sự nghiệp của chúng mình....Anh hãy cho em trở về Tô Châu. Em đã huỷ hoại ba mạng người. Em không thể tiếp tục bỏ mặc A Nê, anh Ngô và mẹ chồng.... A Tú và bố chồng đều đã chết. Mẹ chồng cũng đang ốm. Em phải về chăm sóc bà....Sự nghiệp của anh Ngô càng quan trọng. Không được để anh ấy đổ vỡ. Anh ấy còn phải cứu sống nhiều mạng người... A Nê càng đáng thương. Em không nỡ làm hỏng tiền đồ nghệ thuật của nó. Nó cần phải có mẹ. Nó là con gái duy nhất của em, là sự kéo dài mạng sống của em... Em phải về. Anh thân yêu, em cảm ơn anh đã giành anh cho em tình yêu. Em không báo đáp được tình yêu của anh... Chúng ta không phải sống trên trái đất, hình như chúng ta đang trôi trong vũ trụ, nhưng em phải trở về mặt đất. Em sẽ vĩnh viễn yêu anh. Chúng ta sẽ tiếp tục yêu nhau trong hồi ức và tưởng tượng, yêu cho đến tận cùng của mạng sống... Chu Do, em cầu xin anh, hãy để em về, em không chịu đựng được nữa...
- Thuỷ Hồng, em nói đi, cứ nói ra, có lẽ em dễ chịu hơn...
Chu Do choáng váng ôm Thuỷ Hồng. Anh cảm thấy mình cũng có cảm giác sắp hư thoát, ngay đến đứng cũng không vững.
Thuỷ Hồng gỡ tay anh ra, lảo đảo bước đến bên cửa.
- Em phải đi gọi điện cho anh Ngô, em sẽ về ngay bây giờ, em đi mua vé máy bay đây.
Chị vừa nói, vừa lúng túng mặc quần áo.
Chu Do tái mét mặt. Anh mơ hồ cảm thấy Thuỷ Hồng đã hạ quyết tâm ra đi thật. Hai mắt anh tối sầm. Ngưc anh đột nhiên cảm thấy bí bích và sợ hãi. Dồn hết sức anh hét to một tiếng. “Anh không cho em đi!” rồi ngất lịm.
Thuỷ Hồng sợ toát mồ hôi, vội vàng đóng cửa phòng, quay lại chăm sóc Chu Do. Chị bật đèn, run rẩy vắt khăn mặt nước lạnh, đắp lên trán Chu Do. Không đỡ nổi thân thể nặng nề của anh, chị đành phải để anh nằm trên thảm. Môi anh run rẩy, hai mắt nhắm nghiền, y như đã chết.
Thuỷ Hồng nhìn Chu Do sắc mặt nhợt nhạt. Nắm hai tay lạnh giá của anh, chị nghĩ đến khẩu súng săn hai nòng Chu Do thường vẫn cầm trong tay. Trước mặt chị dường như có hai nòng súng đen ngòm đang chĩa thẳng vào Chu Do. Nếu chị bỏ đi, con người có tính cách như Chu Do có lẽ sẽ gặp hoạ lớn không thể thanh toán nổi. Anh ấy sẽ dí súng vào cằm mình, đầu gục lên vai, rồi lấy chân bóp cò, sẽ để lại cho chị một tác phẩm nghệ thuật hành vi của tình yêu tuyệt vọng trên vải vẽ, một bức tranh vết đen vũ trụ khủng khiếp...Thuỷ Hồng cảm thấy mình cũng sắp sửa phát điên. Tóc rối bời, chân để trần, chị cứ cuống quýt chạy đi chạy lại trong buồng ngủ. Lúc này chị rất muốn nói với tất cả các cô gái dưới gầm trời, nếu không có đủ năng lực chịu đựng về tâm lý, xin chớ yêu nghệ sĩ điên cuồng. Bởi vì một khi đã yêu, sức hấp dẫn tàn khốc của anh ta sẽ khiến bạn mất hết dũng khí cắt bỏ. Thuỷ Hồng cúi xuống ôm Chu Do trong vòng tay, khẽ hôn anh. Nơi sâu thẳm của trái tim, chị vẫn cảm thấy mình rất cần tình yêu tàn nhẫn của Chu Do biết chừng nào, giúp chị chống đỡ gánh nặng tinh thần như ba trái núi lớn: lương tâm, tình thân và tình mẹ.
Thuỷ Hồng không biết thời gian đã trôi qua bao nhiêu lâu. Cuối cùng Chu Do đã động đậy trong lòng chị và từ từ mở mắt. Anh giơ cánh tay níu chặt cổ Thuỷ Hồng, áp mặt chị lên ngực mình, uể oải vuốt ve mái tóc chị, im lặng hồi lâu không nói. Thuỷ Hồng buông anh ra, đứng dậy rót cho anh một cốc nước. Anh bỗng run run, giật cốc nước đưa lên môi Thuỷ Hồng, cẩn thận cho chị uống từng ngụm. Chua xót trong lòng, Thuỷ Hồng cảm thấy như có một dòng suối của mạng sống đang cuồn cuộn chảy vào trái tim khô kiệt và yếu đuối của mình....
Chu Do ngửa cổ uống một hơi hết đầy cốc nước to. Sau đó anh lảo đảo đứng dậy, đi vào buồng vệ sinh, mở vòi nước lạnh gội đầu. Cặp môi run bần bật, anh đi ra, bật hết đèn tường, đèn trần và đèn bàn. Dưới ánh đèn sáng trắng, sắc mặt anh càng nhợt nhạt, hai mắt cứ trợn tròn, trông rất dữ tợn khó hiểu.
Anh cởi cúc áo cổ, thở một hơi dài, dìu thuỷ Hồng lên ghế xô pha, nói:
- Bây giờ em hãy nghe anh nói, phép tắc yêu của anh là trên hết mà tự tư. Nó giống như lãnh thổ và chủ quyền, không hề có nhân nhượng. Tình yêu không phải chính trị. Chính trị là nghệ thuật của thoả hiệp. Tình yêu lại là nghệ thuật của ngọc nát. Nếu phép tắc đạo đức không cho phép chúng ta tiếp tục yêu, anh đành phải chọn cái chết. Mọi tinh thần tốt đẹp của nhân loại đều đã từng lần lượt tiêu tan như ảo mộng. Chỉ có tình yêu vẫn tồn tại ở đáy lòng con người. Trong bệnh viện người điên, trong nhà tù và nghĩa địa công cộng, chúng ta vẫn có thể nhìn thấy những đàn ông đàn bà đã xương tan thịt nát vì tình yêu. Nếu trên trái đất ngay đến tình yêu cũng không có, thử hỏi có khác gì những tinh cầu băng giá? Theo anh, chẳng thà hãy cứ để một hành tinh nhỏ đụng vỡ cho xong....
- Nhưng... em về Tô Châu cũng là vì tình yêu...
- Không nên ngắt lời anh, em thân yêu! Hơn một năm nay, anh đã yêu em bằng tính mạng, nhưng anh không vi phạm pháp luật. Tại sao em lại đổ tội lên đầu anh? Phải chăng em đã tự tay giết A Tú? Phải chăng A Nê đã giết A Tú? Phải chăng em đã giết anh Ngô? Đều không phải! Tài sản của gia đình anh Ngô từ lâu đã bị bọn cướp nhòm ngó, sớm muộn bọn chúng sẽ ra tay. Nếu hôm đó cả anh Ngô lẫn A Tú ở nhà, có lẽ bọn chúng sẽ giết hết. Chúng đã có âm mưu sẵn từ lâu. Chúng thông thuộc gia đình anh Ngô như lòng bàn tay. Chúng đã vạch sách kế hoạch tỉ mỉ chu đáo đâu vào đấy. Trong ảo giác vừa giờ, anh còn nhìn thấy em, nếu anh không đón em đến Bắc Kinh, có lẽ ba nhân mạng trong gia đình em đều chết vô ích. Hiện nay, đâu có thiếu những vụ án đẫm máu như thế? Băng cướp này, ngay đến ngân hàng chúng cũng bẩy được, lẽ nào không bẩy được gia đình họ Ngô nhỏ bé? Anh cảm thấy tư duy của em có vấn đề. Em không lên án sự tham lam và hỗn loạn do bọn tham quan ô lại đã đem đến, trái lại em đã đổ lên đầu lên thân mình tội ác mà bọn chúng gây ra. Nếu nói em có tội, em chỉ có tội bao che. Em đã dùng trái tim lương thiện che chở nguồn gốc của tội ác xã hội. Em định lấy hạnh phúc của mình chôn vùi cho nền pháp chế ốm yếu đầy ung nhọt. Đau khổ đã khiến em mất lí trí. Em hồ đồ quá! Đây chẳng phải Thuỷ Hồng mà anh yêu!.
Trong thái độ bình tĩnh của Chu Do có mang theo sự xúc động. Trong xúc động có kèm cả phẫn nộ. Thuỷ Hồng chưa bao giờ chứng kiến Chu Do tỏ ra nghiêm khắc như lúc này. Bị anh cảm hoá sâu sắc, bỗng chốc chị ngây người, không biết nói gì hơn.
Bế Thuỷ Hồng đặt lên đùi, giọng đã ôn hoà hơn, Chu Do nói tiếp:
- Thuỷ Hồng, có đúng em cho rằng, giữa chúng ta chỉ có tình yêu? Nếu chúng ta không có sáng tạo chung đối với nghệ thuật, liệu có đất để yêu không? Đối với anh, chúng giống như không khí và nước, không thể thiếu một. Các nhà nghệ sĩ chân chính của Trung Quốc đều không ai thoát li nổi chính trị, không phải là những người thợ duy mĩ, duy nghệ. Trong sáng tác nghệ thuật theo con đường chính trị, họ đã dốc tinh thần tự do làm phản nông thôn bao vây thành thị, nghệ thuật bao vây chuyên chế. Trong xã hội hiện đại, sau khi người ta dần dần tỏ ra thất vọng và vất bỏ tín ngưỡng, nghệ thuật sẽ càng ngày càng thay thế vị trí của tôn giáo, trở thành miền đất hứa tinh thần cuối cùng của nhân loại...
Thuỷ Hồng ứa nước mắt. Chị ôm chặt Chu Do, ngả hẳn đầu vào lòng anh. Chị cảm thấy, đối với một nghệ sĩ có tư tưởng, tinh thần chính nghĩa, lòng phẫn nộ mạnh mẽ đối với tệ nạn tham nhũng và chế độ chuyên quyền độc đoán của Chu Do là hết sức quý báu. Chị hiểu ý nói của Chu Do. Trong đời sống của Chu Do, có lẽ chỉ có chị thật sự hiểu Chu Do. So với thể chế, tinh thần của nhân loại mà nghệ thụât biểu hiện sâu sắc hơn, bản chất hơn. Cải cách thể chế còn lâu lắm mới lật được lớp đất đóng băng của tâm lí truyền thống. Nếu không vào sâu lớp đất đóng băng này, cây non của hiện đại hoá phương Đông không bám được rễ sâu của mình, chỉ hơi gặp luồng gió lạnh, cây non sẽ bị chết rét. Mà văn hoá và nghệ thuật hiện đại lại có tác dụng có tính chất lật đổ đối với sự nín nhịn bảo thủ và độ lượng đã lắng đọng từ lâu của dân tộc phương Đông. Thuỷ Hồng cảm thấy mình đã đánh giá thấp Chu Do. Trong khi chị chìm đắm trong buồn đau của gia đình, thì Chu Do đã thò tay đỡ chị lên một tầng khác cao hơn để xem xét bất hạnh của con người. Trong lòng chị dạt dào lòng cảm ơn đối với Chu Do.
- Nhưng... em vẫn không yên tâm đối với A Nê – Thuỷ Hồng do dự nói - Có lẽ... có lẽ em vẫn phải về Tô Châu một chuyến thăm A Nê, anh Ngô và mẹ chồng... Em đi mau về ngay, bây giờ thì anh khỏi cần lo em đã ra đi là sẽ không bao giờ trở lại...
Chu Do im lặng một lúc gật đầu, nói:
- Vậy thì em tự quyết định. Anh không phải không để em về Tô Châu, mà anh lo em về với tâm trạng vừa rồi, không những không giúp nỏi anh Ngô và A Nê, mà lại thêm rắc rối cho họ... Nếu em về, cũng coi như thay anh đi thăm A Nê. Em biết anh muốn gặp cô bé đáng thương đến chừng nào. Hiện giờ nó hết sức cần sự chống đỡ của tình yêu. Em phải xua tan cảm giác mang tội của nó. Nhất định phải để nó hăng hái trở lại.
Ngay trong đêm, Chu Do dẫn Thuỷ Hồng ra bưu điện gần đó gọi điện đường dài cho anh Ngô. Vừa cầm ống nghe, Thuỷ Hồng đã nghẹn ngào không nói nên lời. Một lúc sau mới coi như đã nói với anh Ngô một cách rời rạc, mình sẽ về Tô Châu thăm A Nê. Phía đầu bên kia điện thoại im lặng đến mấy giây. Chị sốt ruột cứ a lô alô mãi, mới nghe thấy tiếng anh Ngô. Chị hoàn toàn bất ngờ, bằng giọng nói uyển chuyển anh Ngô đã khuyên chị không cần phải về Tô Châu làm gì cho thêm rắc rối. Sở dĩ anh thông báo muộn cho chị, cũng là sợ chị lại khuấy vào nỗi đau buồn này. Sự việc đã trôi đi gần hai tháng, chị có về hay không, cũng không có ích gì. Chị cứ yên tâm làm tốt công việc của mình.
Thuỷ Hồng nói:
- Nhưng em rất không yên tâm A Nê, để nó đau lòng tuyệt vọng như hiện giờ sao được? Anh vẫn cứ nên để nó vẽ tranh, đó là một nửa tính mạng của nó...
Đầu dây bên kia vọng đến giọng lạnh tanh của anh Ngô trong ống nghe:
- Nếu nó tiếp tục vẽ, cả tính mạng cũng đi theo. Theo anh, em khỏi cần lo đến việc của A Nê. Bọn anh vừa tìm cách để con bé bình tĩnh lại, em về sẽ xới lên con bệnh cũ. Không khéo, nó cứ sống chết đòi đi theo, lúc ấy em sẽ làm thế nào? Van xin em, hãy để cho cả nhà anh được yên hàn.
Thuỷ Hồng bị mấy câu nói của anh Ngô làm cho tắc nghẹn. Chị còn định nói thêm, nhưng anh Ngô hình như đã bỏ điện thoại. Trong ống nghe vọng lại những tiếng tút tút cấp tập.
Trên đường về nhà, Thuỷ Hồng cứ xụt xịt, toàn thân uể oải tựa vào vai Chu Do thất thểu bước. Chị không ngờ qua trận đòn nặng nề này, anh Ngô đã trở nên lạnh lùng đến thế. Đây không phải phong cách xử sự xưa nay của anh Ngô. Chắc chắn anh đã bị một chuỗi đau khổ hành hạ đâm ra lẫn cẫn. Nhưng anh Ngô đã phản đối chị về Tô Châu, mà chị tự ý về, chắc chắn sẽ không được anh Ngô vui lòng đón tiêp. Không khéo sẽ giống như anh ấy nói, A Nê cứ khăng khăng đòi theo mẹ, thì thật là khó xử.
Gió chiều mùa xuân thổi nhẹ tóc mai Thuỷ Hồng. Nhưng chị lại cảm thấy run rẩy từng cơn. Giá lạnh y như cái dùi, chọc vào sống lưng chị buốt thấu xương.
Ác mộng suốt một đêm, khiến Thuỷ Hồng thức dậy đầu đau như búa bổ. Chị buồn bã giả vờ ngủ, chỉ e trở mình đánh thức Chu Do, nhưng cảm thấy một tay của anh ấm áp đang giơ ra khe khẽ ôm cổ chị.
Chu Du lẩm bà lẩm bẩm nói:
- Ô, anh đã nghĩ ra, trong điện thoại em quên nói với anh Ngô, em đồng ý vất bỏ phần tài sản của ngôi nhà, đồng ý biếu gia đình họ Lý ngôi nhà gác nhỏ. Em nên trực tiếp viết thư cho ông Lý, hỏi thăm an ủi gia đình. Nói thực lòng, anh cũng tiếc ngôi nhà ấy. Đó là nơi chúng ta gặp mặt và yêu nhau lần đầu. Nhưng không sao, chờ khi nào có tiền chúng ta sẽ mua lại, phải không em?
Thấy Thuỷ Hồng im lặng, Chu Do lại nói:
- Theo anh, chẳng thà hôm nay em lại viết thư cho anh Ngô, nói cặn kẽ với anh ấy lí do em muốn về Tô Châu, chưa biết chừng anh Ngô sẽ đồng ý.
Thuỷ Hồng lắc đầu. Đêm qua mất ngủ, chị đã nghĩ ra nguyên nhân thật sự anh Ngô phản đối chị về Tô Châu – A Nê ở vào tình trạng chịu sức ép từ mọi phía như hiện nay, tuy nhìn có vẻ tuân theo nề nếp, nhưng trong lòng nhất định rất muốn dời khỏi ngôi nhà như một trại giam. Anh Ngô hiện giờ chỉ còn có đứa con gái A Nê. Đó là sự gửi gắm và hy vọng cuối cùng của anh. Anh tuyệt đối không để Thuỷ Hồng lại cướp mất tình yêu duy nhất của mình...
- Em tạm thời không về Tô Châu – Thuỷ Hồng thở dài, khoác áo ngủ ngồi dậy – Mặc dù nhớ A Nê đến mấy, em cũng phải nghĩ cho anh Ngô. Chu Do, anh nói đúng, xem ra em không về vẫn tốt hơn, cho dù đau khổ như thế nào đi chăng nữa, chúng ta hãy chịu đựng.
Thuỷ Hồng ngồi xuống bàn bắt đầu viết thư. Cứ từng bức, từng bức, chị viết một mạch từ sáng sớm đến chiều tối mới kiệt sức, quăng bút sà vào lòng Chu Do.
Sau hơn một tuần, A Nê, mẹ anh Ngô và bác Lý đều thông qua anh Ngô chuyển thư trả lời đến Thuỷ Hồng.
Trong thư anh Ngô nói, tư tưởng tình cảm của anh đã dần dần ổn định. Anh cảm thấy có lỗi bởi thái độ căng cứng trong điện thoại của mình hôm ấy.Tiếp thu ý kiến của Thuỷ Hồng, anh đã đích thân đến phố nhỏ tìm bà con lối xóm, nhờ họ giúp cung cấp những đầu mối của vụ án, phối hợp với cơ quan công an, nhanh chóng điều tra thủ phạm, đòi về những tài sản và tranh vẽ của Chu Do bị cướp đi, cũng là để giúp A Nê giảm bớt cảm giác mang tội trong lòng. Trong thư anh bảo Thuỷ Hồng, Bạch Hồng Căn căm ghét bọn phá nhà cướp của đến nghiến răng nghiến lợi. Anh nói may mà Thuỷ Hồng đã đi, không thì chị cũng có khả năng bị chúng giết hại. Ông chủ Bạch cũng đã khuyên góp cho Chi cục công an năm vạn đồng kinh phí điều tra vụ án Khi nào phá án, anh Bạch còn trọng thưởng cho nhân viên phá án có công. Hiện nay công tác phá án đang tiến triển, sớm muộn bọn cướp sẽ bị sa lưới pháp luật, rửa hận cho A Tú. Đời sống bản thân anh đã trở lại bình thường, thói quen chạy dài sáng sớm bị dừng hai tháng nay, lại bắt đầu tiếp tục, khoảng một thời gian nữa, anh có thể trở lại phòng mổ. Ngay đến những gia đình bệnh nhân trong bệnh viện, cũng tự phát thông qua các con đường để phối hợp phá án. Họ liên danh yêu cầu lãnh đạo bệnh viện cho anh sớm trở lại làm việc, thậm chí có bệnh nhân tự động chấp nhận rủi ro sự cố điều trị có thể xảy ra. Những ngày này, trong nhà điện thoại liên miên, nỗi bất hạnh cuả anh đã bắt đầu được xã hội đồng tình. Anh đã xuất hiện trước xã hội và dân chúng với hình tượng một bác sĩ có tay nghề cao siêu. Anh cảm thấy mình không cô độc. Trên bàn mổ căng thẳng, anh cần phải quên nỗi đau của mình để bản thân đứng vững trở lại. Anh còn khuyên Thuỷ Hồng phải biết quý trọng tình yêu chị đã có, bởi vì cái giá của tình yêu quá lớn, tình yêu của chị phải tăng thêm giá trị vì sự nghiệp của mọi người.
Nhưng anh vẫn chưa nhắc đến việc Thuỷ Hồng về Tô Châu. Thuỷ Hồng cảm thấy mình phán đoán đúng. Lòng tự tôn không cho phép anh tiếp nhận sự thương hại của Thuỷ Hồng. Anh phải và cũng chỉ có thể canh giữ chặt mảnh đất màu xanh cuối cùng là A Nê.
Thư của gia đình họ Lý cũng cảm ơn thiện chí và lời thăm hỏi chân thành của Thuỷ Hồng. Được sự giúp đỡ và an ủi của anh em gia đình họ Ngô, gia đình họ Lý đã trải qua những ngày đau khổ nhất. Họ cũng đã thông cảm với A Nê. Người con trai cả gia đình họ Lý đã xin lỗi A Nê. Hai nhà Ngô - Lý đã quan tâm, thường xuyên đi lại với nhau như trước. Anh Ngô cũng thường mời bố mẹ vợ sang nhà chơi. Thủ tục chuyển nhượng tài sản đang làm. Họ cảm ơn Thuỷ Hồng đã biếu tặng khẳng khái, mong Thuỷ Hồng đừng quên Tô Châu, khi nào rỗi sẽ về thăm. Ai cũng nhớ mong chị...
Thư của mẹ chồng, tuy chỉ có vài dòng ngắn ngủi, nhưng cứ van nài Thuỷ Hồng trở về cai quản gia đình, thoả nguyện của ông Ngô trước lúc nhắm mắt, cũng là để tổ chức lại một gia đình hoàn chỉnh. Bà còn kín đáo xin lỗi Thuỷ Hồng việc làm của mình trước kia. Bà cứ nhắc đi nhắc lại, thật tình bà vô cùng yêu chị, như yêu con gái mình... Thuỷ Hồng chú ý đến dòng chữ anh Ngô viết kèm theo ở góc dưới bên trái bức thư: Lời người già nói vậy thôi, khỏi cần suy nghĩ.
Cuối cùng là thư của A Nê. Thư dầy những mấy trang. Chữ viết ngoáy mà lộn xộn, rõ ràng còn để những nước mắt lốm đốm trên từng trang từng dòng. Thư của cô bé, y như một ngọn núi lửa âm ỉ đã lâu, trút sang mẹ nỗi ân hận, đau khổ kìm nén và oan ức vô hạn của mình. Cô bé nói, bố đã không bao giờ cho phép cô động bút vẽ, mà bản thân cô cũng sợ màu sắc. Cô bé nói, Bắc Kinh đã trở nên xa vời và mù mịt đối với cô. Hình tượng anh trai Chu Do cũng đã mờ nhạt dần trong kí ức của cô. Cô bé nói, cô đang cố gắng học thêm bài văn hoá, cô không có khả năng lại thi vào truờng phổ thông trung học phụ thuộc học viện mỹ thuật. Cô bé cũng không dám viết thư cho anh trai... Cô bé hỏi mẹ, bao giờ về, có đón cô đi không, cô muốn đi khỏi nơi này, nhưng lại sợ bố sẽ quá ư đau lòng, cho nên cô không biết làm thế nào hơn...
Cầm thư của A Nê, Thuỷ Hồng vừa xem vừa khóc, lòng đau như cắt. Làm người mẹ, chị biết làm gì để cứu con gái mình? Một bên là con gái yêu sâu nặng, bên kia là Chu Do cũng yêu nồng nàn, chị không nỡ bỏ bên nào. Con người hiện đại tổ hợp lại hôn nhân của mình, vốn là để tìm hạnh phúc. Nhưng trong quá trình tổ hợp họ sẽ đứng trước một vấn đề khó khăn vĩnh viễn không thể giải quyết, đó là tổn thương tâm lý con cái, đồng thời bắt những đứa con vô tội trả lợi tức nặng cho mình. Trong thư, A Nê tuy trách lung tung Chu Do không đến Tô Châu trong dịp nghỉ đông, nhưng Thuỷ Hồng cảm thấy, trong sâu thẳm trái tim con gái vẫn đang yêu anh trai của mình. Chỉ có điều, nó không thể yêu và cũng không dám yêu. Xét về mặt tình cảm, Thuỷ Hồng không tán thành cách làm của anh Ngô bắt con gái bỏ học hội hoạ từ đây. Chị vô cùng đau xót, vì con gái sẽ mất đi một cơ hội thử thách mình trong lĩnh vực nghệ thuật. Nhưng cán cân lý trí, lại buộc chị phải chọn “cách điều trị đóng băng” của anh Ngô. Họ phải làm cho A Nê biết lãng quên, làm cho thần kinh bị chấn thương nặng của cô bé tạm thời được thư giãn và bình tĩnh trở lại, chờ con gái khôn lớn sẽ tự chọn.
Đọc thư của A Nê, Chu Do đã phải khóc mấy lần. Anh đã từng khảng khái nói với Thuỷ Hồng, giữ lại một gia đình bất hạnh, chẳng thà tổ chức lại một tình yêu thành công. Nhưng lúc này đứng trước cái giá to lớn của thực tiễn phải trả cho lí luận của chính mình, anh cũng đâm ra lo sợ và tự trách. Thậm chí trong đầu anh chợt loé lên ý nghĩ đi Tô Châu thăm A Nê. Anh ngồi một chỗ, cứ uống hết cốc này đến cốc khác thứ rượu nặng “nhị quá đầu” chát đắng, chỉ muốn uống cho say.
Lâu lắm, từ trong tay Thuỷ Hồng, Chu Do cầm bức thư của A Nê bảo chị, anh cũng phải viết thư cho cô bé. Anh không những không trách cô bé đánh mất tranh của mình, mà con động viên cô bé dũng cảm bò dậy trong đau khổ khó khăn của cuộc đời. Những bức tranh ấy, coi như anh trai trả học phí cho em gái út. Tranh mất, có thể vẽ lại, nhưng trong bất cứ hoàn cảnh khó khăn nào, con người không được để mất lòng chân thành đối với nghệ thuật và vẻ đẹp...
Nói rồi vất li rượu, ngồi trước bàn, Chu Do lấy giấy viết thư. Thuỷ Hồng nắm chặt bút máy của anh, nói:
- Em chẳng phải đã nói với anh rồi sao, anh có viết cũng bằng không, thư của anh, anh Ngô sẽ không cho con bé xem đâu.
Chu Do cố chấp giằng lại bút. Anh nói:
- Không cho đọc, anh cũng phải viết. Anh phải nói cho con bé nghe những lời từ trái tim, cất giữ để sau này nó đọc, thế nào cũng có ngày con bé sẽ nhận được thư này.
Nhìn Chu Do mấy hôm nay bận tíu tít chăm sóc mình như chăm sóc bệnh nhân, trong lòng đang chua xót của Thuỷ Hồng dạt dào tình yêu thương. Chu Do gầy dộc đi, khuôn mặt nhợt nhạt có vẻ lo âu mà tiều tuỵ. Sức ép tâm lí đè nặng tinh thần anh, có lẽ nặng hơn chị. Tình yêu của anh là một chiếc cầu độc mộc. Cả đời anh đều đi trên chiếc cầu độc mộc không có đường lùi. Nếu chị rút mất cây gỗ tròn, có lẽ anh sẽ rơi xuống vực thẳm, không bao giờ bò lên được. Đến Bắc Kinh lần đầu tiên, trong phòng tranh của anh, chị đã nhận tình yêu và công tắc nghệ thuật anh trịnh trọng trao cho mình. Công tắc ấy dường như chỉ có nút mở, không có nút đóng. Chị không thể đóng nó, đẩy anh về phía tối tăm. Giữa đất trời hỗn độn, một bên chị là con gái, bên kia là Chu Do, nhưng không phải chị đứng trước mâu thuẫn của tình yêu và tình mẹ, mà là xung đột giữa tình mẹ và tình mẹ - A Nê và Chu Do đều là con của chị. Mất đi một người nào, chị đều không thể sống. Nghệ sĩ đam mê, cho dù sống đến độ tuổi nào, cũng vẫn yêu mẫu tính, thượng đế ban cho đàn bà trách nhiệm và nghĩa vụ như vậy. Những lời kêu gọi nữ quyền say sưa trở nên trống rỗng mà nhợt nhạt biết chừng nào.
Mười mấy ngày nay, trải qua một cuộc man du mạo hiểm về linh hồn, Thuỷ Hồng lại trở về thế giới của hai người sống nương tựa bên nhau. Từ trong trận đòn đau của tai hoạ lớn bất ngờ, chị đã từ từ đứng dậy. Đối với chị, trong thế giới này những ngày hạnh phúc có thể nói càng ngày càng hiếm, cũng có thể nói càng ngày càng nhiều. Nhưng chị vẫn nguyện giữ vững mật độ chất lượng của mỗi ngày tình yêu dành cho chị. Chị sẽ sống một ngày bằng hai ngày ba ngày...
Thuỷ Hồng kéo Chu Do đến bên mình, lần đầu tiên chị mở cúc cởi áo cho anh nằm lên người anh hôn hít. Nhưng cho dù Thuỷ Hồng kích thích Chu Do bằng thân thể xinh đẹp như thế nào, hai người vẫn không thể xô sóng nổi. Hình như Chu Do chưa hết thương đau, giống như tự dưng mất giới tính, dù anh có cố gắng đến mấy, ván trượt vẫn rơi hết lần này đến lần khác, thất bại liên miên, ngã xuống nước biển băng giá.
Đỡ đầu Thuỷ Hồng, Chu Do mệt mỏi, nói:
- Thông cảm cho anh, không sao đâu. Chỉ cần em không dời khỏi anh, anh sẽ khoẻ trở lại. Mấy hôm nữa, anh sẽ xô em lên trời... Thuỷ Hồng, nói chuyện với anh đi, bây giờ anh chỉ muốn nghe em nói, nói bên tai anh... nói khe khẽ, khe khẽ thôi...
Nép vào bên Chu Do, Thuỷ Hồng vỗ nhẹ thân thể anh. Chị cảm thấy chiếc cầu độc mộc của anh đang tròng trành chực đổ. Muốn kéo anh lên, chữa khỏi vết thương, dìu lên cầu, cũng cần phải mất một vài ngày.
Chương 25
Từ mùa xuân đến mùa hè năm nay, anh Ngô thường xuyên viết thư cho Thuỷ Hồng, nói với chị một số tình hình của A Nê và của mình, để chị yên tâm. Từ những bức thư ấy, Thuỷ Hồng thấy anh Ngô đã bình tĩnh trở lại, dần dần nguôi được cơn giận đối với Thuỷ Hồng khi mới xẩy ra tai hoạ, trở lại hữu hảo và khoáng đạt. Thuỷ Hồng không biết rút cuộc do tác dụng của sức miễn dịch trời sinh của anh Ngô, hay do lòng thành khẩn của mình đã cảm hoá anh Ngô? Tóm lại, đọc thư của anh Ngô, giống như tâm sự với bạn thân lâu năm, hai bên không có chuyện gì là không nói. Trải qua cuộc biến cố to lớn vụ thảm sát bên sông, hình như hai bên lại cùng bước lên một con thuyền, cầm tay nhau trôi dạt trong bão gió cuộc đời.
Trong thư anh Ngô nói với Thuỷ Hồng, hiện giờ ngoài A Nê ra, anh chỉ biết làm việc. Phẫu thuật là phương thức duy nhất để anh gạt hết nỗi khổ. Phẫu thuật của anh càng ngày càng thành công, ngay đến khu khai phá của thành phố và nhà buôn nước ngoài ở Thượng Hải, cũng mến mộ danh tiếng anh tìm đến. Gần đây, anh đã được đề bạt làm phó viện trưởng, nhưng anh không thích làm hành chính, vẫn đảm nhiệm mổ chính, nhận mổ những ca tương đối rủi ro. Phóng viên một tờ báo của thành phố đã viết phóng sự về anh, còn được báo tỉnh đăng lại. Nghe đâu đài truyền hình cũng sắp sửa quay phim chuyên đề về anh. Thành công và vinh dự mới, lòng cảm ơn và tôn sùng của người bệnh, cũng ít nhiều bù đắp cho cuộc đời còn lại của anh. Những cô gái trước kia thầm yêu anh và những người theo đuổi mới lại vây quanh anh. Nhưng anh không dám lại để tình yêu hôn nhân gợi lại vết đau âm ỉ của mình. Niềm vui duy nhất ngoài công việc của anh là phụ đạo A Nê học tập. Anh thường ngồi một bên nhìn khuôn mặt và thân hình xinh đẹp của A Nê dưới ánh đèn mát dịu. Đó là hưởng thụ tinh thần cực lớn của anh. A Nê càng ngày càng giống mẹ, có lúc anh tự dưng cảm thấy hình như Thuỷ Hồng chưa dời khỏi nơi này.
A Nê tuy vẫn thường nằm mơ những cơn ác mộng, thỉnh thoảng lại đột nhiên choáng ngất. Nhưng đó là hiện tượng tạm thời, tinh thần bị tổn thương ở tuổi thanh xuân, chỉ cần điều dưỡng thoả đáng, tư tưởng tình cảm ổn định, qua một thời gian có lẽ sẽ tự nhiên khỏi bệnh. Hiện giờ, được anh và bà nội tận tâm chăm sóc, sắc mặt A Nê đã dần dần trở nên hồng hào, chiều cao và trọng lượng cơ thể đều tăng, nhìn vào giống như một cô gái lớn mười sáu mười bẩy tuổi. Đi trên đường phố, tỉ lệ những người quay đầu lại nhìn quả thật quá cao, còn có mấy chàng trai viết thư cho cô bé, cô bé đã xé trước mặt bố. Thành tích học tập của A Nê tuy còn chưa lý tưởng, kiểm tra giữa kỳ xếp thứ sáu toàn lớp, nhưng A Nê có quyết tâm thi tốt hơn trong kỳ thi tốt nghiệp. A Nê đã đồng ý ghi tên thi vào trường phổ thông trung học, còn bảo phải tranh thủ thi vào trường trọng điểm. Hình như cô bé đặc biệt coi trọng môn tiếng Anh, có lần cô đẫ tiết lộ với bà nội sau này sẽ ra nước ngoài du học, học ở tường nghệ thuật nước ngoài. Bà nội hoảng quá xuýt nữa cất giấu vở bài tập tiếng Anh của cô. Khi anh Ngô hỏi vòng hỏi vèo con gái, A Nê đã tránh không trả lời. Nhưng về cơ bản cô bé đã bỏ bút vẽ, thường ngồi một mình ở chỗ kín viết nhật ký. Anh Ngô bảo chỉ cần con gái không vẽ tranh, viết nhật ký cũng chẳng sao.
Trong thư anh còn bảo Thuỷ Hồng, người bạn học cũ Bạch Hồng Căn của chị vô cùng quan tâm đối với A Nê. Ngày chủ nhật anh ấy thường dẫn A Nê và bạn học đến một câu lạc bộ thể dục bên Thái Hồ đánh tennis. Anh ấy bảo đánh tennis có lợi cho việc khôi phục sức khoẻ của A Nê. Hình như A Nê cũng mê đánh tennis. Một hôm trời mưa to, khi tan học về nhà, ANê bị ngã trên con đường đá lầy lội ở cổng trường. Bạch Hồng Căn lập tức bỏ tiền tài trợ, rải một con đường nhựa cho nhà trường nối liền với bến xe ngoài đường cái. Hôm nào thời tiết xấu, trước khi A Nê tan học, anh ấy còn đích thân lái xe đến trường đón A Nê, đỗ xe ở chỗ gần cổng trường, có khi chờ một hai tiếng đồng hồ. Đối với A Nê, Bạch Hồng Căn có thể nói là hết sức chiều chuộng, cần gì có nấy. Từ sau khi anh ấy nhận trách nhiêm bảo vệ A Nê, A Nê không còn bị bọn lưu manh quấy rối. Nhưng hình như anh Ngô hơi lo lo về chuyện này, tuy hiện giờ anh vẫn chưa nhìn thấy, đằng sau sự quan tâm như bậc cha chú của Bạch Hồng Căn, liệu có nội dung gì nhiều hơn, sâu hơn. Nhưng cứ thế kéo dài, sự việc thế nào cũng phát triển, A Nê lại sẽ thế nào?Anh Ngô đành phải nói hết với Thuỷ Hồng để chị suy ngẫm.
Thuỷ Hồng ít nhiều cũng hiểu được tâm tư của Bạch Hồng Căn. Người bạn học cũ này đã yêu chị khi chị mới mười bốn mười lăm tuổi. Thời ấy gia đình anh nghèo túng, nên học quá kém, Thuỷ Hồng coi thường anh, đương nhiên anh ấy không dám bày tỏ với Thuỷ Hồng. Nhưng chị thường cảm thấy anh ấy ngấm ngầm bảo vệ mình. Một lần, để đuổi một băng lưu manh bám theo chị, Bạch Hồng Căn đă lao vào đánh bọn chúng bị sứt đầu mẻ trán, cuối cùng anh ấy chỉ xin chị dùng chiếc khăn mùi xoa của mình băng bó cho anh. Chị vừa rút chiếc khăn mùi xoa ra khỏi túi, anh ấy đã hôn túi bụi lên chiếc khăn mùi xoa. Thuỷ Hồng biết tâm tư của anh ấy, không bao giờ còn coi thường anh, nhưng cũng không xa không gần anh. Tốt nghiệp phổ thông cơ sở, anh thi trượt đại học, vậy là xuống biển buôn ngay từ sớm, muốn dành lâý một nghề khiến mọi người hâm mộ, để Thuỷ Hồng lau mắt nhìn anh. Anh bắt đầu bằng việc tiếp quản cửa hàng xén nhỏ của bố mẹ, Anh mở cửa hiệu, nhận thầu khoán, buôn bán quần áo, lập xưởng may đo, vất vả khổ sở tích góp từng tháng từng năm, mười mấy năm nay, anh đã phấn đấu trở thành một ông chủ lớn của công ty tư doanh quần áo tơ lụa nổi tiếng ở Giang Nam. Tính kiên nhẫn và dẻo dai theo đuổi Thuỷ Hồng của anh cũng giống như phong cách kiên cường bất khuất của anh trên thương trường. Tiếc rằng trình độ học vấn và tính cách của anh cách Thuỷ Hồng quá xa, không thì Thuỷ Hồng rất khó chống đỡ nổi sự theo đuổi không mệt mỏi của anh kéo dài gần hai mươi năm. Nhưng cuối cùng ông chủ Bạch vẫn không lấy được Thuỷ Hồng. Lần anh Ngô đền Bắc Kinh cũng đã từng nhắc đến Bạch Hồng Căn. Sau khi Thuỷ Hồng dời Tô Châu, ông chủ Bạch đã bỏ công dò hỏi tin tức của chị. Khi anh Ngô nói đi nói lại với Bạch Hồng Căn, Thuỷ Hồng đã yêu một người có thực lực hơn anh ấy, hình như anh ấy mới chịu thôi. Sau đó anh ấy im hơi lặng tiếng một thời gian dài, mãi đến khi nhà họ Ngô xảy ra tai hoạ, Bạch Hồng Căn mới xuất hiện trở lại.
Vậy thì liệu bây giờ anh ấy có chuyển ý định canh cánh bên lòng chưa thực hiên được của mình sang A Nê?
Thuỷ Hồng không dám khẳng định. Có lẽ vì trông A Nê rất giống Thuỷ Hồng thời còn trẻ, anh ấy chỉ gửi gắm nỗi niềm chưa thực hiện của mình vào A Nê, để tim một sự thoả mãn về tâm lý? Hay nói cách khác, anh ấy đã quen theo đuổi vô vọng. Mà ngưỡng mộ và tiếp cận các cô gái đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống của anh ấy. Con người có luc kì quặc lắm. Sống trên đời, thường người nào cũng mang theo tâm nguyện và ảo tưởng khá trọn vẹn, thậm chí không tiếc tất cả, đến chết cũng khó từ bỏ. Thuỷ Hồng cảm thấy mình ít nhiều cũng hiểu việc làm vì người khác của Bạch Hồng Căn. Đối với A Nê, anh ấy không đến nỗi có suy nghĩ ngoài bổn phận. Trong thư chị khuyên anh Ngô không nên quá ư ngạc nhiên về điều này. Là bạn cũ nhiều năm của mẹ, Bạch Hồng Căn quan tâm A Nê cũng là chuyện thường tình. Hơn nữa, A Nê cũng rất cần thoát khỏi cơn ác mộng đã qua. Tầm mắt của cô bé nên từ cái tôi bé bỏng mở rộng vào đời sống xã hội bao la. Không nên cứ nhốt mãi A Nê ở trong nhà, dưới sự bảo vệ của Bạch Hồng Căn, hãy để cho cô bé có thêm nhiều bạn, việc này có ích cho sự hồi phục sức khoẻ của A Nê. Viết thư trả lời, anh Ngô cũng đồng ý ý kiến của Thuỷ Hồng. Anh nói, xem ra trong mùa hoa, nguy cơ mai phục bốn phía của A Nê, có thêm ánh nắng và tia tử ngoại, có lẽ sẽ tăng thêm sức đề kháng chống siêu vi trùng và vi khuẩn.
Cùng với thời tiết ngày ngày ấm dần lên, cùng với hoa hoè và hoa mai lá du trên đường phố ngày ngày nở dăng dăng rực rỡ, tâm tình của Thuỷ Hồng cũng dần dần dễ chịu, thư thái. Đây là mùa xuân đầu tiên sau khi Thuỷ Hồng xa nhà. Mùi hoa thơm nức ngoài cửa sổ, như đôi tay mềm mại, xoa phẳng vết thương trong tim chị.
Sức ép của phương nam dần dần giảm đi, thì con sói Chu Do phương bắc lại hiện rõ thiên tính tự do đam mê của nó. Ban ngày anh say mê mà lại tĩnh tâm vẽ tranh. Ban đêm anh ôm ấp thuỷ Hồng, nhằm nâng cao chất lượng tình yêu trong từng đêm, cùng với Thuỷ Hồng ngao du trên bầu trời sao và xô sóng trong biển tình.
Tình yêu nồng cháy trong sáng và chân tình của Chu Do đã xua tan gánh nặng tinh thần vương vấn trong trái tim Thuỷ Hồng. Chị được Chu Do ban tặng hết niềm vui sửng sốt này đến niềm vui sửng sốt khác, đưa chị về trong cao trào cuồng nhiệt của tình yêu cháy bỏng. Hưng phấn và mừng vui của Chu Do đã xuất phát từ bản năng của anh, lại bắt nguồn từ thành công của anh trong tìm tòi nghệ thuật. Tình yêu nồng nàn cao độ và vẻ đẹp đã cho anh tinh lực dồi dào không cạn và những cảm thụ tuyệt vời mới lạ. Thuỷ Hồng phát hiện, tiếp theo cuộc oanh tạc hội hoạ đối với Tô Châu của mùa thu năm ngoái, Chu Do lại tiến vào thời kỳ cao điểm sáng tác lần thứ hai. Giống như xô sóng, anh dốc hết tâm hồn và thể xác vượt lên đỉnh núi nghệ thuật cao hơn, xông lên trời cao, nhào xuống lòng đất, lao vào lớp đất đóng băng, tấn công vào tầm thường và đê tiện của hoạ đàn. Từng bức, từng bức tranh to nhỏ, dạt dào tinh thần tự do hiện đại và tràn đầy sức căng nghệ thuật, cứ lần lượt ra đời như giếng phun cao áp. Không phải ngày nào Chu Do cũng vẽ tranh thân thể Thuỷ Hồng. Sang cuối tháng ba, lò sưởi dừng cấp hơi nóng, trong nhà còn lạnh, anh không muốn để Thủy Hồng bị rét, đã tạm thời để chị làm việc riêng của mình, còn anh dựa vào những cảm giác ghi lại trong đầu thường ngày, anh cấu tứ thành tranh, vẽ thành tác phẩm. Sáng tác của anh trong thời gian này, mầu sắc càng ngày càng dữ dội, cấu tứ càng ngày càng hoang đường, tranh càng ngày càng đơn giản. Anh vẽ một nhóm tranh trừu tượng lẫn lộn màu sắc rực rỡ và âm u. Vẽ xong anh đề tên là “ấn tượng đô thị cuối thế kỷ”, có ý nghĩa tượng trưng và tính hiện thực đậm đà sâu sắc. Khi vẽ xong toàn bộ nhóm tranh, anh mới điệu Thuỷ Hồng đến, bế chị đến trước tranh để thưởng thức. Đứng trước nhóm tranh của anh, Thuỷ Hồng im lặng, như cười mà không phải cười.
Chu Do thấp thỏm không yên, hỏi:
- Nói mau đi em, nói mau đi em. Xét cho cùng em cảm thấy thế nào?
Thuỷ Hồng đáp:
- Lần đầu tiên em phát hiện phẫn nộ không những xuất thi nhân, mà còn xuất màu sắc. Mầu sắc cuả phẫn nộ đẹp vô cùng, đặc biệt có hiệu quả. Nhưng nếu anh còn muốn đem đi tham gia triển lãm, tốt nhất nên đổi tên, đổi thành một xơ ri không tiêu đề gì đó.
Chu Do nheo mắt nhìn tranh, ngẫm nghĩ lời nói của Thuỷ Hồng, bỗng gõ vào đầu mình, giải thích:
- Em xem bức này, bức này anh đã đặt cho nó một cái tên la “Cảng Thái tử hào hoa”. ồ, ánh nắng, bãi cát, cây xương rồng to tướng có gai, đằng sau gai xương rồng to mập là một ngôi nhà sang trọng... phong cảnh của phái hậu ấn tượng, thế nào? Eo biển đó vốn là Cảng Thái tử, đó là địa danh, không được nhìn chữ suy nghĩa. Đương nhiên tác phẩm nghệ thuật sẽ khiến người xem liên tưởng, hoặc tưởng tượng xa vời. Nếu không qua nổi kiểm duyệt, thì chỉ có thể chứng tỏ bị xương rồng đâm đau tay. Vậy anh đành phải đem nó xuất khẩu ra nước ngoài, rồi chuyển về bán trong nước. Toàn thế giới chỗ nào chẳng có Cảng Thái tử.
Thuỷ Hồng đấm Chu Do một cái, cười bảo:
- Em thấy anh càng ngày càng láu cá, từ nay về sau nên sửa chữ Do trong hai chữ Chu Do thành chữ dầu có ba chấm thuỷ.
- Tranh sơn dầu mà lại không có dầu được à? Cho dù gọi anh là Chu Dầu người ta cũng chắc chắn nhận định là dầu của dầu pha mầu, chứ không phải chữ dầu của rau cải dầu, hoặc dầu bánh quẩy? Em có tin không?
Chu Do bắt đầu tán dóc với Thuỷ Hồng.
- Chưa hẳn đã thế, biết đâu là chữ dầu của mỏ dầu thì sao? Nếu là em, em nguyện anh là một mỏ dầu lớn, là một giếng dầu sản lượng cao, dầu phun ra, phun thẳng vào tranh, đỡ tốn công...
Hai người ôm nhau cười ngặt nghẽo.
Thuỷ Hồng quý trọng từng ngày sống với Chu Do. Kế hoạch sáng tác của chị cũng dần dần có dáng dấp và thành sườn. Về hội hoạ, Thuỷ Hồng là model hình thể xinh đẹp và suối nước linh cảm nghệ thuật của Chu Do. Về sáng tác, Chu Do lại là model nghệ thuật và đôi cánh tư tưởng của Thuỷ Hồng. Chị dự định song song với viết một số bài bình luận nghệ thuật, chị sẽ bắt tay viết một tác phẩm chuyên đề “Tình yêu và nghệ thuật” mà chị luôn luôn muốn viết. Trọng điểm là tìm tòi tình yêu và sáng tác nghệ thuật của nghệ sĩ, nhất là mối quan hệ với sáng tác mỹ thuật và vấn đề tác dụng lẫn nhau, cũng như ảnh hưởng tích cực, tiêu cực của tình yêu và nghệ thuật đối với loài người, xã hội và tinh thần. Thời gian này chị đề nghị Chu Do mượn từ thư viện và từ chỗ thầy giáo và bạn bè một số sách mà chị muốn xem, kể cả những quyển tranh và tác phẩm lý luận nghệ thuật. Chị trích sao ra hàng loạt tấm phích. Chị cảm thấy viết quyển sách này trong “hầm rượu” và trong lòng Chu Do, đúng là một việc thích thú vô cùng. Mùi thơm của dầu, mùi thơm của rượu và mùi thơm thân thể đàn ông của Chu Do sẽ là men kích thích ham muốn và rung động sáng tác của chị. Viết mệt rồi, chị lăn vào lòng Chu Do nghỉ, vẽ mệt rồi, Chu Do len lén vòng ra phía sau Thuỷ Hồng vòng hai tay ôm chị từ sau lưng, tựa vào thân thể mềm mại của chị để xả hơi, thư giãn. Họ cùng nấu cơm, giặt quần áo, cùng trao đổi, cùng tranh cãi khi ăn cơm, cùng đấu khẩu, cùng đùa nghịch khi rỗi rãi. Hai người chỉ tiếp xúc với thế giới bên ngoài qua vô tuyến truyền hình, báo chí và thư từ. Chu Do nói với Thuỷ Hồng, đó là nguyên nhân anh không lắp điện thoại. Hình như họ muốn chuyển phòng làm việc vào trong khoang vũ trụ chỉ có hai phi hành viên. Khoang vũ trụ này không thoát ly sức hút của trái đất, nhưng luôn luôn giữ quan hệ biệt lập với xã hội địa cầu, sáng tạo vẻ đẹp độc đáo của vũ trụ nội tâm trong khoảng cách.
Nếu không phải vì A Nê, Thuỷ Hồng rất muốn mời ngay mặt trăng xuống để chủ trì lễ cưới của chị và Chu Do, đồng thời mượn ánh sáng trong mát của chị Hằng để làm tấm voan cưới, lại cắt một khoảng trời màu đen may cho Chu Do một bộ lễ phục. Trong khoang vũ trụ này, có một bài khúc quân hành lễ cưới đủ để họ bay mấy vòng quanh trái đất, một cái hôn rõ dài có thể bay ngang già nửa đất nước Trung Quốc. Chị cảm thấy hình cầu màu xanh nhạt, nếu kéo dài khoảng cách như thưởng thức tranh sơn dầu, nó sẽ trở nên đẹp đẽ hơn. Cự ly có thể tránh được tham lam và tàn bạo, ngăn được ô nhiễm và buồn phiền. Nếu muốn xoá bỏ hoàn toàn sự tranh giành và thù hận của loài người, thì phải dựa vào nền khoa học phát triển cao, tách dân số ngày càng đông đúc ra khỏi trái đất, phân tán đến vô số những con tàu vũ trụ, phân tán đến những hành tinh mới và không gian mới xa xôi, phân tán vào trong vũ trụ bao la. Chỉ khi nào loài người phân tán đến khó nhìn thấy nhau mà lưu luyến không dời, thì tình bạn và hoà bình mới nảy sinh trở lại. Thời kỳ bộ lạc nguyên thuỷ, dân số thưa thớt, cự ly xa vời, con người trong xã hội bộ lạc đã từng hữu hảo vô cùng, sau đó bộ lạc tăng lên, biên giới giao nhau, phân phối tài nguyên trở nên căng thẳng, thì sự tranh đoạt và chém giết lẫn nhau đã diễn ra liên tiếp. Mật độ dân số tập trung đã mang lại phồn vinh, cũng mang lại xấu xa độc ác. Lòng nhiệt tình hiếu khách của dân cư trên sa mạc và đồng cỏ có ích cho việc khai thông không gian sinh tồn. Phải chăng đức lương thiện và tốt đẹp của loài người lại xuất phát từ nguyên nhân đơn giản như thế?.
Thuỷ Hồng ngày càng cảm thấy, xét từ góc độ hạnh phúc của mọi người, vẻ đẹp cự ly vẫn là thứ quặng béo có giá trị rất cần khai thác, chị đặc biệt khâm phục kế hoạch khai phá không gian vũ trụ của Tổng bộ hàng không vũ trụ Mỹ. Chị quan tâm mọi tin tức mới về tìm người ngoài hành tinh, tìm những hành tinh loài người có thể cư trú và thám hiểm để loài người sinh tồn trên mặt trăng, sao hoả đăng trên các trang báo. Tình yêu và nghệ thuật cộng thêm khoa học, liệu loài người sẽ không còn lý do để tuyệt vọng? Từ sau khi Thuỷ Hồng có những tác phẩm nghệ thuật có thể cất giữ cả đời mà Chu Do tặng chị, từ đáy lòng, chị đã có ý thức tương lai và trách nhiệm đối với những đứa con mạng sống kéo dài hàng trăm năm. Chị yêu quý không để chúng bị huỷ diệt trong những tai hoạ lớn tương lai. Mối tình vũ trụ của chị càng ngày càng sâu nặng. Xem ra lối thoát duy nhất giải quyết không gian sinh tồn của loài người là xông ra khỏi trái đất, tim lục địa mới trong khoảng không vũ trụ. Thuỷ Hồng khá tin tưởng và nắm chắc nội hàm tinh thần của tác phẩm chuyên đề chị viết. Hình như chị cũng đã nhìn thấy tia ánh sáng le lói của tương lai loài người.
- Chu Do, anh thân yêu, nghỉ một lát hãy vẽ, em đọc cho anh nghe một đoạn, nào, mau mau sang đây! - ở buồng bên kia, Thuỷ Hồng thường gọi to.
- Thuỷ Hồng, em sang đây xem giúp anh hiệu quả to lớn của màu sắc bức tranh...
Hai người đã tốn quá nhiều thời gian về tình yêu. Nhưng tình yêu lại tiết kiệm cho họ càng nhiều thời gian hơn. Đối với một người, có thể sáu tháng một năm cũng không phá vỡ được sự ngăn cách về tư duy lối nghĩ, trải qua một cao trào cuồng nhiệt của tình yêu, sẽ mở ra một chân trời mới. Họ thường bị cảm giác mới, phát hiện mới và sáng tạo mới của bạn đời tạo ra hưng phấn mới. Khi hai ngưòi đều xác nhận đâu là đột phá mới, lại ôm hôn nhau cạn chén và vui cười, quên hết tất cả. Thuỷ Hồng trở nên thích ngủ trưa và chị cũng không để cho Chu Do dậy sớm. Thức dậy lúc tờ mờ sáng, hai người cứ rỉ rả nói chuyện hoài, nói mệt lại lăn ra ngủ tiếp. Một lần, trong mơ Thuỷ Hồng nhìn thấy Chu Do đang ký một hiệp ước với quan chức Tổng bộ vũ trụ hàng không nước Mỹ. Anh chuẩn bị hiến cho con tàu vũ trụ tìm kiếm người ngoài hành tinh một bức tranh hình thể đẹp nhất phương đông của mình, để con tàu vũ trụ bay ra khỏi hệ mặt trời, đem bức tranh đi gặp người ngoài hành tinh có thể gặp được. Thuỷ Hồng rất ngạc nhiên, trên bức tranh của Chu Do không phải một mình chị, mà là hai người, một nam một nữ, người đàn ông chính là Chu Do. Trên bức tranh, hình hai người nam nữ loã lồ đang say sưa xô sóng, hoa sóng tung tóe lên trời... Khi hai người thức dậy, Thuỷ Hồng kể lại giấc mơ của mình cho Chu Do nghe. Chị nói, có lẽ đây là nghệ thuật hành vi đẹp nhất để người ngoài hành tinh hiểu loài người, hiểu tình yêu và nghệ thuật của lòai người, hiểu loài người sinh con đẻ cái như thế nào. Hai anh chị là sứ giả của nhân loại, từ đó có thể vĩnh viễn yêu nhau, xô sóng và trôi nổi trong khoảng không vũ trụ. Cho dù một ngày nào đó có nổ tung bùng cháy giữa đường, thì đó cũng là một đám ma vũ trụ xúc động lòng người nhất, quý báu nhất cho đến nay của xã hội loài người...
(còn tiếp)
Nguồn: Ái tình họa lang (Ngôi nhà của những bức tranh tình yêu). Tiểu thuyết của Trương Kháng Kháng. Vũ Công Hoan dịch. Nhà xuất bản Văn học sắp xuất bản.
www.trieuxuan.info |