Chúng tôi vừa tìm được hai chương 10 và 11, phần cuối của tác phẩm Dấu ngựa trên sương, tên cũ là Mọi rợ.
X
Thế là đám rước xong!
Cô dâu đã về nhà chồng sau một cuộc đón rước ồn ào như họp chợ. Từ nay TsiNa sẽ mãi mãi là người của Tô Chố. Sống gửi thịt chết gửi xương.
Còn Tum Điàng?
Anh thở dài một tiếng, đầu từ từ ngẩng lên, mắt thẫn thờ nhìn ra dải đường đất chạy một vệt trắng ngòng nghoèo về phía Bắc, sau cũng mất hút vào rừng rậm.
Cái đám đông họ nhà trai hình như vẫn để lại trên con đường ấy một chút vang bóng chưa mất hẳn.
Tum Điàng vẫn tựa hồ nghe thấy tiếng Crèng, tiếng hát, điểm những tiếng súng hoả mai đì đẹt.
Trời mỗi lúc một tối dần...
Bóng đen như thoát ra từ tán đất dâng lên và chìm nhòa cả sự vật.
Đâu đó ngoài cánh đồng, tiếng con tắc kè kêu đều đặn và lanh lảnh.
Ấy là những giọt cảm giác về sự cô liêu nó rỏ xuống hồn anh Mèo trẻ tuổi.
Và như một tiếng thở dài chạy trên lá cây, gió chiều thoảng tới làm cho Tum Điàng rùng mình.
Anh không thể ngồi gan mãi thế trên ngưỡng cửa.
Anh quay vào trong nhà ngồi bên bếp lửa có lẽ ấm cúng hơn. Nhưng mà bên trong lúc này là tất cả một sự rỗng không mịt mù và bát ngát, trong đó anh tự cảm thấy mình như một hòn sỏi bị bỏ rơi xuống một cái vực không đáy.
À từ nay, anh sẽ lẻ loi cô độc như thế này mãi mãi.
Anh không có ai thề cùng anh trong nếp nhà rộng. Dù không có ai nói với ai câu nào, sự có mặt một người thứ hai bao giờ cũng vẫn đông đúc dễ chịu hơn.
Nhưng anh sẽ chẳng có ai hết.
Bố anh chết rồi.
Em gái anh đã về nhà chồng.
Bây giờ, anh muốn làm việc gì cũng bị ngăn trở.
Anh lên nương ư? Ở nhà ai coi sóc các việc vặt, các đồ dùng và trâu bò gà lợn cho anh?
Anh ở nhà ư? Khỉ, vẹt, hươu, nai sẽ đem nhau đến làm cho cái bồ hôi nước mắt của anh sẽ hoá ra công cốc.
Trước kia vẫn ở với nhau anh không nhận thấy sự cần ích của cha anh và em anh.
Đến bây giờ là lúc anh nhận thấy sự cần thiết và ích lợi ấy thì cha anh và em anh đã mất từ xa rồi.
Mà sự chia lìa ấy từ dâu mà ra?
Từ Tô Chố.
Phải, chỉ tại Tô Chố mà ra hết, không có hắn thì đâu ra chuyện!
Tum Điàng mắm môi tức giận.
Anh lẩm bẩm:
Cái thằng beo bắt!
Ấy là một tiếng nguyền rủa ghê gớm nhất của Tum Điàng.
Đã dùng đến nó, anh phải bị đầy ứ đến cổ bởi sụ căm thù.
Bỗng một ý khác vụt đến:
- “ Tsi Na lúc này đang ở tron buồng Tô Chố!”
Toàn thân anh như bị một vết cắn của rắn độc. Anh đau chói vào tận tim, trong khi cái hình ảnh TSi Na nằm gọn dưới sự dâm cuồng ghê gớm của anh tướng chàng ngũ đoản có cái gáy to như chĩnh.
Tum Điàng chồm lên:
Ồ thế này thì tức chết đi được!
Anh nắm chặt hai tay; mắt liếc nhìn quanh sáng quắc...
Mọi vật như bị bọc trong cái màng màu đỏ.
Nhưng lòng sợ tội vẫn khiến Tum Điàng như chiếc xe đương xuống dốc mà bị hãm phanh. Anh loăn xoăn một lúc lại ngồi xuống bếp lửa.
Anh cố nghĩ đến chuyện khác. Chẳng hạn xếp đặt sự làm ăn của anh về sau này. Anh nảy ra một ý kế cũng ngộ:“Hay là ta lấy vợ?”
Phải đấy, anh sẽ lấy vợ. Quanh mình anh, những người cùng chạc tuổi với anh họ đều lấy vợ cả. Vâỵ cớ sao anh lại không?
Vừa tưởng đến người dàn bà, anh lại nhớ đến ngay TSi Na. Anh quên làm sao được cái phút cháy da cháy thịt mà Tsi Na đã cho anh sống ở trong rừng!
Tum Điàng không thể quên Tsi Na.
Anh không thể ngờ rằng có lúc Tsi Na lại đoạn tuyệt, không còn liên lạc gì với anh nữa.
Ấy thế mà nay Tsi Na đã phải bỏ anh mà đi.
Ấy thế mà nay anh đành phải cắn răng đổi Tsi Na lấy vài chục bạc như đổi một con lợn.
- “ Hừ, cái thăng beo bắt Tô Chố!”
Óc anh lại quay lộn. Trước mắt anh lại đỏ ngầu cái màng máu... Và, qua cái hỗn độn của ý nghĩ ấy, hình ảnh Tsi Na nằm quằn quại trong Tô Chố lại rõ rệt như in bằng những nét lửa.
Tum Điàng đứng phắt dậy.
Anh xăm xăm ra góc nhà lấy đôi cà kheo và mũi giáo nhọn rồi lẻn ra cửa.
Cái bóng của anh Mèo tuổi trẻ chỉ thoáng cái là đã tan mất vào trong sương mù...
XI
Trên nhà Tô Chố, cô dâu chú rể đang cùng nhau tình tự.
Bỗng có tiếng chó hực...
Tô Chố ngóc đầu, lắng nghe. Nhưng đàn chó lại im lặng...
Anh ta cho rằng con cày con cáo gì đó mò mẫm ở ngoài rào nên không để ý nữa.
Bên ngoài sương mù toả mù mịt.
Người ta giáp mặt cũng không trông thấy nhau.
Trong cái im lặng trắng toát ấy, một cái bóng như hư như thực tiến đến phía sau nhà Tô Chố. Cái bóng ấy dừng ở bên mặt gốc cây to. Nó loay hoay một lát bỗng nhên trở nên cao lênh khênh và nhẹ nhàng, nó bước qua ngọn rào nứa êm như ru.
Cái bóng ấy chẳng phải là ai khác hơn là Tum Điàng.
Anh ta bước qua rào vào sân nhà Tô Chố, lẹ làng đến nỗi đàn chó không sủa.
Tum Điàng lại gần chuồng trâu đoạn tụt xuống đất lắng tai nghe.
Anh nghe rõ lắm.
Vì sàn chỉ làm bằng giát nứa.
Anh thấy Tô Chố đương bảo Tsi Na: Tsi Na lấy ta, Tsi Na có bằng lòng không?
Tôi có biết gì đâu?
Hừ, tôi hiểu rồi. Cả nhà Tsi Na ghét tôi từ lâu...
Ấy là chuyện đàn ông với nhau
Và, nếu ông bố đẻ Tsi Na không chết đi thì tôi làm sao lấy được Tsi Na!
Thế ra anh muốn bố tôi chết lắm à?
Muốn thế nào được!
Anh thấy bố tôi chết, hẳn anh vui lòng thì phải?
Vui thì không vui, nhưng mà thấy là có thể hỏi Tsi Na rồi.
Anh có biết đứa nào giết bố tôi không?
Câu hỏi đột ngột ấy theo liền bằng một im lặng.
Hồi lâu Tô Chố mới hỏi lại:
Sao Tsi Na lại hỏi thế? Tsi Na đã ngờ tôi giết ông Ghình Gúng à?
Tôi có ngờ gì đâu!
Ừ Tsi Na đừng ngờ gì tôi nhé! Không phải tôi dám làm bậy thế đâu!
Mối ngờ của Tum Điàng bẵng đi bây giờ lại tỉnh thức.
Anh nghe giọng nói của Tô Chố thì biết rằng không thể nào anh còn nhầm được nữa.
Ấy là một lẽ nữa khiến anh không ngần ngừ gì trong sự thực hành cái ý định ghê gớm.
Đồng thời, những tiếng giát nứa bắt đầu động khiến anh cùng quả quyết.
Ấy là những tiếng động đầy ý nghĩa.
Máu Tum Điàng sôi lên. Toàn thân anh run bắn; mắt anh nảy hào quang...
Như một thằng hoá dại Tum Điàng nắm chắc ngọn giáo đâm ngược qua lớp giát một cái mạnh.
Một chất lỏng nóng tức thời chảy rội xuống hai tay anh.
Tum Điàng rùng mình.
Anh chạy ra sân, thét lên, khà kheo vượt qua rào nứa rồi cắm đầu chạy. Quãng đường càng xa, trí anh càng tỉnh.
Cái sướng khoái phục thù vẫn làm anh say như men rượu mạnh, nhưng anh cũng đủ sáng suốt để hiểu rằng anh vừa làm một việc mà loài người không tha thứ được.
Anh hoảng kinh bồ hôi ra như tắm.
Trước mắt anh tự hồ đã hiện ra vô số nha lại, lính tráng xông đến đuổi bắt anh.
Tum Điàng vùng cắm cổ chạy miết... Trước kia anh chỉ tát Tô Chố có một cái mà anh còn có thể bị bắt ra châu, bị nhốt vào tù và bị lính dẫn đi làm như bọn tù đã làm con dường Bắc Quang- Hoàng Xu Phì, con đường nó giết chết bao nhiêu người.
Đánh người mà còn thế.
Nay anh lại đã giết người!
Giết những hai mạng người!
Bởi vì mũi giáo anh phóng lên dẫ suốt qua giát nứa, suốt qua Tô Chố và cả Tsi Na nữa.
Tum Điàng hoản kinh dường như muốn kêu cứu.
Anh rảo bước qua sân, lại lần nước rửa tay rồi vào trong nhà.
Bất giác anh then chặt cửa lại.
Sự im lặng tich mịch càng làm dịu bớt sôi nổi trong lòng anh và khiến trí anh nghĩ được minh bạch thêm. Anh càng nghĩ dược phân minh bao nhiêu, sự lo sợ của anh, cái nguy cơ của anh càng hiển nhiên bấy nhiêu.
Phải đi trốn!
Mọi người đều là thù đich của anh. Họ làm hại anh. Họ bắt anh cũng phạm tội ác. Và họ sẽ giết anh.
Thế thì anh chỉ còn vệc đi trốn nữa là xong. Anh sẽ đi sâu vào cõi hoang vu như cha ông anh, như hết thảy người Mèo đã đi từ bao đời và sau này con cháu họ còn sẽ cứ đi mãi mãi.
Tum Điàng nhớn nhác trông quanh.
Đi ngay mới được!
Tum Điàng đứng dậy thu nhặt ít quần áo cần dùng gói làm một gói nhỏ. Anh mặc cho đủ ấm, thắt dao vào lưng, đeo ống tên và nỏ. Đoạn anh ra đàn ngựa, chọn một con khoẻ mạnh nhất.
Anh đóng yên ngựa và lên yên hai cuốn lúa ngô và kê. Xong các việc , anh liền nổi lửa đốt nhà đoạn nhảy phắt lên mình ngựa, ra roi cho con vật chạy lẩn vào ngàn sương.
Mãi lúc con ngựa chạy dược một quãng xa rồi, Tum Điàng mới vững dạ.
Anh leo lên một chỗ cao, gò cương nhìn lại Năm Tỉ. Đám cháy cao ngất trời. Những tiếng tre nứa nổ vọng đi rất xa.
Tum Điàng không còn sợ gì nữa.
Anh đã báo được thù.
Anh đã rời bỏ được Nặm Tỉ để đi xa, như lòng anh vẫn ao ước.
Không còn sự gì trói buộc anh.
Không còn ai làm hại anh.
Mà chính anh cũng không bắt buộc phải hại ai nữa. Rừng núi, chim thú tuy không tốt nhưng mà nó không biết những mưu mẹo hiểm độc, anh không phải lo ngại iâm, như đối với người.
Anh thích chí, cất tiếng hát:
Xứ Mèo ai biết là đâu
Sông sâu mấy dải, non cao mấy từng.
Hà Nội, 11-1940.
Theo bản in: Dấu ngựa trên sương (tên cũ: Mọi rợ). Tiểu thuyết đường rừng. Nhà xuất bản Hương Sơn, 1940.
Nguồn: Lan Khai tuyển tập, 2 tập. Trần Mạnh Tiến sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học sẽ phát hành vào dịp kỷ niệm lần thứ 104, ngày sinh nhà văn Lan Khai, 24-6-1906 / 24-6-2010.
|