Một mỏm núi nhô ra, bắt con đường phải quặt thước thợ. Ghình Gúng từ trên yên ngựa nhảy xuống: trước mặt lão, một đống cành lá nằm lù lù ngay lối đi, như một con trâu mộng. Từ cái đống quái gở ấy, bốc lên một làn khói xanh uể oải. Ghình Gúng nhặt một cành lá khô ném vào đống rấm, miệng nói gì như khấn nguyện. Đó là một đống lửa chiêu hồn, người ta nhóm lên để làm chỗ hội họp cho các vong linh lưu lạc của bọn phu phen, tù tội đã bỏ mình trong khi làm con đường này. Họ chết nhiều lắm nên hồn oan tức giận thường đón người ta để làm cho ốm đau. Tsíneng phải đến cúng rồi nhóm lên một đống lửa. Trải một năm nay, lửa cứ âm ỉ cháy đều, do hành khách và bọn mã phu săn sóc cho, mỗi lẫn qua lại.
Ghình Gúng làm xong cái phận sự của lão với ma quỷ, lại nhảy lên yên và giục ngựa đi.
Đường mỗi lúc một hẹp và thêm nhiều đá. Và, cứ cách một quãng lại một con suối chảy chắn ngang. Đoàn ngựa thồ đã quen và dạn lắm vậy mà đến đây cũng phải dò lần từng bước.
Ghình Gúng từ nãy vẫn nghĩ vơ vẩn đến các oan hồn mà lão tin rằng đương tụ họp quây quần chung quanh đống lửa. Rồi, từ truyện ma quỷ này, lão nhảy sang truyện ma quỷ khác. Lão bồi hồi nhớ lại cái tiếng kêu của con chim báng đêm hôm trước và tự nhiên lòng cảm thấy rờn rợn. Lão nhìn con đường, nhìn vực sâu há ra ngay cạnh dưới chân ngựa lão. Nỗi sợ hãi vô cớ làm cho người mã phu già muốn chạy trốn, chạy trốn một cái gì, một cái tai nạn sẽ xảy ra không chừng.
Bỗng, Ghình Gúng chú ý đến một người cưỡi ngựa từ trên ngọn núi đi xuống. Lão tự hỏi lòng: “Quái, sao hắn lại luẩn quẩn ở chỗ rừng hoang này!”. Hai ngựa gần nhau. Ghình Gúng đã nhìn rõ và lên tiếng hỏi:
- Tô Chố đi đâu? Làm gì trên ấy?
Anh Mèo tuổi trẻ, hàng xóm của Ghình Gúng và hiện đang làm một chức vụ gần giống như chức quản động, điềm nhiên trả lời:
- Tôi đi đón Ghình Gúng!
Lần thứ nhất, một vẻ ngạc nhiên hiện ra trên mặt ông già điềm đạm.
- Ồ lạ! Tô Chố mà đón tôi làm gì?
- Tôi muốn nói với ông một chuyện này.
- Nói đi.
- Tôi vẫn định sang chơi bên ông từ lâu...
- Mà tại sao không sang? Ta cũng quen thuộc láng giềng với nhau chứ...
- Vẫn biết. Nhưng tôi ngại Tum Điàng lắm. Ối chà, ông Ghình Gúng không biết đó thôi! Tum Điàng chẳng ưa tôi đâu.
- Tum Điàng nó còn trẻ con, kể làm gì.
- Trẻ con à, Tum Điàng hơn tuổi tôi chứ!
- Đã đành thế mà nó còn dại dột lắm.
- Tôi không biết tại sao Tum Điàng không ưa tôi nên tôi đành ra đây đón ông để hỏi ông một việc này...
Lão già nhìn anh Mèo trẻ tuổi bằng đôi mắt tò mò chăm chú. Anh ta cúi đầu, hai gò má hơi ửng đỏ. Ghình Gúng như chợt hiểu ra. Mắt lão sáng lên. Một nụ cười bí mật thoáng trên môi mỏng.
- À Tô Chố muốn hỏi việc gì? Tô Chố nói thật đi, sao cứ thẹn như con gái ấy!
Chàng thiếu niên vẫn ngần ngừ ấp úng, khiến ông già càng vững chắc mình không lầm. Vẻ cười cợt hóm hỉnh trên mặt lão đổi ra giễu cợt. Thở một hơi thuốc lào, Ghình Gúng tiếp:
- Tô Chố ý chừng muốn nhờ ta nghĩ hộ về việc vợ con chứ gì?
Mừng như thoát được một bước khó khăn gai góc, anh Mèo trẻ tuổi vồ ngay lấy câu nói của ông già.
- Chính thế đấy. Mà... tôi muốn ông Ghình Gúng cho tôi xin cô Tsina.
- Ồ, trong động thiếu gì con gái tốt hơn Tsina nhà tôi! Nhà tôi nghèo lắm!...
- Tôi van ông đừng nói thế. Tôi có thể vứt hết của cải để cùng nghèo như ông...
Ghình Gúng cười khảy:
- Hừ, Tô Chố tốt bụng lắm. Nhưng mà...
Anh chàng lo lắng:
- Nhưng mà làm sao?
- Tôi không bằng lòng.
Cặp lông mày róm của anh Mèo trẻ cau lại. Một tia lửa thù hằn lòe ra trong mắt anh:
- Ông cũng ghét tôi à?
Ghình Gúng đủng đỉnh:
- Nghe Tô Chố làm gì? Người ta không sợ Tô Chố thì thôi chứ sao mà ghét! Tô Chố thân với quan lắm! Tô Chố đã đưa quan về bắt rượu nhà Thoỏng Điải... Việc ấy, ai ai cũng còn nhớ.
Mặt Tô Chố đỏ gay gắt. Sự khinh bỉ của tất cả động Nặm Tỉ anh thấy ngụ trong câu ông già Ghình Gúng nó như đâm vào lòng anh như một cái gai giấu trong bụi rậm. Tuy thế, anh còn hỏi gượng:
- Ông nhất định không bằng lòng cho tôi cô Tsina à?
- Xưa nay Ghình Gúng có nói hai lời bao giờ đâu!
Ghình Gúng giục ngựa tiến lên, bỏ mặc Tô Chố đứng tưng hửng giữa đường. Cách độ năm bước, lão già phải gò cương cho ngựa đi chậm lại: một dòng suối tràn qua khúc đường đá xanh rêu trơn như mỡ lại men ngay trên miệng vực. Tô Chố nhìn theo với vẻ tức giận. Bỗng, hắn biến sắc. Cặp môi hắn mím lại, mắt hắn đỏ lên, toàn thân rung động vì một lập tâm gì quái gở. Hắn cũng quay đầu ngựa lại và đuổi theo Ghình Gúng.
Người mã phu già ngoảnh nhìn.
Tô Chố van nài một lần nữa:
- Ông à...
- Ồ, thôi đi, Tô Chố nói nhiều chỉ phí lời mà thôi.
Lão vừa dứt câu, con ngựa gầy bỗng chồm lên rồi, mất thăng bằng, nó tuột chân ngã và kéo theo luôn cả Ghình Gúng xuống vực thẳm.
Tô Chố ngây ra đến một phút, mặt không còn giọt máu. Sau cùng, hắn như chợt tỉnh, vội quất ngựa lẩn vào rừng...
V
Trong nhà Tum Điàng, cái đoạn khóc ầm ĩ qua rồi và đã tiếp đến đoạn rầu rĩ im lặng. Tsina bó gối ngồi trông cho nồi máo cỏa sôi. Tum Điàng khoanh tay tựa cửa nhìn ra phía dải đường son thắm. Cả con chó xù cũng ra vẻ tư lự vểnh tai nghe những tiếng động gần xa...
Tô Chố chợt sang thăm, y lấm lét khẽ hỏi Tum Điàng:
- Cái gì thế, anh?
Tum Điàng ngẩng đầu nhìn Tô Chố làm cho anh này phải quay mặt đi nơi khác. Và, nếu Tum Điàng để ý một chút, anh sẽ thấy sắc mặt Tô Chố tái thêm. Nhưng mà, Tum Điàng còn kịp nhận xét đâu đến sự ấy. Anh thong thả như dè dặt cả từng tiếng nói:
- Đến phải đi tìm mất!
- Thế ông còn chưa về à?
- Không.
- Anh Tum Điàng nghĩ thế nào?
- Tôi lạ lắm! Không biết nghĩ thế nào. Đã hai hôm nay rồi...
- Hay ông Ghình Gúng còn chơi ở ngoài châu?
- Không phải, bố tôi chơi gì đâu. Bố tôi hẹn về ngay mà; đáng ra phải đến nhà từ chiều hôm kia.
- Anh Tum Điàng không hỏi bọn ở ngoài về xem...
- Bọn họ cũng không ai thấy gì cả. Lạ hơn nữa là bốn con ngựa của bố tôi về rồi.
- Ồ, thế thì chắc suối nước đã cuốn ông Ghình Gúng đi...
Tum Điàng lắc đầu:
- Không phải. Tôi chắc bố tôi chết rồi.
- Chết rồi à?
- Có đứa nào giết.
- Không phải. Các thồ hàng có mất thức gì không?
- Không. Túi muối, thịt lợn và bánh còn cả.
- Thế thì không phải có đứa nào giết. Chỉ tại nước cuốn đi...
- Nước cuốn thế nào được. Mùa này, suối có lũ đâu!
- Mùa này nước không lũ nhưng mà ngựa nó trượt chân thì sao! Đường từ Bắc Quang về đây, có nhiều chỗ trơn lắm!
Tum Điàng mở to hai mắt hoảng hốt nhìn Tô Chố; anh này tiếp theo:
- Phải, ngựa nó chỉ trượt chân một tí thôi là ông Ghình Gúng có thể lăn xuống vực sâu ngay, xương thịt nát ra như cám...
- Ồ, thế thì làm thế nào?
- Làm thế nào! Chỉ có thuê người đi tìm xác ông về mà làm ma.
Câu nói tàn nhẫn ấy càng làm cho Tum Điàng choáng váng. Anh ta không còn suy xét gì nữa, nói như cái máy:
- Thuê người tìm xác về, à... phải!... Tôi phải bán mấy con ngựa đi đã...
Cặp mắt Tô Chố sáng hẳn lên:
- Không cần bán. Tôi cho vay ba mươi đồng. Rồi khi nào có, anh trả tôi cũng được. Tôi lại giúp anh dẫn người đi tìm ông Ghình Gúng nữa.
Tum Điàng cảm động đến ngây ra nhìn Tô Chố. Anh nắm lấy tay người khách hảo tâm.
- Phải đấy! Tô Chố tốt bụng quá đi mất thôi. Tôi thực không biết nói thế nào...
- Cần gì! Để tôi về gọi người và đem tiền sang giúp anh.
Tô Chố không chào mà lui ra. Tum Điàng ngồi bệt xuống ngưỡng cửa. Anh không ngờ đâu Tô Chố lại tốt bụng đến thế. Anh tự trách mình từ trước vẫn không thèm chào Tô Chố, cứ nhắm mắt nghe theo những lời chửi bới của hang động.
Khi người ta sẵn tiền và thế lực như Tô Chố thì việc gì mà người ta lại không làm được một cách dễ dàng. Anh ta lui về chỉ một nhoáng cái đã trở sang nhà Tum Điàng với một bọn đông mã phu khỏe mạnh, người nào cũng cưỡi ngựa cả. Cuộc tìm xác bắt đầu. Tum Điàng cũng cưỡi ngựa theo đám đông; anh gọi cả con chó xù đi theo để nó giúp cho sự tìm tòi được thêm dễ. Thế rồi, ngay chiều hôm ấy, xác ông già Ghình Gúng đã được đưa về. Tsíneng (ông thầy cúng), được Tô Chố cho mời trước, đã chực sẵn ở nhà Tum Điàng. Ông chạy ra, lật tấm chiên bằng vải chàm đậy kín trên mình kẻ bị nạn. Một cảnh tượng ghê gớm hiện ra: lão Ghình Gúng chỉ còn là một đống thịt xương rách nát và đẫm máu. Râu lão rối tung, be bét những bùn lầy. Hai mắt lão giương trừng trừng rất kinh hãi. Chắc hẳn lúc lão lăn xuống vực, lão đã hiểu rõ ngay cái chết không thể nào tránh được nữa. Mọi người trong xóm Nặm Tỉ xúm lại trước nhà Tum Điàng. Họ bàn tán xôn xao cả lên. Là vì, sự thực cái tai nạn xảy ra kia thực là một việc phi thường! Chỉ có Tsina là chẳng còn biết gì nữa. Cô ả bứt đầu bứt tai, gào khóc thảm đạm. Tsíneng bắt đầu khởi sự tang ma. Sự xót thương làm cho vẻ mặt ông thầy cúng ủ ê hẳn xuống. Ông làm phép chiêu hồn người bất hạnh bằng những cử chỉ và những câu hát bí mật. Hai mắt ông nhìn thăm thẳm vào không gian trong khi toàn thân ông run lên, cũng như mỗi lần ông cúng, nghĩa là mỗi lần linh hồn ông tiếp xúc với thế giới của ma thiêng.
Cái nguy biến đến đột ngột cho nhà Tum Điàng, lúc này đều được mọi người công nhận chỉ là một tai nạn, giống như trăm nghìn tai nạn khác, thường xảy ra trên con đường hiểm trở. Trong số người có mặt bên xác Ghình Gúng có lẽ chỉ một mình Tô Chố hiểu rõ sự thực, cái sự thực ghê gớm mà thôi.
VI
Cái chết của Ghình Gúng, như một viên đá ném xuống mặt ao tù, đã làm sóng sánh sự yên tĩnh của xóm Nặm Tỉ trong ít lâu...
Bây giờ thì không ai nhắc đến cái tai nạn ghê gớm ấy nữa. Người ta không thể nhớ mãi cái chết trong khi cái sống còn cần hơn. Ngay Tum Điàng cũng vậy. Đột ngột thành một người chủ nhà, Tum Điàng không còn rảnh mấy lúc để vẩn vơ nghĩ ngợi. Anh phải lo để nuôi sống mình và nuôi sống em gái là Tsina. Anh phải đi phát nương ngay mới kịp gieo ngô, nếu không thì đến mùa lấy gì mà gặt. Công việc này không phải dễ dàng gì! Cây cỏ là những con cưng của tạo hóa. Lúc nào nó cũng sẵn sàng xóa sạch dấu vết mọi sự gắng công của người. Hôm nay, người ta phát được một mảnh nương, đốt thật kỹ, dọn thật sạch, nhưng vài hôm sau, người ta chợt ngoảnh lại, cây cỏ đã mọc lên bằng đầu! Mà công việc phát đốn vốn vẫn khó nhọc lắm! Người ta phải thẳng tay rìu đẵn hàng giờ dưới ánh nắng mới ngả được một cái cây; người ta phải múa rựa phát rã cánh mới đứt được những búi cỏ bồng, cỏ rác. Phát như thế chừng nửa tháng mới xong được một mảnh nương. Rồi lại phải để cho cây cỏ phơi nắng thật khô mới châm lửa đốt, vì khi đốt nếu không cẩn thận, lửa cháy lan ra các khu rừng bên cạnh, người ta có thể bị phạt tiền, có khi phạt tù nữa. Sau cùng, người ta lại phải dọn các thân cây, cành cây cháy dở xếp ra bốn góc nương, cho nguội hẳn mới đem gậy nhọn chọc xuống tro thành từng lỗ để gieo hạt.
Trong khi hạt giống chưa gieo, trời nếu mưa lũ làm trôi hết tro mầu thì bao nhiêu công phu khó nhọc đều vứt đi cả. Hạt giống một khi đã gieo rồi, người ta phải dựng chòi để canh, bổ tre làm càm cạp và buộc dây giật luôn tay cho quạ, bồ câu rừng, sáo, vẹt khỏi xuống ăn mất hết.
Cây non vừa mọc, người ta phải lo nai ra ăn, vì thứ cây ngô này ngọt, hươu nai ưa lắm. Bao nhiêu đêm ngày canh gác đợi chờ kết quả, tức là lúc người ta phải lo sợ nhiều nhất, vì không ai còn lạ cái tài bẻ trộm ngô của loài khỉ nữa. Mỗi khi gặp nương ngô đã có quả, bú dù thường kéo đến rình phá hại. Chúng ranh mãnh lắm; trước khi vào nương, chúng biết chia mỗi gốc một con ngồi vắt vẻo tận cành cao để hễ có người là phải báo hiệu cho đồng bạn. Sự canh gác nghiêm ngặt đã xếp đặt đâu đó rồi chúng mời ùa nhau vào nương, con nào cũng buộc ngang lưng một sợi dây sắn. Chúng bẻ ngô, lộn ngược vỏ ngoài buộc vào dây lưng rồi vọt lên cành cây và chuyền đi mất. Không còn cảnh tượng nào khiến người đường rừng tức bực và buồn cười bằng cái cảnh một đàn khỉ nhảy ríu rít trên cây, lưng mỗi con một xâu ngô như một đoàn lính đeo lựu đạn.
Nhưng mà làm sao được! Miếng ăn tuy khó kiếm mà người ta vẫn không thể ngồi khoanh tay chờ chết đói. Người ta vẫn phải lăn lưng vào công việc, để đổi bát mồ hôi lấy bát cơm.
- Phải làm ngày mai; hang động người ta phát xong từ mấy hôm rồi. Tsina trông nhà nhé và lúc nào mặt trời đứng bóng, Tsina đem cơm ngô vào nương cho ta.
Trước cửa bếp, Tum Điàng, ngồi vào chỗ của cha vẫn ngồi, vừa hút thuốc vừa dặn dò Tsina mọi việc.
Cô gái sơn lâm, lúc ấy đương mải quay guồng. Tum Điàng nói xong một lúc rồi, cô mới đáp:
- Anh đem cơm theo mà ăn. Để lúc gà gáy tôi dậy thổi.
- Phấy! Không được! Đem theo thì để vào đâu? Kiến vàng nó xúm lại ăn hết còn gì!
Tsina có ý không bằng lòng. Cô càu nhàu nói những gì nghe không rõ, tuy mặt cô không ngửng lên và tay cô vẫn đều đều quay bánh xe...
Tum Điàng gắt:
- Tsina đừng có làm biếng! Phải chịu khó một tí chứ... Con gái mà lười thế thì làm thế nào?
Tsina liếc mắt nhìn Tum Điàng.
Bỗng, có tiếng chân ai từ xa đi lại.
Cả hai anh em cùng lắng nghe... Con chó xù cũng trỏng tai và hậm hực lên mấy tiếng.
Tum Điàng lẩm bẩm:
- Vảy, ai đi khuya thế nỏ!
Anh vừa dứt tiếng, một người khác lạ đã bước vào; con chó xù chồm lên toan cắn. Tum Điàng quát:
- Chó!
Đoạn vừa đứng dậy Tum Điàng vừa đon đả nói:
- À, anh Tô Chố! Đi đâu mà khuya thế?
Khách lì lì vẻ mặt, đi thẳng đến bếp lửa, nhưng không quên liếc về phía Tsina một cái nhanh như chớp!
- Chán quá đi mất!
Tô Chố nói xong, thở đánh khà một tiếng đoạn với lấy chiếc điếu cày.
Tum Điàng hỏi:
- Cái gì thế, anh Tô Chố?
- Có gì đâu! Tôi lo lắm!
- Mà lo cái gì mới được chứ?
- Lại còn lo gì nữa! Tiền! Tôi cần tiền lắm!
Tum Điàng cúi mặt, nhìn ngọn lửa cháy.
- Tôi cần một món tiền. Tôi không biết làm thế nào bây giờ. Mà hỏi anh thì không biết anh có trả không?
- Có chứ, thế nào tôi cũng trả, nhưng bây giờ thì làm thế nào được! Anh để cho đến ngày mùa.
Tô Chố cau lông mày.
- Nếu để đến ngày mùa được, tôi đã chẳng lại đây tìm anh làm gì.
- Anh cần ngay bây giờ?
- Vâng.
- Chết... làm thế nào được nhỉ?
- Tôi cũng biết anh túng, nhưng cần quá, không làm thế nào được!
- Ồ!
Tum Điàng lo lắng. Anh ta chưa từng có vay mượn ai bao giờ nên lấy việc này làm quan hệ cũng chẳng kém gì có chuyện lôi thôi phải lên quan.
Tô Chố thong thả nói:
- Anh phải thu xếp ngay cho tôi món tiền ấy nhé.
- Làm thế nào được bây giờ?
- Tôi biết đâu lúc anh cần, tôi giúp anh; bây giờ tôi cần, anh lại giúp tôi.
- Hay là tôi...
Tum Điàng ngừng lại vì xúc động; cái việc anh sắp nói, đối với một người Mèo, nó là một việc quan trọng lắm. Nó thiết tha với lòng anh vô cùng.
Tô Chố ngẩng đầu; hai mắt anh sáng ngời:
- Anh nói thế nào?
- Hay là tôi gán cho anh hai con trong số bốn con ngựa thồ...
- Tôi lấy ngựa làm gì! Ngựa tôi có nhiều lắm rồi!
- Hay anh chờ tôi bán?
- Bán thì ai mua?
- Thế thì làm thế nào được!...
- Cái ấy, tôi biết được... Giá tôi có vợ con rồi - Tô Chố liếc nhìn Tsina: ừ, giá tôi có vợ con rồi, tôi để nó coi nhà, còn tôi, tôi chịu khó đi một chuyến ngựa vậy. Nhưng mà vợ con, tôi chưa có, tôi không thể bỏ nhà cửa đấy mà đi đâu được!
Nghe câu nói ấy, Tum Điàng bất giác nhìn em gái.
Tsina cúi mặt; tay guồng của thiếu nữ tự nhiên mất hẳn nhịp nhàng.
Tô Chố vẫn điềm nhiên ngồi trông bếp lửa, nhưng, dưới cặp mày rậm, mắt anh ta nhìn không sót một cử chỉ nào của Tum Điàng. Và, trên ba người, một sự im lặng nặng nề bao phủ.
Thời khắc cứ qua đi, trong tiếng nước lần rỏ đều đều không ngớt giọt...
VII
Tum Điàng làm việc được một lúc lâu, mặt trời mới mọc. Những sườn núi cao, những chỏm cây lớn đều sáng rực một thứ men vàng lóng lánh. Và tự các lòng thung, sương mù thong thả bốc lên như hơi nồi chõ.
Cảnh rừng chung quanh Tum Điàng, từ sớm vẫn im lặng, bỗng rộn rịp những tiếng chim kêu. Cuộc sống của muôn loài hình như phải chờ đợi cái tia nắng đầu tiên mới bắt đầu.
Tum Điàng chống búa đứng im; mắt anh đăm đăm nhìn một giọt móc lòe lửa trên đầu một ngọn cỏ rác, nó phảng phất một con mắt đương nhấp nháy cười. Tuy hơi sương còn lạnh, Tum Điàng, sau một hồi cử động, cũng thấy nóng ran cả thân thể. Anh cởi phanh cúc áo, phơi ra một tấm ngực vuông góc bánh chưng có những bắp thịt nổi hằn dưới lớp da màu đồng trụ.
Cái mảnh nương bên sườn núi chênh chênh. Tum Điàng phát đã gần xong. Những cây ba soi, cây nhựa vàng, cây đỏ ngọn, những khóm sa nhân, những khóm cỏ rác nằm ngổn ngang trên mặt đất như những thây chiến sĩ trải mặt chiến trường.
Ấy thế mà Tum Điàng vẫn chưa coi vào mùi mẽ gì cả; anh chỉ thấy trong người anh nóng lên, da anh hơi nhoáng ướt mồ hôi mà thôi. Anh tựa đầu cán cuốc vào bụng, vươn hai cánh tay gân guốc ra rồi lại co gập lại để nhìn những con chuột chạy đi chạy lại. À, với hai cánh tay ấy, anh còn làm cho nhiều cây phải ngã, nhiều khoảng rừng hoang phải trơ mặt đất dưới ánh sáng.
Nhưng, hình như trong lòng anh, Tum Điàng vẫn thấy tiếc nhớ một cái gì thì phải. Anh nhắc lại câu hát của đoàn phu tải hôm nào. Một đám người ngựa lại hiện ra, trên một dải đường núi cheo leo. Cái chết bí mật và ghê gớm của cha anh không đủ vấy máu lên cái cảnh tượng còn hoạt động trước mắt anh. Ồ! Sao cả tâm hồn anh cứ như bị hút đi xa... Cái tiếng hát lạ lùng kia sao còn vang trong lòng anh mãi! Tum Điàng thở dài, và thong thả, anh ghé ngồi xuống một thân cây đổ. Trên mặt anh, một cái gì hiện ra như một sự buồn bực.
Phải, Tum Điàng buồn bực lắm khi mà anh phải làm những việc nó dọa sẽ không cho anh rời đi đâu nữa. Bỗng, anh cất giọng rầu rầu hát:
Xứ Mèo, ai biết về đâu!...
Ồ, cái gì thế?
Tum Điàng lắng tai nghe...
Anh hát có một câu thôi, mà sao câu hát ấy vọng đi thành một câu khác hẳn, êm ru lạ...
Không phải!
Có ai ở đâu đây. Có một người đàn bà!
Tum Điàng rùng mình: anh nhớ đến những truyện ma cổ tích. Ừ, người ta vẫn nói ở trong rừng có ma quỷ hiện ra để trêu ghẹo những người đi làm nương hoặc kiếm củi có một mình.
Tiếng hát gần mãi lại...
Tum Điàng hoảng hốt quay đầu nhìn về phía sau lưng: một hình người thấp thoáng trong cái tranh tối tranh sáng của rừng hoang.
- À! Tsina!
Tum Điàng thở dài một tiếng mạnh.
Tsina lại gần, ngồi xuống bên cạnh anh và đưa cho Tum Điàng một gói bọc lá dong còn tươi.
- Ồ nhỉ, Tsina tốt lắm!
Cô gái mỉm cười và nũng nịu:
- Anh bắt tôi đi xa xa là!...
Tum Điàng nhìn em: Sao Tsina xinh thế! Cùng cha mẹ đẻ ra mà hai anh em không giống nhau chút nào. Hang động cũng nhiều người nhận rõ điều ấy. Anh chợt nghĩ đến Tô Chố! Xem ý Tô Chố thiết Tsina lắm. Mà cũng phải. Một người con gái như Tsina, thảo nào?
- Anh à?
Tum Điàng đã bẻ một miếng cơm nắm cho vào miệng. Anh hất hàm:
- Gì?
- Tô Chố vừa sang nhà ta.
- Tô Chố sang nhà ta làm gì nữa?
Tsina cúi đầu.
- Nó bảo em lấy nó thì nó không đòi nợ anh.
Tum Điàng nuốt vội miếng cơm nhai dở và càu nhàu:
- Nó bảo thế à? Tô Chố cho ta vay tiền thực không phải vì nó tốt bụng.
Tumg Điàng tức lắm!
Là vì, trong cái óc chất phác ấy, những cái gì quanh co đều chưa quen. Anh ta thấy rõ ý định của Tô Chố, lấy làm lo ngại rồi nhân đây thành tức giận. Mà, khi Tum Điàng tức giận, anh giống hệt một con gấu.
- Vảy cà!...
Tum Điàng chú ý. Anh ngẩng mặt lên; hai mắt anh mở to ra và sáng lóng lánh. Cùng lúc ấy, quai hàm anh ngừng nhai...
Trước mắt anh, về bên kia mảnh nương phát dở, một cảnh tượng làm anh phải ngây nhìn: một con khỉ cái hoảng hốt chạy từ trong bụi rậm ra. Nó còn chạy nữa, nếu cánh nương quang đãng không làm nó kinh sợ, ngờ vực. Nó nhớn nhác đứng lại trên một cành ngõa thì một con khỉ đực cũng vừa theo kịp và nắm được tay nó.
Một cuộc vật lộn kịch liệt làm rụng lá, rung cành.
Những tiếng kêu chí chóe nổi lên tán loạn trong tĩnh mịch.
Nhưng kìa, con khỉ cái đã bị nắm chặt cả hai tay. Sự chống đỡ của nó mềm hẳn đi. Nó ngả mình trên một cành gai, đầu ngửa ra phía sau: hai mắt từ từ nhắm.
Được thắng thế, con khỉ đực cũng bớt tàn bạo. Nó vẫn giữ không cho con cái chạy được nhưng nó không trợn mắt, nhăn răng một cách dữ tợn như ban nãy. Nó vội vàng làm cái việc cần cho sinh lý, một khi con cái, hoặc vì mệt hoặc vì bị kích thích, đã không cự lại. Nhưng, ngay giữa lúc không ngờ, nó bỗng thét lên một tiếng và lộn nhào xuống cành dưới: nó đã bị con cái đánh bất thình lình.
Tum Điàng khoái chí thấy con vật tinh ranh bị ngã. Anh ta phá lên cười và quay lại để nói với Tsina một câu giễu cợt.
Câu nói đã ngừng lại trên miệng anh. Vẻ cười cợt biến hẳn. Một xúc động, một xúc động mạnh hiện rõ trên mặt anh: ở cô con gái má đỏ hồng hào đương gượng cười một cách e thẹn, Tum Điàng không thấy người em đâu nữa! Chỉ còn một người đàn bà, chỉ còn một con cái.
Chính Tum Điàng cũng không hiểu sao như thế. Và chính anh bị choáng váng bởi sự nhận thấy không ngờ và đột ngột đến nỗi nó đảo lộn cả tâm hồn anh lên như một cái cây to bị sét làm cho nhào lộn bật rễ.
Rồi, đương yên lành, anh bỗng nóng ran cả người; chân tay anh run bần bật; hơi thở của anh dồn dập và ngắn lại.
(còn tiếp)
Nguồn: Lan Khai Tuyển tập. Trần Mạnh Tiến sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học sắp xuất bản
www.trieuxuan.info |