tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Tiểu thuyết
25.11.2009
Lan Khai
Suối đàn

- Anh gấu ta lù lù dẫn đến, Phù lo sợ bằng chết, cố nép mãi vào lòng hang. May nhờ có những lá lau sậy che kín nên cu cậu không bị bại lộ.


Anh gấu nhìn quanh quẩn một lát chỉ thấy lửa reo vui liền yên trí xoay lưng lại sưởi. Nhưng nó có chịu ngồi im bao giờ! Nào gãi, nào cựa, càu nhà càu nhàu liên thanh bất chỉ...


- Phù đành ngồi chết mãi đấy chắc?


- Nào đã hết đâu! Con gấu vừa đến chưa đầy nhai giập miếng trầu thì cỏ lau lại động loạt xoạt rồi... một ông kễnh hiện ra, to bằng con ngựa, màu lông vàng rực như ánh nắng...


- Thế mới lại nguy nữa!


- Ông ba mươi đứng sừng sững nhìn đống lửa và nhìn con gấu. Con này thoạt đầu cũng đứng phắt lên giữ thế thủ nhưng khi thấy con hùm không tỏ vẽ khiêu khích nên lại thôi. Hùm lững thững lại bên đống lửa và ngồi đối lưng với gấu để sưởi...


- Phù sợ có lẽ đến ngất đi!


- Trái lại!


- Nó không sợ?


- Nó còn nghịch tinh là khác.


- Thế nào?


- Nó biết rằng nếu cứ ngồi yên theo cái thế tam phân đỉnh túc như vậy thì còn lâu lắm nó mới về được đến nhà. Nó bèn chọc cho hùm và gấu đánh nhau...


- Lại thế nữa!


- Nó biết tính anh gấu hay bẳn nên định làm cho anh gấu nổi đóa lên trước. Nó rút dao lưng khẽ dùi vào đống lửa cho nóng lên rồi, xuất kỳ bất ý, nó gí vào mông con gấu.


Bị bỏng, anh chàng đen giật nẩy mình choàng dậy và tức hộc ngay lên. Hắn nhìn trước nhìn sau, thấy chỉ có hùm vẫn ngồi điềm tĩnh gần đấy. Hắn ngờ ngay chỉ có hùm nghịch tinh làm xém mông mình lại còn vờ vĩnh. Tức thì hắn nhảy vọt sang, tát cho hùm đánh bốp một cái vào giữa mặt.


Chúa sơn lâm nghĩ mình không trêu ghẹo ai mà tự nhiên bị đánh, liền cũng nổi xung choảng lại.


Một cuộc hùng hổ giao tranh cả góc rừng!


Hai bên đánh nhau chán rồi đuổi nhau. Phù lúc này mới chui ra khỏi hang, ung dung ra về.


Sẩu và tôi cùng phá lên cười.


Sẩu tiếp:


- Nào đã hết! Nó còn nghịch nhiều trò tai quái nữa nên mới bị tàn tật như thế...


- Anh kể cho tôi nghe.


- Nguyên một lần loạn rừng...


- Loạn rừng là thế nào?


Sẩu ngạc nhiên nhìn tôi:


- Anh mà không biết loạn rừng là thế nào à?


- Không.


- Nghĩa là các giống sơn thú tự nhiên kéo ra phá phách hoa màu, bắt gà lợn, cả người nữa.


- Tại sao lại như thế?


- Nào ai biết tại sao. Chỉ thấy các cụ cho là trong rừng có biến loạn, ma quỷ nó sai các giống vật ra quấy nhiễu dân gian...


- Rõ quái gở!


- Vậy, mỗi lần loạn rừng, beo ra bắt mất của Phù một con dê. Nó tức lắm, nhất định... thiến beo chơi.


- Thiến beo?


- Thế mới lạ!


- Nó làm cách nào?


- Nhà nó ở cạnh suối. Bờ bên kia là rừng rậm. Từ bờ bên rừng sang bên này phải đi qua một cái cầu làm bằng một thân cây nhội to. Con beo từ rừng qua cầu sang bắt dê của Phù.


Nó lập mưu kế cũng tài tình. Trước hết, nó tháo bỏ cái cầu gỗ, nghĩa là thân cây nhội.


- Rồi sau?


- Nó thay một cái cầu khác làm bằng hai cây vầu đá ghép liền nhau, nhưng nó khéo bổ dọc mỗi cây vầu một mảnh và liếc cạnh cật cho rõ thật sắc như dao cạo. Hai cây vầu đặt song song, ở giữa hở một kẽ dài cạnh sắc.


Xong đâu đấy, nó buộc một con dê con ở bờ bên này.


Con dê có một mình trong đêm tối đâm hoảng sợ kêu rầm lên.


Hùm nghe tiếng dê kêu, mò ngay ra, định vượt cầu sang bắt.


Cây nhội to đã mất rồi.


Chỉ còn cái cầu nhỏ. Hùm đành phải dùng tạm, nhưng không đi bằng cả bốn chân được cứ ngồi xổm mà lê...


Rốt cuộc, cái túi da ở gần mông của hùm bị lọt xuống khe cầu và bị thiến đứt rơi tõm xuống suối.


Hùm bị thiến. Đau quá, con ác thú còn đủ hơi sức sang đến bên này là phục xuống, nằm lịm đi...


- Đau hẳn chứ!


- Đành vậy, nhưng đây lại còn là cái bẫy của hùm định báo thù...


- Tôi không hiểu.


- Hùm giả vờ ngất đi. Phù ta quả nhiên thích chí không giữ gìn gì cả, cứ việc xông lại.


Lúc ấy, hùm thiêng mới thình lình chồm dậy. Nó gào một tiếng chuyển đất làm cho Phù bở vía ngã quay ra. Nó ngoạm phăng một chân và cào lôi một mắt của thằng Phù, rồi mới gục xuống chết. Và lần này nó mới thật chết hẳn.


- Còn anh Phù trở nên què và chột.


- Phải rồi! Cũng tại nó nghịch tai quái lắm nên mới thành tàn tật như vậy!


- Nghĩ cũng đáng thương...


- Và, Ẻn nó khóc, chắc hẳn cũng tại nó thương anh chàng sống dở chết dở.


- Nếu vậy thì trước khi Phù bị tàn tật, hai bên đã có tình ý đằm thắm với nhau rồi...


- Tôi cũng đoán như anh.


- Và bây giờ Ẻn vẫn thương anh tình nhân cũ, vẫn thiết tha cùng hắn nên mới cứ nhất định từ chối tôi...


- Đúng!


- À, nhưng còn một điều khó hiểu...


- Điều nào?


- Tại sao Ẻn không vào nhà Phù mà lại chỉ ngồi khóc ở bên ngoài?


- Ừ nhỉ!


Sẩu và tôi cùng nín lặng. Chúng tôi nhìn nhau, mỗi người theo đuổi một suy tính riêng.


- Anh Khải ạ...


- Sao?


- Tôi đoán thế này: Ẻn vẫn tha thiết với thằng Phù, không nỡ thấy người cũ tàn tật mà phụ bạc. Nhưng Phù lại không nghĩ thế. Phù nó không muốn để Ẻn phải suốt đời khổ bên một người chồng tàn tật. Muốn cho Ẻn ngã lòng, nó hết sức hắt hủi cô ả. Và do đấy, cô ả đành chỉ ngồi khóc ở bên ngoài chứ không dám vào.


Câu Sẩu nói rất có lý.


Nhưng anh càng có lý, tôi càng đau lòng.


Là bởi tôi phải chịu nhận rằng cái giá trị tinh thần kẻ tình địch của tôi hơn tôi nhiều lắm. Tôi đã bị ức đơn lại bị ức kép thì chịu sao nổi:


- Vị tất Phù nó đã nghĩ được như anh đoán!


- Vậy theo ý anh?


- Theo ý tôi thì nó đòi Ẻn phải trung thành với nó. Ẻn không bằng lòng. Nó dọa sẽ làm một sự bạo động gì đó. Cô ả đâm hoảng nên thường đến khóc lóc để mong nó chuyển lòng.


- Anh nhìn loài người bằng cặp mắt cay nghiệt quá!


- Không phải đâu. Rồi thể nào chúng ta cũng rõ sự thực.


- Để xem.


- Và tôi, tôi thề sẽ che chở cho Ẻn. Tôi sẽ làm cho Ẻn thoát tay cái thằng quái ác hèn mạt nọ...


- Anh đừng dùng những câu quá đáng có khi oan cho người ta.


- Oan gì! Oan thị Mầu! Nó hèn mạt lắm. Chứng cớ là nó toan giết tôi một cách vụng trộm...


- Nó không định giết anh đâu. Nó chỉ đùa anh đấy thôi. Nó mà chủ tâm hại anh thì anh đã nguy rồi...


- Dù thế nữa, tôi cũng không thể tin nó tốt. Nếu quả thực nó muốn hy sinh cho Ẻn thì sao nó còn phá ngang việc của tôi?


- À, biết đâu nó không có lý của nó!


- Lý gì, anh thử nói tôi nghe?


- Rất có thể nó yêu một thằng bạn nào mà nó muốn nhường Ẻn chẳng hạn.


- Ồ, người ta là người chứ người ta có là một con trâu hay một con lợn đâu!


- Về chuyện tình giữa trai gái, thường có lắm sự phức tạp ta không thể cứ lấy lý mà biện bạch nổi!


X


Theo lời hẹn của Ẻn, tôi ra suối ngay lúc ăn bữa sớm xong.


Hôm ấy là một ngày tươi sáng. Các hình sắc điều hòa nhau một cách rất thi vị.


Gần chỗ thạch bàn, một cây đào chớm nở rung rinh trong nắng như một cây bằng vàng nạm ngọc hồng và biếc.


Xa nữa, một cây cơi, hoa nở trắng như hoa mai.


Dòng suối vẫn rì rầm kể cho hai bờ sậy nghe những chuyện đem từ những nơi xa lạ đến.


Và, náu hình đâu đó, một con chim khướu bách thanh rủ rỉ hót, tiếng nghe êm đềm và hơi đượm buồn, như một khúc nhạc tương tư.


Tôi yêu cảnh tượng nơi này quá.


Ấy thực là một chốn hẹn hò lý tưởng cho những cặp tình nhân lý tưởng.


Trong làn nước chuyển động, trong điệu bổng trầm của con chim khướu tôi thấy có một cái phong thú dị kỳ nó gợi cho lòng tôi những xúc cảm giống như hy vọng và yêu đương.


Bữa nay, Ẻn thình lình hẹn tôi ra đây, chắc hẳn nàng đã có quyết định; và sự của nàng lần này hẳn tốt đẹp cho tôi.


Tôi hớn hở bước nhanh.


Đến nơi, tôi đã thấy nàng ngồi trên võng đợi tự bao giờ.


Nàng mỉm cười chào tôi. Trong nụ cười và trên gương mặt đẹp của nàng, lạ thay vẫn phảng phất cái vẻ buồn đành phận!


- Chào cô Ẻn!


- Chào ông.


- Cô chờ tôi tự bao giờ?


- Đã khá lâu rồi. Ông lên ngồi đây ta nói chuyện...


- Tốt lắm, vì tôi đương mong nghe chuyện của cô.


Ẻn lắng tai:


- Con khướu hót hay quá nhỉ?


- Chính thế. Cô nghe kỹ mà xem; có phải hình như nó bảo ta:


Yêu đi, yêu đi!


Đời yêu như cánh hoa kia rỡ ràng.


Màu tươi, hương ngát mơ màng.


Yêu đi, kẻo lại lỡ làng tuổi xuân.


Gió đông thổi lạnh xa gần,


Nhị tàn, hương tạ, tiếc xuân, muộn rồ!


- Ông hát khéo quá!


- Thật à?


- Tôi không hay nói dối...


- Nhưng cô Ẻn thử nghĩ mà xem: cô có nên yêu đi không? Cô có nên bỏ phí đời cô vào những cái sầu muộn vô ích không?


Ẻn nhìn tôi; má nàng ửng đỏ; cặp mắt nàng long lanh; trên môi nàng, một nụ cười khó hiểu.


- Cô nên yêu đi, cũng như tôi yêu cô ấy. Chúng ta hãy làm vợ chồng với nhau, chả hơn cứ sống lẻ loi mãi như thế này à?


Nàng cúi đầu, tay vân vê một tàu lá cây cơm lênh.


Ánh nắng từ trên cao rót xuống mái tóc óng, cái cổ trắng như mỡ đọng của nàng, khiến tôi càng bâng khuâng ngây ngất.


- Ông giáo có nhà không?


- Cô hỏi làm gì?


- Tôi hỏi thế...


- Anh ấy đi rừng rồi.


Tôi hỏi tiếp:


- Thế nào, cô Ẻn?


- Thế nào cái gì?


- Cái việc tôi hỏi cô.


- Tôi không thể...


- Cô không thể hay là cô không muốn?


Tôi đứng sát lại chỗ nàng ngồi.


Ẻn ngắt từng chiếc lá ném xuống dòng suối. Nước cuồn cuộn trôi xa. Một câu thơ của Tản Đà chợt lại trong trí nhớ tôi:


Lá thu rơi rụng đầu ghềnh,


Sông thu đưa lá bao ngành biệt li!


- Ông hát gì thế?


- À, tôi...


- Ông thử nói sang tiếng Thổ cho tôi nghe xem nào.


Tôi làm theo ý Ẻn.


Nàng nhìn xa mơ mộng:


- Hay và buồn quá nhỉ?


Tôi đột ngột hỏi:


- Cô Ẻn à?


- Thầy bảo gì...


- Hay là tôi có điều gì khiến cô giận?


- Không. Chẳng có điều gì khiến tôi giận thầy hết. Chỉ có một việc là thầy cứ nhắc đi nhắc lại mãi câu chuyện lấy nhau là tôi không thích mà thôi.


- Cô lạ quá!


- Không lạ đâu...


- Tôi biết rồi.


- Ông biết gì?


- Rằng cô yêu Phù lắm. Cô vẫn thiết hắn ta nên cô không nhận lời tôi...


- Phù à?


- Ừ.


- Ông hay đoán liều quá!


- Tôi đoán đúng chứ!


- Ông lấy gì làm chứng cớ là đã đoán trúng?


- Tôi lấy cái việc cô ngồi khóc lóc ở trước cửa nhà hắn.


- Ồ!...


- Cô yêu hắn, mặc dầu hắn què và chột. Cô muốn lấy hắn nhưng mà hắn không bằng lòng. Bởi thế cô buồn cô mới khóc chứ gì?


- Ông đừng nói nữa.


- Nhưng có phải như vậy không?


- Tôi đã bảo ông đừng nói nữa. Ông quên Phù đi. Ông quên việc lấy tôi làm vợ đi. Tôi sẽ vẫn cứ lại với ông.


Giọng nàng run run tỏ ra nàng cảm động quá.


Chúng tôi cùng nín lặng, lúng túng như hai đứa trẻ.


Chính tôi khó chịu về tình thế ấy nên cất tiếng nói trước:


- Cô làm tôi khổ quá, cô Ẻn ạ!


- Ồ! Tôi cũng khổ chứ!


- Tại sao? Cô thực khó hiểu. Tôi cố đoán mãi mà vẫn chẳng thể biết đích lòng cô ra sao...


Nàng mỉm cười:


- Ông nói thế đấy! Có gì mà không hiểu, tôi biết rằng ông yêu tôi rất nhiều. Ông lại có lòng tốt muốn nhờ ông giáo làm mối tôi cho ông...


- Phải.


- Tôi rất cảm ơn ông. Tôi lại sẵn lòng để ông yêu tôi tùy ý...


- Nhưng...


- Nhưng tôi không thể lấy ông được!


- Tại sao?


- Chẳng tại sao cả, hay là tại nhiều lắm...


- Tại cô yêu Phù?


- Tôi đã xin ông để yên anh Phù mà lại! Vả không phải thế đâu!


- Thế nào vậy?


- Chẳng thế nào cả!


- Thực, cô làm tôi có thể tức chết được.


- Ông nóng nảy đến hay. À, ông hát đi cho tôi nghe. Ông có bằng lòng hát cho tôi nghe không? Tôi buồn lắm!


- Tôi có bằng lòng hát để cô nghe. Nhưng tại sao cô buồn?


- Tại tôi buồn. Thực đấy, tôi buồn đáo để, chỉ muốn chết thôi!


Giọng nói của nàng có một cái gì làm tôi lạnh người.


- Sao cô lại nói thế, gở lắm!


Nàng mỉm một nụ cười chua chát:


- Gở à? Cần gì gở. Ông hát đi.


- Hát gì bây giờ?


- Hát những câu ban nãy ấy.


- Nào thì hát.


Tôi sửa lại giọng và hát:


Yêu đi, yêu đi!


Đời yêu như cánh hoa kia rỡ ràng!


Màu tươi hương ngát mơ màng;


Yêu đi, kẻo lại nhỡ nhàng tuổi xuân.


Gió đông thổi lạnh xa gần,


Nhị tàn, hương tạ, tiếc xuân muộn rồi!...


Ẻn thở dài:


- Hay quá, và buồn quá!


- Yêu đi tự khắc vui.


- Không yêu được thì làm thế nào? Thực là:


Đêm khuya ngủ chẳng được say,


Nghe chim khảm khắc nó bay gọi đàn


Chim kia còn biết gọi đàn


Buồng không, bóng lẻ, dạ vàng nấu nung.


Dứt lời, Ẻn từ trên võng dây tụt xuống.


Nàng vừa bước nhanh trên các hòn đá xanh rêu vừa nói:


- Chào ông nhé; tôi đi... đây!


Tôi ngây ra nhìn theo thiếu nữ, không biết nên cử động thế nào hoặc nói câu gì cho phải.


Chẳng mấy lúc, bóng nàng đã mất trong cây cỏ...


Đồng thời, một giọng hát buồn chết người vọng đến tai tôi:


Phận hồng nhan; nghìn thu vẫn thế


Bạc như vôi, mỏng tựa cánh chuồn


Ai ơi, giải hộ cơn buồn


Má đào ướt đẫm lệ nguồn nhớ thương.


Giọng hát xa dần, mất dần trong khoảng tịch mịch.


Chung quanh, cây cỏ vẫn thờ ơ.


Dòng suối vẫn rì rầm kể chuyện.


Con khướu bách thanh vẫn ca khúc trường tương tư.


Cây đào vẫn mỉm cười qua trăm nụ thắm.


Tôi cảm thấy lòng tê tái bởi cái cảnh cô độc của mình giữa sự thờ ơ của cả vũ trụ. Sự nhận xét này phát sinh trong tâm trí tôi từ lâu, hồi tôi còn học ở trường Bưởi, và cứ ám ảnh tôi không dứt.


Hồi ấy, một buổi chiều tôi ra chơi ở bãi tập của nhà trường, sát ngay ven hồ. Mặt trời vừa lặn. Sương chiều đã ướt ngọn cỏ. Xa xa, về phía làng Nghi Tàm, cả một góc trời phương Tây rực lên những màu vàng, son, hoa cà, lam biếc. Mặt hồ cũng là một mảnh xà cừ đối với nền trời. Một chiếc thuyền chở đất thó cho nhà máy gạch bơi ngang, mái chèo vỗ nước sóng lên như vàng lỏng...


Gần chỗ tôi đứng chơi, một con bò béo, lông nhoáng như mỡ, thủng thẳng vặt cỏ xoàn xoạt. Bỗng, con vật ngẩng đầu nhìn vơ vẩn đoạn kêu một tiếng dài...


Sự xảy ra như thế mà, không hiểu sao, lại đã phát sinh trong óc tôi một ý tưởng rất buồn: Loài người phỏng thử không sinh trên mặt đất, hoặc giả có sinh mà không có mắt để nhìn những màu tươi vẻ đẹp trong vũ trụ chắc cũng vẫn cứ hiện ra và mất đi một cách thờ ơ vô ích.


Ấy lần ấy là lần thứ nhất, tôi cảm thấy sự cách biệt giữa người và cảnh. Tôi đâm ra chán ghét thiên nhiên và bắt đầu lăn mình vào nhân sự. Ở đây, tôi lại càng thất vọng nhiều! Nếu giữa con người với hoàn cảnh sinh hoạt tự nhiên của nó, luôn luôn có một tấm màu băng ngăn biệt, thì giữa người với người, cái quãng chia ly còn lớn lao vô hạn. Người ta, dù là cha con, vợ chồng, bè bạn, miệng nói bô bô những là hiểu nhau mà, sự thật, chẳng hiểu nhau chút nào hết. Danh, lợi, thù, ghét nhầm và bao nhiêu cái khác nữa nó làm cho con người đối với nhau, tuy là trong gang tấc mà xa nhau chẳng khác những tinh tú trong không gian. Rốt cuộc cõi nhân sinh chỉ gồm có những người lẻ loi ngăn cách bởi những khoảng tịch mịch thê lương.


Tôi thở dài, nằm ườn ra võng, không biết nên làm như thế nào.


Về ư? Nơi quê hương của tôi hiện đã như lời thơ cổ:


“Công hầu độ trạch giai tân chủ;


Văn vũ y quan dị tích thì!


“Lối xưa xe ngựa, hồn thu thảo;


Nền cũ lâu đài, bóng tịch dương!


Lại đi nữa ư? Nhưng đi đâu? Kiếp bồng bềnh thoát cái đã ngoài ba chục tuổi đầu rồi.


Tháng ngày thấm thoát thoi đưa,


Tuổi ba mươi lại đã dư một vài!


Câu tri kỷ, cùng ai tri kỷ,


Chuyện chung tình, ai kẻ tình chung?


Chẳng những không ai tri kỷ, không kẻ chung tình mà cõi đời rộng lớn còn không cả một tấc đất cắm dùi là khác:


“Càn khôn vạn lý gia hà tại!”(1)


Hay ở lì đây? Ở lì đây lại càng không được lắm! Khúc đàn Tư Mã chót đã ngang cung, hôm sớm nhìn cỏ hoa chẳng cũng bẽ bàng lắm ư!


XI


Năm hôm liền, tôi nằm bẹp ở nhà Sẩu. Đời tôi, trong khoảng thời gian ấy, có thể ví như một giấc mơ.


Thực vậy, tôi không còn tiếp xúc với hoàn cảnh nữa. Tôi làm các việc hàng ngày như một cái máy. Ăn, tôi không biết vị mặn nhạt đắng cay. Thức, tôi không biết quanh mình tôi người ta nói và làm những gì. Ngủ, tôi chiêm bao thấy toàn những cái không liên tiếp, không mạch lạc gì cả.


Thế rồi, một sớm, tôi vụt được tin nàng chết.


Phải, nàng đã chết!


Nàng chết âm thầm như một bông hoa héo rũ trong cái vắng lạnh của rừng.


Nàng chết trên cái võng dây tôi nằm xem sách. Không ai biết cả. Mãi khi thấy nàng vắng mặt lâu quá, người ta mới xôn xao tìm kiếm, và chính đàn quạ đen kêu rầm rĩ ở dòng ngòi đã chỉ chỗ cho những người đương nhớn nhác tìm nàng.


Không một lời từ biệt!


Không một dòng chữ trối trăng.


Nàng nằm trên võng; và cạnh nàng, người ta chỉ thấy một cái bát còn sót lại lá ngón, một thứ thuốc độc rất mạnh.


Thôi, thế là xong!


Cái mộng đẹp của tôi thế là đã tàn. Cuộc đời nhất định từ chối, không cho tôi được hưởng dù đến một cái hạnh phúc nho nhỏ.


Sẩu biết rõ đời tôi lắm, nên anh rất phàn nàn cho tôi. Anh còn cố ý không để tôi thấy mặt nàng, trước khi khâm liệm. Nhưng tôi nhất định không nghe. Tôi đòi tới xem cho bằng được, cốt nhìn dung nhan người yêu của tôi một lần cuối cùng nữa.


Tội nghiệp, nàng chết không cho ai biết thành thử lúc người ta tìm thấy nàng thì thi thể nàng đã đổi khác cả rồi!


Gương mặt trái xoan kia, vừa hôm nào thắm tươi như một bóng phù dung. Vậy mà nay chỉ còn là cái nạ bằng đá, nom rất ghê sợ. Cặp mắt trong màu hổ phách nó đã từng cho tôi thoáng thấy cái vô cùng, giờ trợn ngược lên trắng như hai múi nhãn. Cái miệng ngon như một quả dâu tây chín há hốc ra, tím bầm lại, và trở nên một cái hốc tanh đầy những ruồi xanh chui ra chui vào.


Tôi đã nhìn thấy cái chết nhiều lần.


Nhưng chưa lần nào nó khiến tôi hãi hùng, ghê tởm và đau đớn bằng lần này. Tôi chán đời một cách sâu xa thấm thía như một tín đồ của đạo Phật. Cái nhận thức về sự hão huyền của mọi thú vui phù thế làm cho tôi có một cảm giác giống như sự ngã lòng. Toàn thân tôi rã rời; sinh lực và ý chí tôi tiêu tan đâu mất cả, chẳng khác mấy giọt dầu xăng. Tôi ngại ngùng tưởng đến những ngày, những tháng, có thể hàng mấy chục năm sẽ tới đây. Người ta chỉ vui cuộc sống khi lòng người ta ham say một sự gì. Tôi, tôi không còn thiết tha gì cả. Ẻn là cái hy vọng cuối cùng của tôi, là cái vui cuối cùng của tôi. Nay Ẻn chết. Cái hy vọng kia tàn, cái vui kia mất; tôi có thể nói đã không còn chút liên lạc nào với trần thế nữa. Nói đến nghĩa vụ ư? Ấy cõ lẽ chỉ là một danh từ đã bị đem đánh đĩ nhiều quá. Sự hoạt động của con người rút lại không ngoài hai hiệu quả: bóc lột kẻ khác hoặc bị kẻ khác bóc lột!


Đến đây, ngay sự sống cũng chẳng còn nghĩa lý gì. Nó hẳn là một cái vô nghĩa cũng như cái chết mà thôi. Và người chỉ là những cái máy, cử động theo một ý định tối tăm mù quáng nào đó!


Sẩu chừng đoán biết tâm sự tôi. Anh nhìn tôi và khẽ hỏi:


- Giờ anh tính thế nào?


Tôi bỡ ngỡ không hiểu nổi rằng anh định nói gì.


- Anh hỏi tôi tính gì?


- Tôi muốn biết, sau cái chết của Ẻn, anh sẽ còn lưu lại đây chơi với tôi hay là anh sẽ đi ngay.


- Tôi thực chưa có định ý!


- Anh cũng đừng nên buồn nhiều quá. Tử biệt sinh ly, kiếp người ai tránh khỏi những đau đớn ấy...


- Tôi cũng như anh. Có điều tôi ân hận ấy là tôi không hiểu đích xác vì sao Ẻn tự tử. Nếu cái chết này mà vì tôi thì suốt đời tôi, tôi sẽ ân hận biết chừng nào!


- Ân hận cũng chẳng ích gì. Tuy thế, tôi tin không phải hoàn toàn tại anh. Tôi tưởng anh nên ở chơi đây với tôi ít lâu đã rồi có đi đâu hãy đi.


Tôi nín lặng không đáp.


Ngụm rượu tôi uống vào miệng tự nhiên đắng cay đến không nuốt được.


Sẩu gặng:


- Ở đây nhé. Đi làm gì vội!...


- Đi thì tôi cũng chẳng biết đi vào đâu...


- Thế thì ở chứ còn gì nữa!


- Ở cũng khó nghĩ lắm...


- Sao lại khó nghĩ?


- Là vì, đêm đêm, nằm nghe tiếng suối đàn lơ lửng trong sương, lòng tôi khỏi sao thương nhớ não nùng, thương nhớ người mà tôi ước ao không được! Đấy, anh thử lắng nghe xem:


“Tang á ta... ang tình”


Khúc đàn gây hận, phảng phất như ngụ cái niềm oan của người trinh nữ rừng xanh.


 


In lại nguyên bản Suối Đàn. NXB Cộng Lực, 1941.


Nguồn: Lan Khai Tuyển tập. Trần Mạnh Tiến sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học sắp xuất bản


www.trieuxuan.info


 







(1) Đất trời muôn dặm nhà ở đâu?



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cõi mê - Triệu Xuân 25.03.2020
Giấy trắng - Triệu Xuân 25.03.2020
Anh em nhà Karamazov - FYODOR Mikhailovich Dostoyevsky 16.03.2020
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 15.03.2020
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 15.03.2020
Đêm Sài Gòn không ngủ - Trầm Hương 10.03.2020
Trong cơn lốc xoáy - Trầm Hương 10.03.2020
Ông cố vấn - Hữu Mai 26.02.2020
Đẻ sách - Đỗ Quyên 15.02.2020
Hòn đất - Anh Đức 13.02.2020
xem thêm »