tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Tiểu thuyết
20.10.2009
Trương Thái Du
Hận Lãng Bạc

Ở Cửu Chân xa xôi cách trở, Đô Dương về kinh hơi muộn. Đoàn thuyền Lạc hầu của ông đến chúc mừng vua bà khi người Ả Rập vừa đi. Đô Dương hết sức lạc lõng giữa những ngày vui bất tận của quan quân Trưng vương. Những kẻ ác mồm bảo ông ghen tị với chiến thắng mang tên Trưng Trắc.


 


Lữ Lạc tướng khuyên Đô Dương trở về nam, lấy danh nghĩa Lạc hầu hiệu triệu quần chúng, rút kinh nghiệm M’linh, xây dựng quân đội và thành quách, vỗ về sức dân, tính kế lâu dài cho cả Âu Lạc. Ông khẳng khái nhận định, nếu Hán quân không sang thì triều đình M’linh sớm muộn cũng sụp đổ. Cả Đô Dương và Lữ Lạc tướng đều biết trước ngôi vương ngắn ngủi của Trưng Trắc chỉ có hư danh và những lễ hội say sưa. Đại bộ phận người Âu Lạc tiếp tục thống khổ bên bờ ruộng của mình. Quan lại và một số chiến binh có công trạng lên ngôi, mong ước đời nối đời được cung phụng, hầu hạ. Họ tha hóa từng ngày, trong sự xa hoa đẫm máu và nước mắt lương dân.


 


Trước khi xuống thuyền, Lữ Lạc tướng tấu với Trưng vương rằng: “Tính chuyện một đời chỉ cần tiền tài, lo trước mười đời phải tích lũy quyền lực, còn nếu lo cho trăm đời đã là lo chung cho thiên hạ, nên mở cửa cầu học, tế thế kinh bang, đãi ngộ hiền sĩ và loại bỏ sâu mọt…”.


 


Từ Cư Phong, Đô Dương tập hợp tất cả Lạc tướng của Cửu Chân, định thống nhất phương hướng. Ông lại chạm trán với chia rẽ và hời hợt. Một số người biết những gì đang xảy ra tại M’linh đã tỏ vẻ nghi ngờ tấm lòng Đô Dương. Kẻ ở non cao thì mơ hồ, chống đối cái mới một cách quyết liệt. Cuối cùng chỉ có Lạc tướng Vô Thiết, Dư Phát và Vô Biên đoàn kết xung quanh Đô Dương.


 


Lực mỏng, người thưa, Đô Dương vẫn cố gắng qui tụ được gần một vạn chiến sĩ và năm trăm Giao long thuyền. Ông chỉ có hơn một năm chuẩn bị nhưng dựng được hai chiến lũy tại Dư Phát và Cư Phong, cùng một căn cứ sâu trong rú ngàn. Chu Bá là dũng tướng mà Đô Dương hết lòng dạy dỗ, nâng đỡ. Năm 42 Đô Dương đem quân ra bắc theo lệnh Trưng vương, Chu Bá ở lại giữ Cửu Chân.


 


Tháng mười năm 43 Mã Viện tiến vào Cửu Chân, Chu Bá ngoan cường chống cự, quyết không hàng. Hán quân tổn thất nặng nề. Chiến lũy Dư Phát vỡ, Chu Bá bỏ vào rừng sâu trường kì kháng chiến đến cuối đời và lạc mất giữa dòng lịch sử Việt Nam. Tên tuổi ông hiện vẫn khiêm nhường và ít được người Việt Nam biết đến, vì nó nằm cô đơn giữa quyển sách dầy Thủy Kinh Chú, phần nói về sông Diệp Du.


 


Đô Dương bám trụ ở Cư Phong không được lâu. Mùa đông năm 43, gia tộc cùng tay chân thân tín của ông buộc phải lên thuyền, nương theo gió mùa đông bắc ly hương xuống phía nam. Có thể Đô Dương chính là Thái tổ của người Minangkabau hiện cư trú tại Indonesia và Malaysia. Cộng đồng thị tộc mẫu hệ ấy vẫn nhắc nhở nhau rằng, tổ tiên họ từng căng buồm tìm kiếm tự do từ một vùng biển Việt Nam. Lối sống và sinh hoạt của họ dù trải qua gần hai ngàn năm, vẫn có gì đó tương đồng đến kinh ngạc với thời đại Hai Bà Trưng. Các ngôi nhà sàn có mái hình Giao long thuyền Đông Sơn vẫn ngạo nghễ trước mưa gió nam đảo. Một trong những câu chuyện dân gian nổi tiếng nhất của người Minangkabau là sự tích nghé giết trâu.


 


7.


 


Phải chăng quan sát qui luật chuyển động từ Đông sang Tây hằng ngày của mặt trời, người Hoa Hạ đã đặt ra mốc Cửu Châu? Nếu ta áp nghĩa Cửu là mặt trời ở đây thì sẽ bật ra sự thống nhất xuyên suốt trong nội hàm tên gọi nước Nhật: Cửu Châu (Xứ sở của mặt trời), Nhật Bản (Gốc của mặt trời), Phù Tang (Theo truyền thuyết cổ phương Đông có cây dâu rỗng lòng gọi là Phù Tang hay Khổng Tang, là nơi thần Mặt Trời nghỉ ngơi trước khi cưỡi xe lửa du hành ngang qua bầu trời từ Đông sang Tây, do đó Phù Tang hàm nghĩa văn chương chỉ nơi Mặt trời mọc).


 


Cô bảo Thiên văn học là một ngành quá hẹp, cô tin anh chứ chưa thể hiểu anh. Anh cảm ơn rồi nói rằng có lòng tin mà chưa hiểu đến cùng đích cũng tốt thôi. Sử quan Á Đông xưa đều là những nhà thiên văn thực hành, cho nên tìm hiểu cổ sử mà mù tịt thiên văn thì đáng tiếc lắm.


Anh luận ra từ qui luật chuyển động hằng năm của mặt trời, trên hướng nam tính từ các kinh đô cổ Trung Quốc, sẽ xuất hiện ít nhất hai mốc mang nghĩa “gốc của mặt trời” áng chừng. Ít nhất hai mốc là vì, khác với hướng đông (đi qua Cửu Châu) văn minh Hoa Hạ luôn tiến về phía nam, càng ngày càng hiểu hơn vùng đất phương nam. Các “gốc của mặt trời” có thể cũng dịch chuyển và thay đổi để chính xác hơn.


Hai mốc ấy đã nằm yên trong Hán sử nhiều ngàn năm, đó là Cửu Nghi và Cửu Chân. Chân nghĩa là gốc như “qui chân” là trở về gốc. Một cách đại khái, Cửu Chân ra đời như khái niệm vùng xích đạo ngày nay. Nó nằm trong một hệ thống có tính thuyết phục cao. Sử quan Hoa Hạ đã quan sát bầu trời, quan sát qui luật chuyển động tương đối của mặt trời và trái đất để đặt ra những khái niệm xuyên suốt và tiếp nối: Giao Chỉ (vùng đất tiếp giáp phía nam Hoa Hạ), Cửu Nghi/Cửu Chân (gốc của mặt trời, xích đạo), Nhật Nam (bán cầu nam).


Người Hán mường tượng khái niệm Nhật Nam trên logic nếu đi về phương nam, qua gốc mặt trời (Cửu chân/Xích đạo), đến một nơi nào đó, bóng mặt trời sẽ nằm ở phía nam của mọi vật. Khi ấy khi xây nhà cửa, để đón ánh nắng ấm áp, người ta phải quay cửa chính về phía bắc.


Quá trình chuyển hóa khái niệm thành địa danh cố định cũng là quá trình nam tiến, bành trướng của văn minh Hoa Hạ về phương nam.


 


***


 


Lại nói về Tô Định khi đến Hợp Phố, thần hồn nát thần tín, đổ bệnh liệt giường. Quân Hán vỡ mật chết không ít. Bọn Thái thú phương nam nghe tin rụng rời, lệnh đóng cửa biên giới, cắm trại chỉnh đốn sĩ khí. Ngựa trạm báo gấp về triều, Quang Vũ điên tiết đập vỡ một cặp lục bình men quí cạnh thư án.


 


Mãi đến mùa hạ năm 41 Tô Định mới rón rén vào thành Lạc Dương. Y tự trói và nộp mình dưới bệ rồng. Hôm ấy trời nóng bức, đêm trước Quang Vũ lại quá chén và bày trò ca múa khuya khoắt với mỹ nữ nên thần thái rất kém. Trong người uể oải, vua bèn phất tay đuổi Tô Định ra. Số là Tô Định từng thông đồng với Thái thú Hợp Phố và Nam Hải, bớt xén của ăn cướp từ Âu Lạc, chia chác với nhau. Khi bại trận, y phải trút hết hầu bao đút lót những người xung quanh Hán Quang Vũ, mong tránh họa tru di. Vương thái giám bị mua chuộc, đã cắt cử một vũ đoàn toàn gái đẹp bắt từ Lĩnh Nam, rút hết sinh lực hoàng đế trước khi cho Tô Định vào.


 


Cuối cùng, nhờ Vương thái giám khéo che chắn, tâng công Tô Định đã dâng nhiều của ngon vật lạ từ Âu Lạc suốt mấy năm, Hán Quang vũ tha chết, chỉ phế y về làm thứ dân, đuổi ra khỏi kinh thành.


 


Thoát chết, Tô Định vội dọn nhà về quê cũ, tay lam tay làm việc đồng áng. Càng đổ mồ hôi nhiều thì giấc ngủ của y càng dễ đến. Mỗi lần nghe tiếng đồng va chạm Tô Định thường giật nẩy mình, đến bữa nuốt không trôi. Vì vậy trong nhà y, mọi đồ vật gia dụng bằng đồng như mâm, chậu, âu, xô đều bị giấu tiệt..


 


Cuối đông, chợt nhớ đến lạc thú Lĩnh Nam và da cá sấu, ngọc trai, sừng tê Âu Lạc, vua Hán lại sai tả hữu cho tìm Tô Định hỏi han. Nghe tin, Tô Định sợ quá, tự bẻ gãy một chân, rồi nói thác với Quang vũ rằng đi cày bị bò xéo.


 


Y tấu: “Người Âu Lạc rất ngoan cường, luật tục khác nhiều với Trung Quốc. Nghe đồn Trưng Trắc đã tự lập làm vua, oai hèn trải đến Cửu Chân và cả những vùng man mọi của Hợp Phố. Thời bình, dân tình lam khổ vì quí tộc lười nhát, biến thái, nhũng lạm sa đọa. Nhưng lạ là, nếu bị ngoại bang bức ép, lập tức đất nước ấy sẽ kết ngay thành một khối như nhất. Lần này xuất quân phải lựa lão tướng nhiều thủ đoạn, đã trải trăm trận thắng, mới mong chế được hùng tâm nơi địa linh nhân kiệt”. Nghe xong, vua Hán nghĩ ngay đến Mã Viện.


 


Lịch sử có những điều lập lại hết sức trùng hợp. Mã Viện vốn họ Triệu, cùng thượng tổ như Triệu Đà. Y vốn là con cháu của Triệu Xa, tướng nước Triệu thời Chiến quốc. Triệu Xa mang hiệu mã phục quân, tiện lấy luôn họ Mã để tách chi tộc.


 


Cầm binh từ thời ngụy Vương Mãng, hoạn lộ của Mã Viện gập ghềnh trên chiến trường, nhưng cả hai triều đại đều nể vì tài năng của y. Đầu Đông Hán, Viện phò vua bày bao trận hiểm, chức tước đến Thái trung đại phu. Sau đó nhiều lần y lại lập công lớn khi chinh Tây, đánh Khương, lãnh ấn Thái thú Lũng Tây. Sự nghiệp lớn của Mã Viện là cướp nước người, thủ đoạn khó ai bì.


 


Được triệu vời nam tiến, Mã Viện tuy đã già nhưng vẫn không từ nan. Máu tham lập công nổi lên bừng bừng. Vua Hán cả mừng trao ấn, phong Viện làm Phục Ba tướng quân, cử Lưu Long phó phụ, ra lệnh cả hai tuyển binh mãi mã xuống Nam Hải hội quân cùng Lâu thuyền tướng Đoàn Chí. Đoàn Chí trước đó đã tuân chỉ đóng thuyền, bắt lính hơn vạn người ở Trường Sa, Quế Dương, Linh Lăng, Thương Ngô chờ Mã Viện. Gần hai vạn quân vừa đến Hợp Phố, bỗng Chí ngã nước chết. Viện được giao toàn quyền. Y cho thuyền chạy ven biển, phá núi mở đường, vẽ địa đồ, ghi chú tài nguyên Âu Lạc. Vì lương thảo hạn chế, đi đến đâu gặp làng gặp bản là Mã Viện đều tấn công, cướp bóc và bắt thêm dân phu.


 


Đến Long Uyên, quân số của Mã Viện đã vọt lên hai vạn rưỡi với hơn một ngàn Lâu thuyền lớn nhỏ đủ loại.


 


***


 


Mùa xuân năm 42, những ngày lễ mừng năm mới của Âu Lạc dài như vô tận. Không biết bao nhiêu tre vầu đã bị chặt để làm nêu. Quan lại M’linh tranh nhau xem ai dựng nêu cao nhất, ai chôn nhiều nêu nhất. Hai năm liền mất mùa, dân thường đói kém, vậy mà trâu bò bị giết để hành lễ không biết bao nhiêu mà kể. Mặc dù Trưng vương đã ra lệnh nghiêm cấm mọi hoạt động quá trớn có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh lương thực nhưng lệnh ấy chỉ có tác dụng không quá tầm mắt, tầm tai của chính bà.


 


Những gốc tre già cao vút, gióng đều và thẳng tắp thường được chọn làm nêu. Người ta đập dập ngọn tre thành xơ, rũ dài như bông. Cạnh đó treo móc một túi vải đựng bầu rượu, vôi, trầu cau để mời tổ tiên về với con cháu. Bông tre lao xao trong gió là dấu hiệu các linh hồn đang có mặt. Mỗi gốc nêu sẽ hiến tế một con trâu. Nó bị buộc sẵn vào rào nọc ngắn trồng xung quanh chân nêu. Nọc gỗ khắc hoặc vẽ hoa văn và những hình chim thú trông rất vui mắt và linh hoạt.


 


Cây nêu tượng trưng cho chiếc cầu nối trời và đất, nó cũng là mốc dấu ghi nhận cương vực của một cộng đồng nhỏ. Khi nêu đã dựng, mọi công việc trong làng xã phải dừng hết lại. Tập trung dưới cây nêu, người ta không cảm thấy đơn độc, dễ dàng trút bỏ mọi phiền muộn cũ, cùng nhau hướng đến tương lai, cầu mong vạn sự hanh thông, tốt đẹp. 


 


Mở lễ, mọi người vây tròn gốc nêu, chiêng trống gõ nhịp xung trận. Một trai đinh khỏe mạnh cầm con dao to và sắc vừa múa may vừa đuổi con trâu chạy quanh gốc nêu. Lần lượt bốn chân con trâu bị chém đứt gân khuỷu. Khi nó gục xuống, nữ chiến binh tài ba nhất được chủ nhà trao cho ngọn giáo thiêng của dòng tộc để đâm một phát dứt khoát vào tim con vật.


 


Thịt trâu tươi đặt lên lá chuối đem đến bàn hành lễ có chín ché rượu vây quanh. Thầy mo bôi một ít máu trâu lên chân gia chủ rồi khấn niệm, đọc sử thi ca ngợi công đức gia tiên và cầu mong sức khỏe, thịnh vượng cho gia chủ.


 


Toàn bộ khách mời được thưởng thức thịt nướng và uống rượu trong tiếng chiêng trống dập dìu. Khách càng đông, trâu thay nhau bị giết càng nhiều. Ché hết nước lại được đổ đầy. Rượu nhạt thì người ta thay ché hoặc dùng rượu khách khứa đem đến. Cảnh tượng tưng bừng náo nhiệt. Tối mịt, cuộc chơi lại được dọn vào nhà sàn. Người say kẻ tỉnh nằm chồng ngồi chất ca hát, đùa nghịch thâu đêm.


 


Trưng vương không vui suốt tuần trăng mới. Bà luôn luôn bồn chồn và bị ám ảnh bởi một tai họa kinh hoàng đang đến gần. Tất nhiên bà không biết Mã Viện đã hội quân tại Hợp Phố. Chỉ cần một chút tấm lòng với nước non, ai cũng thấy những gì diễn ra một năm rưỡi qua tại Âu Lạc chẳng hứa hẹn điều gì tốt đẹp.


 


Lữ lạc tướng từ lâu đã bỏ về Phong Châu ẩn dật. A Thi, Trưng Trắc và Trưng Nhị rất buồn. Nỗi buồn chung vì nước của họ càng cô độc thì càng thăng hoa, trở thành niềm bi thiết, đại diện cho lương tri những người Âu Lạc yêu quí xứ sở của mình, đau đớn trong dự cảm thê lương.


 


“Nàng không có lỗi“. A Thi an ủi Trưng vương – “Tiền lệ của tổ tiên là Thánh Gióng phải về trời. Lạc vương dẹp xong giặc, ngoài lòng kính trọng đời đời truyền kể, các ngài vẫn dần tan lẫn vào lối sống cũ”.


 


“Giặc Ân khác giặc Hán nhiều lắm. Nhâm Diên, Tích Quang, Tô Định nối nhau liên tục quấy nhiễu chúng ta hai đời. Kẻ sau gươm giáo luôn nhiều hơn kẻ trước. Sao không ai chịu hiểu như ta?”. Trưng vương thở dài.


 


“Tôi hiểu. Trưng Nhị hiểu. Đô Dương, Lê Chân và Lữ lạc tướng cũng thế”. A Thi nói – “Nhưng chúng ta bất lực. Ý trời chăng?”.


 


Trưng vương kể cho A Thi nghe giấc mơ kỳ lạ của bà những ngày gần đây. Nó cứ lập đi lập lại, rỗng toang, không có mở đầu và kết thúc nhưng cố kết chặt chẽ như một đoạn sử thi:


 


Trong ngôi nhà rông mái hình thuyền của Lạc vương


Không có cửa, không có cả cầu thang


Tiếng chiêng tiếng trống quay tròn


Bà thầy mo đang hát sử thi


Kể về một thầy mo khác, đang hát sử thi


Trong ngôi nhà rông mái hình thuyền của Lạc vương khác


Không cửa, không cầu thang


Tiếng chiêng tiếng trống quay tròn


 


Tiếng chiêng tiếng trống quay tròn


Không ai biết thầy mo hát gì


Bà kể về một thầy mo khác nữa?


 


Chẳng rõ A Thi hiểu giấc mơ ấy như thế nào. Ông hỏi Trưng vương: “Chúng ta có kịp tát ao tù không?”.


 


“Hết mùa gió này, nếu may phúc quân Hán chưa kéo sang, A Thi hãy ra biển đón gió Nam nhé”. Trưng vương có vẻ không tin sự sắp xếp của mình sẽ suôn sẻ. Hè năm ngoái bà cứ hoài ngóng những thuyền buôn Ả Rập. Họ đã không ghé M’linh. Kho lẫm chưa đầy, Trưng vương vẫn có ý bớt ăn giảm mặc, dành dụm để đổi sắt. Giờ đây bà không muốn đợi nữa. A Thi phải cất công đi tìm họ vậy.


 


Trưng vương tiết kiệm cả trong đám tang và lễ bỏ mả mẹ mình cuối năm ngoái. Sau lễ cúng trăng năm 40, mẹ Man Thiện trút hơi thở cuối cùng. Tiếng cối xuyên qua các bản làng báo tin người thủ lĩnh già nua vĩ đại, mẹ của Lạc vương Trưng Trắc không còn nữa.


 


Một cây gỗ không to lắm được khoét làm quan tài hình thuyền. “Trẻ làm ma, già làm hội” nhưng chỉ ba con trâu bị làm thịt để tế lễ. Người Âu Lạc nhìn thấy sự sống nơi cái chết nên tang ma dù có than khóc, cũng có nhảy múa ca hát, rượu chè say sưa.


 


Đúng theo di nguyện của mẹ, Trưng vương không tổ chức đại tang tốn kém. Ngày đưa bà Man Thiện về phía tây, đoàn Giao long thuyền khép một vòng trước cửa Hát. Đồ tùy táng đủ dùng, nhà mồ vừa phải. Già Mị bảo: “Đường đường Lạc vương giàu nhất Âu Lạc, bà nên thưa với mẹ sẽ trông nom cơm nước mồ mả chín năm”. Trưng vương nhất quyết gạt đi: “Nước chưa hẳn đã yên, nhà chắc là không ổn. Mẹ ta muốn sớm lên trời chừng nào hay chừng ấy, để cùng tiên tổ độ trì cho vận mệnh Âu Lạc”.


 


Lễ bỏ mả, một hàng rào quét vôi trắng đơn sơ được dựng lên quanh mộ. Nhà cúng phên tre, vách nứa giản dị. Gia tài bà Man Thiện mang đi kém hẳn một quan Lang nghèo nhất. Không có vò đồng, vại thiếc, không có kiếm cung, chỉ duy nhất một chiếc trống đồng nhỏ tượng trưng. Trưng vương làm thịt một con trâu què, bày vài ché rượu nhỏ. Tiếng trống mẹ gióng lên nghe như tiếng than khóc. Người dự đông như kiến, Lạc hầu, Lạc tướng đủ mặt cả. Lạ là họ không xấu hổ trước gương sáng Trưng vương mà còn thì thầm dè bỉu sự nghèo nàn của lễ dứt tang. Trưng Nhị không nhận hàng thuyền đầy cống vật, cô bảo họ hãy mang về lo cho quân sĩ và dân nghèo.


 


Trưng vương định dùng lễ tang này để cảnh tỉnh, khuyên nhủ người Âu Lạc về họa bắc phương. Trước mặt các các Lạc hầu, Lạc tướng, các bô lão và người đến dự lễ dứt tang, trước khi thả một con gà vào rừng theo tục lệ đưa người quá cố về bên kia thế giới, bà vừa khấn vừa khóc:


 


“Hỡi thần chết. Tôi không có nhiều của cải cho người. Trống đồng để đánh giặc. Lao tên dùng giết thù. Hãy đón mẹ ta đi. Vì mất mẹ, em ta chưa kịp lấy chồng. Ta chưa sinh được con. Ai sẽ nối dòng chống giặc dữ giúp ta? Các Lạc hầu ư? Các Lạc tướng ư? Khi nào họ mới dứt cơn say? Khi nào họ bớt hè bớt hội? Từ hôm nay cơm cúng ta sẽ dùng nuôi dũng sĩ, rượu ngon ta sẽ thưởng quan hiền. Thần chết hãy thông cảm với ta. Nhà dột sợ mưa, nước nghèo tất họa”.


 


“Mẹ ơi! Người hãy lên trời, hãy đi gặp linh hồn những Lạc vương muôn năm cũ. Mẹ hỏi giúp con Lạc vương hôm nay phải làm gì? Hãy đánh thức giùm con khí thiêng sông núi. Hãy báo cho con khi nào giặc tới…”.


 


***


 


Giặc lại đến rồi. Tiếng trống mẹ của Trưng vương tại M’linh cất lên những nhịp báo động u sầu. Quan Lang, Lạc tướng, Lạc hầu cứ như đang say ngủ, rời rạc và bải hoải sai nô thuộc đánh trống trả lời. Các tiếng trống không còn rền vang và nhất tề như hai năm trước. Có lẽ hoan điệu hưởng lạc, tụng ca chiến thắng từ mùa thu năm 40 đã ngấm vào hồn trống, đã lên rỉ xanh trong lòng trống. Những tia mặt trời giữa mặt trống mòn hằn, sâu hoắm, ngao ngán như một cái miệng bô lão Âu Lạc đã rụng hết răng, vừa nhai trầu giã nát vừa ngáp. Chen trong âm thanh lộn xộn ấy, đặc biệt không thể chấp nhận là những tiếng rè nặng nhẹ khác nhau, tùy thuộc vào chiếc trống bị nứt ở mặt hay ở vai, ở eo hoặc ở chân. 


 


Cái hồn nhiên của một dân tộc hiền hòa lộ ra rất nhanh. Chiến binh Âu Lạc cuối cùng cũng lên thuyền, tập trung đông đảo tại cửa sông Hát. Người người chen vai, tâm tình như đang trẩy hội! Nam nữ hớn hở đưa duyên cứ như chợ tình đang mở trên biển hồ Lãng Bạc! Họ tưởng Mã Viện cũng xoàng như Tô Định nên rất coi thường. Trưng vương phải chạy như con thoi khắp nơi để chỉnh đốn lại hàng ngũ, từ Lạc tướng đến các tay chèo bắp tay nhão nhẹt vì nát rượu. Mặt khác bà cử người cấp báo đến Cửu Chân, Phong Châu, An Biên kêu gọi các Lạc tướng, Lạc hầu sẵn sàng điều quân hỗ trợ.


 


Từ sông Mã, Đô Dương vượt biển đến An Biên hội quân với Lạc tướng Lê Chân và năm ngàn nữ binh kiêu dũng của bà. Tổng cộng cánh quân ngoài biển có bảy tám trăm Giao long thuyền và gần vạn rưỡi chiến binh.


 


Thật ra Mã Viện có thể tấn công Trưng vương ngay khi đội ngũ của bà chưa tề chỉnh, song từng là một con cáo già chinh nam dẹp bắc, y sợ những gì mình thấy chỉ là hư trương. Mã Viện cho quân gấp rút khôi phục bến Long Uyên, xây dựng hành dinh, trại lính lớn gấp năm mười lần những gì Tô Định đã làm. Y bố phòng nghiêm nhặt một vùng đệm an toàn, cấm tiệt mọi xung đột dù nhỏ nhất với chiến thuyền Âu Lạc. Bất kể sáng tối, đi tuần gặp thuyền binh Âu Lạc, quân Mã Viện luôn bỏ chạy. Thường thường thuyền Âu Lạc đuổi theo gần đến Long Uyên, thấy cờ xí rợp trời, lâu thuyền trùng trùng điệp điệp thì rờn rợn rút lui. Không bao lâu sau, lính tráng của Trưng vương mất hết cảnh giác, nhiều khi thấy Mã quân mon men đến gần nghiêng ngó cũng chẳng thèm đuổi.


 


Tính toán kỹ lưỡng mọi đường đi nước bước, Mã Viện đặt mục tiêu cuối cùng là tiêu diệt chủ lực của Trưng vương trước Tiết Đoan Ngọ năm 42 để tránh dớp xấu của Tô Định. Hơn nữa y cũng biết rằng ngày sinh mẹ tổ, dân Âu Lạc sẽ tụ hội cả về Lãng Bạc, chẳng thể coi thường. Mã Viện đếm từng ngày, chờ Trưng vương nôn nóng, bất cẩn.


 


Năm ấy mùa hè đến sớm, mưa đến sớm. Thời tiết khắc nghiệt, nước ngập mênh mông. Nắng nóng thiêu da cháy thịt. Chướng khí ngùn ngụt bốc lên, tạo thành một chiếc lồng kính chụp xuống biển hồ Lãng Bạc và các vùng xung quanh. Đây là hiện tượng trầm áp nhiệt đới, bầu trời mờ đục như khói giăng, đất nứt, nước bốc hơi nhưng nhiệt lượng bị phong tỏa không thoát được, bức bối chẳng bút nào tả xiết. Quân lính hai bên ngã nước, dịch bệnh, chết chóc tràn lan. Chim trời nhiều khi đang bay đột nhiên xoãi cánh, rơi chết lộp bộp xuống đầm lầy.


 


Trưng vương bất lực nhìn quân sĩ mất dần nhuệ khí, hàng ngũ xộc xệch. Bà biết rất khó chờ thêm một buổi nào nữa. Bà biết rằng mình đâu phải là tướng được rèn luyện qua trải nghiệm thực tế. Chồng bà, A Thi cũng vậy. Họ không lượng được sức mạnh thật sự của Mã Viện. Sông Hồng bị cứ điểm Long Uyên chia cắt, liên lạc với An Biên khó khăn. Mấy chiếc thuyền giả trang đánh cá đem tin tức từ An Biên đến cho Trưng vương đã bị Mã Viện cầm bắt. Thủy lộ sông Đáy an toàn hơn nhưng nước rất cạn, đầm lầy vòng vèo, lam sơn chướng khí hừng hực, do đó quân lệnh thưa thớt và không kịp thời.


 


“Vậy là nàng vẫn quyết tấn công Mã Viện?” A Thi hỏi Trưng Trắc.


“Chàng nhìn thấy thất bại của ta?”


“Ta chỉ lo sợ thôi”.


“Ta không sợ. Ta không lo sợ”. Trưng Trắc đi một vòng quanh đống lửa lớn bên mép nước. “Nếu ta không phát lệnh xung phong thì hàng vạn quân này cũng sẽ tan rã. Trò nhấm nhứ của họ Mã thật lợi hại”.


 


Khi nghe An Biên đã sẵn sàng, Giao long thuyền của Đô Dương và Lê Chân đang tiến về Long Uyên, Trưng vương vô cùng mừng rỡ:


 


“Tướng sĩ ơi, ta phải đánh thôi. Đánh để con cháu đời đời lấy đó làm gương, lấy dũng khí và lòng kiêu hãnh của vua bà này làm bửu bối giữ nước. Mai này có thể dân ta sẽ nai lưng làm nô lệ. Mai này có thể chúng sẽ phá nát giang sơn của tiên tổ, sẽ đốt ra tro hàng ngàn thôn làng xóm bản. Nhưng ta biết khí chất anh hùng sẽ chảy trong huyết quản con dân Âu Lạc muôn năm. Sẽ có lúc nó sống lại mãnh liệt, biến thành mưa gió, sấm chớp, bão giông quật xuống đầu lũ cường bạo, để giành lại phẩm giá của con người tự do. Chiến thắng cuối cùng ắt phải thuộc về con dân Âu Lạc.”


 


“Ngài sai lầm rồi, thưa Trưng vương”. Lữ Lạc tướng lắc đầu – “Khi chưa có kế hoạch cụ thể chúng ta đã vội triệu vời Đô Dương ra An Biên. Theo mật ước, họ sẽ tấn công Long Uyên rạng sáng mai. Nếu ta án binh bất động lúc này, khác nào mời họ vào cho hổ xé xác. Mà nếu ta nhất định đánh thì lại càng thất sách vì quan quân đang mệt mỏi do thời tiết khắc nghiệt, sĩ khí hao tổn, cầm chắc bại vong”.


 


“Hay tạm chờ Đô Dương và Lê Chân mở màn trước. Ta vẫn nghĩ bao vây Long Uyên từ hai phía sẽ tốt hơn”. A Thi góp lời.


 


“Đũa cả lại đẩy tiên phong cho đũa con, đấy không phải cách của bậc vương hầu”. Trưng Nhị thẳng thắn góp ý, hoàn toàn không có ý coi thường A Thi – “Chúng ta sai lầm từ buổi đầu, quyết định dàn trường trận bảo vệ từng thước đất kinh đô M’linh không thực tế. Mã Viện phải bám vào cái phao Long Uyên vì y là kẻ lạ. Với chúng ta, khắp Âu Lạc này, chỗ nào cũng có thể trở thành hành đô kháng Hán, bờ bụi nào cũng có thể xem như chiến lũy, người dân nào cũng là một chiến sĩ từ trong bản năng”.


 


Mọi người lặng im. Trưng Nhị nói quá đúng. Khi những cánh buồm đen của Mã Viện vừa chấp chới quần tụ gần Long Uyên như một bầy diều hâu đói xác chết, ai ai cũng quẫn cuống, mất hết bình tĩnh. Những kẻ ích kỷ nhất quan trường M’linh đã can dự quá sâu vào lệnh hội quân của Trưng vương. Chúng không có mặt tại cửa Hát đêm nay. Chúng rời khỏi hàng ngũ và kinh đô rất nhanh, ngay khi nhận thức được thất bại không thể tránh khỏi.


 


Trống điểm canh não nề buông những tiếng động khô khốc vào thinh không. Đêm oi nồng. Chẳng một sợi gió hiếm hoi nào lạc đến cuộc hội đàm của tướng sĩ Âu Lạc. Nước triều đang lên, rất mạnh, nhắc nhở Trưng vương rằng, bà không còn thời gian để đắn đo suy tính hơn thiệt mà phải đánh.


 


Trống lệnh sẽ cất nhịp dồn, người Âu Lạc định hút thuyền Hán về hết thượng lưu biển hồ Lãng Bạc, trong khi Đô Dương đánh úp Long Uyên.


 


Lịch sử có thể thay đổi hoàn toàn chỉ với một chữ nếu. Nếu người Âu Lạc mở lòng với thương nhân Ả Rập, nếu họ đã thay đồng bằng sắt để đúc gươm, rèn giáo, nếu họ khiêm tốn một tí sau mùa thu năm 40, nếu quan trường M’linh loại bỏ được lũ hèn mạt… Âu Lạc có thể đã không phải trải qua tám trăm năm tăm tối dưới ách thống trị bắc phương. Gần với Trưng vương lúc ấy hơn cả, nếu bà biết Đô Dương và Lê Chân vẫn còn cách biển hồ Lãng Bạc nửa ngày đường, biết đâu Mã Viện sẽ ôm hận dưới đáy nước.


Nguồn: Hận Lãng Bạc. Tiểu thuyết lịch sử của Trương Thái Du. NXB Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cõi mê - Triệu Xuân 25.03.2020
Giấy trắng - Triệu Xuân 25.03.2020
Anh em nhà Karamazov - FYODOR Mikhailovich Dostoyevsky 16.03.2020
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 15.03.2020
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 15.03.2020
Đêm Sài Gòn không ngủ - Trầm Hương 10.03.2020
Trong cơn lốc xoáy - Trầm Hương 10.03.2020
Ông cố vấn - Hữu Mai 26.02.2020
Đẻ sách - Đỗ Quyên 15.02.2020
Hòn đất - Anh Đức 13.02.2020
xem thêm »