tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Tiểu thuyết
12.10.2009
Lan Khai
Dấu ngựa trên sương (tên cũ: Mọi rợ)

I


Khoảng giữa Bắc Quang - Hoàng Tsưphì, ngay bên con đường núi dốc, có một xóm Mèo tên gọi là Nặm Tỉ. Dân cư đếm vỏn vẹn chừng đâu non chục bếp. Họ chuyên nghề mã phu và sống trong những túp lều bám cheo leo vào vách đá, như những tổ diều hâu. Cuộc đời họ thực là buồn. Luôn luôn nó bị chìm khuất trong sương mù và cứ trôi theo một nhịp đều đều của tiếng suối mơ hồ đâu đó. Một đoàn lữ khách, thỉnh thoảng cũng đem tới cho Nặm Tỉ đôi chút ồn ào; nhưng sự náo động thoảng qua, nỗi đìu hiu càng bát ngát. Cuộc vui của dúm người mất tăm giữa hoang vu ấy chỉ là sự quây quần buổi tối quanh khuôn bếp, ánh lửa tỏa ra; một không khí đầm ấm làm tươi những gương mặt câm lì và long lanh những cặp mắt mơ màng xa vắng. Đó đây, vài chiếc đóm rễ thông phun khói nhiều hơn chiếu sáng bên những cô gái dệt cửi hoặc bên mấy anh con trai vót cánh nỏ, chữa yên thồ và đan giỏ mây. Họ vừa làm việc vừa bàn tán về mùa màng, chợ búa, hoặc kể những truyện ma quỷ, hùm tinh, những truyện sặc mùi cổ tích mà vẫn khiến ngay những người cứng bóng vía nhất phải rùng mình. Họ thường kéo dài cuộc hội họp như thế đến khuya, dù rằng, hôm sau, họ phải thức dậy từ tang tảng sáng.


Trong số dân siêng năng nhưng nghèo xác của Nặm Tỉ, có gia đình lão Ghình Gúng là khác hẳn. Nhà lão ở ngay đầu xóm, một nếp nhà năm gian, mái thấp hình mui luyện, nom xa như một con rùa đương ngủ. Bốn vách cùng lịa ván thông, trừ một cửa ra vào. Chung quanh nhà, vườn tược không mà rào giậu cũng không. Một dãy tàu ngựa bừa những phân và những bãi đái thẫm như nước nâu đứng án ngữ trước cửa, làm cho bên trong đã tối càng thêm tối.


Bên trong hai gian áp hồi tay phải dùng làm bếp nấu và cầu rửa. Có lần tre dẫn nước từ nguồn xa về. Ở gian chính, gần ngưỡng cửa, một cái cối xay ngồi lù lù trên cái máng gỗ; một đống cỏ băm vụn trộn với thóc lép dùng cho ngựa ăn, và lui vào phía trong một tí, vài cỗ yên thồ nằm ngổn ngang cạnh một cái thang bắc lên tầng gác lửng chứa lúa cum. Mỗi khi có khách trọ, lão Ghình Gúng lui vào buồng ngủ, trong gian đầu hồi bên trái, nhường cái phản kê áp vách lưng gian giữa cho họ nằm. Gian nhà, ngăn cách gian giữa với buồng ngủ, chứa toàn một thứ rơm khô cho ngựa ăn những hôm trời mưa gió. Rơm ấy còn dùng lót dưới chiếu nằm vì ở đây, quanh năm chỉ có một mùa đông. Ánh sáng chẳng bao giờ lọt thấu trong nhà, lại thêm đồ đạc thứ nào cũng bồ hóng bám đen kịt, thoạt bước chân vào, khách lạ có cảm tưởng rất khó chịu như vào một cái hang rỗng tuếch, mịt mù, hôi hám, và đầy khói. Ghình Gúng, trái lại, đã quen lắm, vì lão ở nhà này gần hai chục năm.


Trước khi rời đến Nặm Tỉ, Ghình Gúng cũng như hết thảy những người Mèo chính tông khác đã từng lặn lội qua bao nhiêu núi rừng. Lão ở Nặm Tỉ lâu hơn tất cả mọi nơi khác. Cũng bởi, từ ngày vợ lão chết đi rồi, lão thôi không nghĩ đến sự phiêu lưu nữa. Lão nhất định già đời ở cái xóm hẻo lánh này với con trai lão, Tum Đìang, và con gái lão, Tsina. Thực là một gia đình kỳ dị: ba bố con tựa hồ ba người lạ tình cờ gặp nhau trong một quán trọ bên đường. Suốt ngày, họ không nói với nhau một lời, trừ câu nào không thể không nói được. Mỗi người sống như thế trong một thế giới riêng và kín đáo. Họ vẫn đối diện nhau mà sự thực họ xa nhau chẳng kém các vì sao trong không gian.


Một chiều kia, một chiều thu, không khí trong suốt, trời nhẹ lâng lâng và, đằng phía tây, sau dãy núi tím mờ, nhuộm phớt màu lòng trứng... một bọn khách dừng vó ngựa trước nhà Ghình Gúng, nhờ trọ một đêm. Đó là một viên quản khố đỏ, nhân đến hạn hưu trí, đem vợ con từ Hoàng Tsưphì ra Bắc Quang để đáp xe về quê. Giữa lúc cảnh vật đang lắng nghe cái bí mật của đêm ngàn trở lại, xóm Nặm Tỉ bỗng xôn xao những tiếng người, tiếng vật. Họ kéo ùa vào nhà lão Ghình Gúng, tìm gạo thịt, hỏi giường chiếu, mặc cả giá tiền thuê năm con ngựa và thuê lão già hộ tống ra đến Bắc Quang, thay cho bọn mã phu kia bắt buộc phải đảo lại Hoàng Tsưphì. Rối rít lên như thế chừng hai tiếng đồng hồ, đâu đó mới lại dần dần yên tĩnh. Giờ thì họ đã ngủ say như chết. Và, thỉnh thoảng, một tiếng nghiến răng, một câu mơ sảng nổi lên để tắt đi ngay, làm cái im lặng quanh Ghình Gúng càng mênh mông, sâu thẳm.


Lão già vẫn thức. Lão ngồi hút thuốc lá ở trước một lò than rừng rực. Ánh đỏ chờn vờn chiếu lên mặt lão, nom phảng phất một pho tượng bằng đất nung. Phải, chính là một pho tượng chứ người đâu lại có người trơ ra hàng trống canh thế được! Lão ngồi xổm; tay trái ôm đầu gối; tay phải đỡ chiếc điếu can đồng cán trúc. Vì ánh sáng hắt ngược từ dưới lên, hai mắt lão bị lưỡng quyền che khuất, thành hai cái vực sâu đầy bóng tối. Má lão hóp lại khiến miệng lão thêm dẩu ra như cái mõm lợn. Và, trước hàm răng khểnh, cặp môi mỏng và trắng bệch cong cớn hẳn lên một cách vừa thảm đạm vừa tức cười. Ghình Gúng là một ông già không có tuổi. Hơn nữa trông cái thân hình khô héo ấy, người ta không thể tin được nữa rằng còn có máu nóng, nhất là còn có một linh hồn. Đã lâu lắm Ghình Gúng tuyệt nhiên không nhúc nhích. Tất cả cái tỏ ra lão còn sống chỉ tóm thu vào đầu chiếc điếu can thỉnh thoảng được nhắc ra hoặc để vào giữa cặp môi không che kín nổi mấy cái răng lung lay.


Mấy con ngựa, vì tranh ăn, cắn nhau chí chóe và đập chân xuống bùn bèn bẹt. Lão già khẽ ngẩng đầu, mở mắt to thêm một chút và lắng tai nghe. Sự nhộn nhịp im dần. Bên ngoài, chỉ có tiếng nước lần đổ như mưa rào là làm át cả mọi tiếng khác, những tiếng động của cuộc sống ngấm ngầm mà tràn ngập, vô hình mà đẫm máu của rừng khuya. Thực thế, đêm tức là giờ cả Sơn lâm thức dậy, rình mò, sục sạo, cắn xé, giết chóc và đực cái để rồi, hôm sau, khi mặt trời mọc, đâu đó lại im thin thít, nhu mì và nhiều khi lại xinh đẹp nữa.


Lão già vẫn trơ trơ không động. Từ miệng lão, một ít khói xanh vẫn còn, và trên đầu gối bên phải, chiếc điếu can vẫn cựa quậy một cách hững hờ.


Bỗng, con chó xù, từ nãy vẫn nằm nhắm mắt bên cạnh chủ, vùng đứng dậy. Nó hoạt động bất ngờ. Đuôi nó ve vẩy, chân nó loăn xoăn; một tiếng rít khẽ phát ra từ cuống họng.


Ghình Gúng nhắc điếu can ra khỏi miệng. Lão lắng nghe: từ thẳm mù đêm, một cái gì thấm qua tiếng nước chảy như một giọng hát buồn:


Lão già lẩm bẩm:


- Tum Đìang sao về muộn thế!


II


Xứ Mèo, biết ở nơi nao!


Sông sâu mấy dải, non cao mấy tầng?


Trong sương, ai hát vang lừng;


Lửa thông, ai nhóm trong rừng rậm khơi?


Truyện nghìn xưa, nhớ chăng ai:


Tổ tiên lưu lạc quan ngoài Hồ Nam.


... Câu hát, bằng một giọng trầm buồn, cất lên khoảng trời cuối thu vàng lạnh.


Tum Đìang đứng sững lại; mắt long lanh tìm trên dải đường đất thẳm, như vết thương dài còn tươi hon hỏn, rạch vào ngay sườn rặng núi tím đằng xa: một đoàn mã phu, chừng non hai chục anh Mèo, đương cùng hát vang lên một lượt.


Họ ngất ngưởng trên lưng những con ngựa thồ gầy đi nối đuôi nhau, như chúng vẫn từng đi thế, từ khi có giống người phiêu lưu nọ.


Tum Đìang bâng khuâng lắm! Trong lòng anh, có một rung động chưa thấy bao giờ. Anh tựa hồ thoáng nghe một tiếng gọi thiết tha. Nhưng kìa, đám người ngựa đã mất vào sau một khuỷnh đường. Câu hát bẵng đi. Một trận gió đìu hiu. Một cái rùng mình chạy lướt trên những khóm lau bạc.


Anh Mèo tuổi trẻ ngơ ngác nhìn quanh: núi rừng tan trong một thứ bụi phấn tỏa mơ hồ. Anh lắng nghe: chỉ còn tiếng thác ồ ồ với câu hát còn ngân trong lòng anh chưa dứt hẳn. Và, trước mắt anh, con đường vẫn mở ra tun hút, con đường mà trên đó, bao nhiêu đoàn phu tải, trong số có cha anh nữa, đã đi qua và hát vang lừng. Lại cũng trên con đường này, mẹ anh trong cái chuyến gia đình anh rời từ một ngọn núi thuộc địa phận Hoàng Tsưphì về Nặm Tỉ đã đẻ rơi anh trên lưng ngựa. À, việc ấy lâu rồi! Nghe đâu từ những năm mười bảy lần hoa tsi tàu đông nở rồi lại nở. Việc đã qua, Tum Đìang tại sao chiều nay còn nhớ tới?


Anh Mèo tuổi trẻ rút cái điếu can mà anh vẫn giắt ở hầu bao và đập đá lấy lửa châm thuốc hút. Anh ta giật luôn mấy hơi, để làn khói xám tản dần qua góc mép. Anh có thói quen hút ngấu nghiến như thế, mỗi lần anh gặp phải sự gì làm óc anh phải bận rộn. Anh nhổ toẹt xuống đất rồi lũi cũi đi. Con dao cài trong cái vỏ gỗ thừng mực, khẽ đập vào cạnh đùi bên trái anh như gõ nhịp.


Tum Điàng thong thả đi về xóm Nặm Tỉ. Anh lách qua những khóm lau già, những khóm cây không tên lá bắt đầu vàng rụng. Mặt anh ra vẻ nghĩ ngợi lắm. Anh bâng khuâng nhìn quanh. Trong đời anh, có lẽ lần đầu Tum Điàng nghĩ đến những ngày qua. Sao chóng thế? Mới độ nào, cha anh còn phải cõng anh lên nương để anh chơi nghịch trong khi ông già làm việc. Mới độ nào, mẹ anh còn phải hát để ru anh ngủ. Vậy mà nay, anh đã thành một người như hết thảy mọi người lớn khác. Anh đã phải lên nương làm thay cha. Và thản nhiên, cảnh vật bên mình anh cứ hết mùa nọ qua mùa kia, vẫn thay đổi mà không khác đi một chút nào.


Qua một cánh rừng vầu. Trên những gióng tròn, bụi nước bám vào như một lớp mồ hôi. Không khí giá ngắt Tum Điàng rùng mình. Bỗng, anh ngẩn ngơ dừng bước: một nấm đất lù lù bên cạnh một gốc cơi già, nhắc anh nhớ đến một kỷ niệm. Tum Điàng thở dài và giơ một bàn tay vuốt giọt nước mắt chảy ra gò má.


Rồi, anh đi lại.


Nếp nhà tranh ở đầu xóm Nặm Tỉ đã hiện đằng xa. Vẻ cũ kỹ của nó là một cái gì mà Tum Điàng, mãi buổi chiều nay, mới nhận ra. Cùng lâu như nhau vậy mà, trong khi nếp nhà cũ dần đi, xấu dần đi, anh lại nhớn lên, khỏe mạnh thêm và biết nghĩ ngợi khác với khi còn bé. À, sao từ độ ấy, cha anh không dọn đi nơi khác nữa nhỉ? Hàng xóm nhà anh có người nào quen biết cũ đâu! Họ đi cả rồi. Bất giác Tum Điàng ngoảnh trông con đường dài mà anh đoán phỏng trong sương lạnh. Câu hát của đoàn mã phu vừa đi rồi lại văng vẳng trong tâm hồn anh như một lời quyến rũ:


Xứ Mèo, biết ở nơi nao!


III


Tum Điàng bước thẳng lại gần bên bếp lửa. Con chó xù mừng rỡ, xoăn xoe đón; nhưng, anh Mèo tuổi trẻ còn mải nghĩ. Anh cởi bỏ dao lưng, ngồi xuống một bó củi và cầm ngay lấy chiếc điếu cày. Ghình Gúng nhìn con; Tum Điàng đăm đăm nhìn lửa cháy. Tiếng củi trong lò lách tách nổ. Con chó buồn tình quay về chỗ cũ nằm mơ màng.


Tum Điàng vẫn ra vẻ nghĩ ngợi lung lắm. Mặt anh cúi lầm lầm. Đôi mắt lá răm nhìn xuống quá trông ngoài như nhắm hẳn lại. Dưới cái mũi trái mật, đường nhân trung sâu làm cho cặp môi anh lúc nào cũng bĩu ra. Một vòng khăn vải chàm quấn chặt quanh đầu anh khiến cho gương mặt anh đã ngắn lại càng thêm ngắn. Cái áo xanh cũn cỡn, vạt phanh hở ngực, lộ ra những bắp thịt rắn đanh. Ghình Gúng thấy con ngồi thờ thẫn, liền nhắc chiếc điếu can khỏi miệng và khẽ nói bằng một giọng khàn khàn:


- Đi ăn cơm rồi ta bảo cái này.


Tum Điàng ngước nhìn cha. Mãi lúc ấy, anh Mèo hình như mới nhớ đến ông bố ngồi trước mặt mình. Anh thong thả đứng dậy, cầm đóm lửa sang gian bếp rồi, mấy phút sau, lại trở về chỗ ngồi với một gói lớn bọc lá dong. Anh mở gói: một nắm cơm ngô và một con cá nướng bọc trong một mảnh lá chuối. Tum Điàng uể oải nhai, trong khi mắt anh vẫn tư lự nhìn những ngọn lửa nhảy nhót trong lò.


- Tum Điàng à?


Chàng trai trẻ ngừng ăn, đợi...


- Có một người khố đỏ mai đi Bắc Quang sớm...


Ồ tưởng gì chứ vậy thì thường lắm! Vả, chuyện ấy có quan hệ gì cho Tum Điàng? Anh ta lẳng lặng ăn cho xong bữa.


Ông già kéo mấy hơi thuốc lá rồi nói tiếp:


- Ta mệt lắm! Mai Tum Điàng đi thay ta. Tum Điàng lớn rồi.


Tum Điàng không đợi cha nói hết. Anh ta đứng phắt dậy như người có lò xo giật mạnh. Sắc mặt anh biến hẳn. Đôi mắt lá răm mở to hơn thường và phát ra những tia sáng lấp lánh.


- Phải, Tum Điàng đi thay ta chuyến này...


Anh Mèo trẻ tuổi há miệng mà không biết nói gì.


Vẻ sung sướng của anh khiến ông lão Ghình Gúng ngạc nhiên. Ông Khẽ nheo mắt và đưa đầu lưỡi liếm nhanh cặp môi, ra chiều lúng túng.


- Nhưng mà, lần đầu chưa quen, Tum Điàng phải cẩn thận lắm mới được! Ngựa nó khôn lắm. Vậy, tốt nhất là cứ mặc nó muốn đi thế nào thì đi. Chẳng hạn gặp những chỗ đường chỉ rộng non hai thước An Nam, lại men ngay trên miệng vực sâu, nếu Tum Điàng đánh đập nó làm nó nhỡ bước thì cả nó lẫn người sẽ rơi xuống lòng thung lũng tan ra như xác pháo.


Tum Điàng lắng nghe cha nói như để cho từng câu một thấm vào lòng anh. Là vì, cái tin may mắn đến cho anh đột ngột quá, làm anh phải ngờ vực.


- Khi ra đến Bắc Quang, Tum Điàng nhớ mua muối xong rồi về ngay nhé?


Quả thực rồi, Tum Điàng sung sướng quá. Anh muốn nhẩy cỡn lên như hồi chưa cuốn chỏm tóc trên đầu thành ra như một nhánh tỏi. Anh nghĩ cả đến chiếc krèng lau treo trên cột. Giá anh có thể mang nó xuống mà thổi một bài dài! Anh chạy lại chỗ người quản khố đỏ nằm, ngó vào tận mặt khách lạ.


Bỗng, một tiếng gì như tiếng ai rống lên ngoài đêm tối.


Tum Điàng lạnh người. Anh hoảng hốt nhìn cha trong khi ông lão Ghình Gúng cũng lo lắng nhìn con.


Thì ra, con chim báng đã kêu. Tiếng nó gào vang một cách ghê tợn và lâu lâu còn vùng ra, làm sóng sánh bầu không khí yên lặng.


Hai cha con Tum Điàng cùng lắng nghe một lúc lâu. Cả hai linh hồn cùng thấy bị đè nặng dưới một hãi hùng bí mật.


Đột nhiên, ông già đứng dậy. Ông rảo bước lại chỗ ống bương cài trên vách lưng nhà, kề ngay bên chỗ người khách ngủ. Ông thổi mồi lửa, châm một nén hương cắm vào ống đoạn lầm rầm khấn khứa.


Trước những cử chỉ của cha, Tum Điàng càng thêm hoảng hốt. Anh rùng mình, cảm thấy một hơi lạnh khác thường. Anh chạy đến bên lò lửa, cầu lấy chút hơi nóng. Dù vậy, anh vẫn như người sốt rét. Anh thấy một cái gì linh thiêng, nó phảng phất quanh mình anh, một cái gì mắt anh không thấy được, tay anh không rờ mó được nhưng nó rất có thể làm hại anh một cách đáng sợ. Thế rồi, từ phút ấy, các tiếng động rất thường của đêm nhất loạt trở nên những dấu hiệu của sự dọa nạt.


- Tum Điàng à?


Anh Mèo tuổi trẻ giật bắn người. Ông lão Ghình Gúng phải nhắc đến hai lượt.


- Tum Điàng...


- Gì kia?


- Đi ngủ đi. Mai dậy sớm ra phát nương và bảo Tsina coi nhà nhé?


- Vảy!...


- Ừ, Tum Điàng không ra Bắc Quang nữa.


- Sao mà thôi?


- Tum Điàng không nghe thấy gì à?


- Có chứ... Nhưng...


- Đừng nói. Điềm gở lắm Tum Điàng phải biết rằng cái quái ấy nó kêu là sắp có sự không tốt lành. Lúc nãy, giá có người đàn bà chửa con so úp trõ lên đầu ra hè ngồi thì nghe rõ nó gọi tên ai sắp chết...


Tum Điàng nín lặng, khẽ liếc trộm quanh chỗ ngồi lượt nữa. Nhưng, sau cùng, anh cố gạn:


- Tôi bằng lòng...


Ghình Gúng vội gạt:


- Phấy, đi ngủ đi!


- Cho tôi đi một chuyến...


- Không được! Để chuyến sau.


Tum Điàng chán nản. Cặp lông mày bọ róm của anh nhíu lại. Anh nhổ mạnh tia nước bọt xuống tro và rút điếu can ngậm vào miệng.


Hai cha con lại ngồi im; mỗi người theo riêng ý nghĩ.


Tiếng con tắc kè tự chỗ nào ngoài đêm tối vọng vào trong nhà.


Ghình Gúng khẽ gõ gõ đầu điếu can xuống một gộc tủ để tháo tàn thuốc. Đoạn, lão chống gối đứng dậy:


- Tum Điàng đi ngủ đi. Lúc nào gà gáy thì dậy đóng cho ta năm con ngựa.


Ông già vừa nói vừa đi vào buồng.


Một thời gian qua.


Tiếng nước lần vẫn đều đều rỏ giọt.


Tum Điàng chợt nảy ra một ý. Anh thắt dao lưng rồi lẻn ra ngoài.


Mặt trăng, như cặp sừng trâu, nằm vắt vẻo trên ngọn núi đằng xa. Sương mù bao phủ sự vật một tấm màn sa trắng. Cảnh núi rừng thành ra một cái gì nó không thể có ở trong cuộc đời.


Tum Điàng cắm cúi đi; anh bước lần theo trí nhớ. Anh vượt qua một cái dốc, leo lên một tảng đá, khoanh tay đứng nhìn về hướng bắc, phía con đường vẽ ngang rặng núi một nét phấn mơ hồ. Hình ảnh đoàn mã phu lại hiện trước mắt anh, như một đoàn chiến sĩ hoang đường...


IV


Ra tới Bắc Quang, Ghình Gúng vội vã làm cho xong mọi việc rồi, bình tĩnh hôm sau, lão tức khắc lên đường về Nặm Tỉ.


Một buổi sớm về cuối thu. Trời đẹp, khí hậu ấm áp. Vòm không xanh trong. Muôn tiếng chim ngàn đua hót làm rung rinh cái yên tĩnh trùm trên sự vật.


Khỏi châu lị chừng một dặm, người mã phu già rẽ cương cho ngựa vào lối tắt. Và từ đấy, lão bắt đầu bỏ cuộc đời lại ở sau lưng. Thế thực, trên con đường đất đỏ gập ghềnh uốn khúc, lão Ghình Gúng và năm con ngựa thồ luôn luôn chìm trong lau sậy. Không một tiếng động của hồng trần, ngoài tiếng ve kêu ra rả đâu đó, như đã kêu không biết tự bao giờ... Gần xa, những chỏm núi đầy hoa roóc mạy nom chẳng khác từng bó đuốc khổng lồ cháy rực dưới vòm không xanh biếc.


Ghình Gúng khoanh hai tay trước ngực, ngồi lặng trên yên gỗ, mặc cho toàn thân nhịp theo bước chân con ngựa màu thổ hoàng. Chiếc điếu can ngậm chéo ở một góc mép, người mã phu già có một vẻ mơ màng, ngơ ngẩn... Trải hai mươi năm, lão đi lại trên con đường hiểm trở ấy nhưng, trước phong cảnh hằng ngày trông thấy, tâm hồn kia đã cảm nghĩ những gì?


Cứ trông bề ngoài, ông già Mèo ấy thản nhiên lắm trong khi đàn ngựa thồ cứ đều đều bước một lên dốc, và lên dốc mãi.


Bỗng, Ghình Gúng lắng tai nghe.


Tự xa xa đằng phía hữu, đưa lại một tiếng ồn ào sâu thẳm và hãi hùng như cả một cơn giông đang kéo lại từ đâu khắp bốn phía chân trời. Vòm không u ám hẳn lại; không khí lạnh lẽo; từng dải mây đen lờ mờ nối tiếp hiện ra, quằn quại giữa không trung như mấy con quái vật rờn nhau rồi, vụt cái, bay bổng lên mù khơi. Ghình Gúng liếc mắt nhìn xuống vực sâu thấy một con suối đang chảy dội, như cả một dòng thủy ngân. Cái tiếng ầm ầm là tự đấy!


Quãng đường này quanh co hình như lộn trở lại khiến ông già chợt thấy Bắc Quang hiện xa xa, phảng phất một bức thành bị bỏ quên ngang sườn núi hoang rậm.


Ngựa vẫn lên dốc...


Với một bề rộng chừng non một sải, khúc đường men trên miệng vực lại thêm lởm chởm những đá tai mèo.


Ghình Gúng rùng mình: lão chợt nghĩ dại dột rằng nếu chẳng may con ngựa của lão trượt chân xuống thung lũng thì cả nó và lão sẽ tan tành vào trong cái mênh mông vô tình, cũng như một hòn sỏi ném xuống cái ao to; mặt nước có sủi tăm lên nhưng chỉ thoáng cái lại phẳng lặng như không nhớ gì việc vừa xảy ra nhỏ mọn nữa!


Ghình Gúng vội ngoảnh mặt vào vách núi để tránh cái rùng rợn và chóng mặt. Lão giật cương cho ngựa đi mau, đi cho khỏi đoạn đường lơ lửng trong mây khói mịt mù.


Được một quãng xa, Ghình Gúng lại nghe văng vẳng một tiếng ồn ào khác.


Đó là tiếng một con suối khác, một con suối từ đỉnh mây mờ đổ xuống ngang đường, nom xa giống một con rắn khổng lồ đương lồng lộn đi kiếm mồi. Đàn ngựa qua một chiếc cầu tre mỏng manh ném ngang trên dòng nước lũ, bên mấy cội cơi già. Ghình Gúng nhìn những đợt nước xoáy băng băng và lắng nghe cái tiếng vó ngựa gõ lùng bùng xuống mặt phên tre. Lão có cảm xúc lờ mờ, nửa như sợ hãi, nửa như đùa giỡn với cái gì nguy hiểm lắm.


Qua khỏi thác nước, đường càng hiểm trở. Mặt trời đóng giữa vòm không. Ngựa vẫn lên dốc. Nhìn ra, lão vẫn thấy dải đường, chạy tun hút ngang chừng đỉnh núi, dải đường có lẽ chẳng bao giờ hết và nếu còn cứ lên cao mãi, có lẽ rồi đưa đến mây xanh.


(còn tiếp)


Nguồn: Lan Khai Tuyển tập. Trần Mạnh Tiến sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học sắp xuất bản


www.trieuxuan.info


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cõi mê - Triệu Xuân 25.03.2020
Giấy trắng - Triệu Xuân 25.03.2020
Anh em nhà Karamazov - FYODOR Mikhailovich Dostoyevsky 16.03.2020
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 15.03.2020
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 15.03.2020
Đêm Sài Gòn không ngủ - Trầm Hương 10.03.2020
Trong cơn lốc xoáy - Trầm Hương 10.03.2020
Ông cố vấn - Hữu Mai 26.02.2020
Đẻ sách - Đỗ Quyên 15.02.2020
Hòn đất - Anh Đức 13.02.2020
xem thêm »