Vài nét về nhà văn Virginia Woolf
“Một người phụ nữ phải có tiền và một căn phòng của riêng mình nếu cô ta muốn viết văn; và điều đó, như bạn sẽ thấy, khiến cho vấn đề lớn lao về bản chất đích thực của phụ nữ và bản chất đích thực của văn chương vẫn còn bỏ ngỏ chưa giải quyết”.
Câu nói trên trích từ Chương 1 của tập tiểu luận nhan đề A Room of One’s Own (Một căn phòng riêng) của nữ tiểu thuyết gia, tiểu luận gia, nhà phê bình văn học người Anh Virginia Woolf (1882-1941). Dù câu trích dẫn này không phải là ý tưởng trọng tâm nhất trong toàn bộ những trước tác của bà về vấn đề nữ quyền, nhưng nó vẫn thường được mọi người nhắc đến khi đề cập tới Virginia, bởi lẽ tất cả những tác phẩm và chính cuộc đời đầy sóng gió và bi kịch của bà thật sự là những nỗ lực không ngừng để đạt tới mục đích bình dị vô song đó: Tiền và một căn phòng riêng để viết - hay nói cách khác, sự độc lập về mặt vật chất (và cả tinh thần) của một phụ nữ muốn sáng tạo văn chương nghệ thuật.
Nhũ danh của Virginia Woolf là Adeline Virginia Stephen. Bà là con gái của nhà biên tập và phê bình Leslie Stephen và Julia Prinsep Stephen (nhũ danh Jackson), một phụ nữ đẹp nổi tiếng từng là người mẫu cho các họa sĩ theo trào lưu Tiền-Raphael như Edward Burne-Jones. Cha mẹ bà đều đã từng kết hôn và con riêng, do đó gia đình bà bao gồm con cái của ba cuộc hôn nhân. Julia có ba con riêng là George, Stella và Gerald Duckworth. Leslie có một con gái với người vợ trước, tên là Laura Makepeace Stephen. Leslie và Julia có chung bốn người con: Vanessa Stephen, Thoby Stephen, Virginia và Adrian Stephen.
Leslie vốn là con rể của nhà văn William Thackeray (ông là chồng góa của con gái út của Thackeray), bên cạnh đó thân hữu của cả hai vợ chồng ông đều là những nhà văn, nghệ sĩ nổi tiếng của nước Anh vào thời bấy giờ. Do vậy con cái của ông được nuôi dạy trong một môi trường chịu nhiều ảnh hưởng của giới văn học nước Anh. Bổ sung cho những ảnh hưởng này là tòa thư viện rộng mênh mông ở nhà của Stephen, nơi mà Virginia và Vanessa được dạy các môn học như ngoại ngữ, triết học, văn chương, lịch sử, nghệ thuật và văn học Anh.
Theo Woolf, những hồi ức tuổi thơ mạnh mẽ nhất của bà không phải là ở London mà là ở thị trấn St. Ives thuộc hạt Cornwall, nơi gia đình bà dùng để nghỉ hè cho tới năm 1845. Ngôi nhà nghỉ hè của gia đình Stephen, Talland House, nhìn ra vịnh Porthminster, và vẫn còn cho tới ngày nay, dù đã thay đổi ít nhiều. Ký ức về những ngày nghỉ gia đình này và những ấn tượng về phong cảnh ở đó, đặc biệt là ngọn hải đăng Godvry, đã được thể hiện lại trong quyển tiểu thuyết được xem là hay nhất của Woolf vào những năm sau này, quyển To the Lighthouse (Tới ngọn hải đăng).
Trong thời gian nghiên cứu ở đại học đường King’s College Cambridge và King’s College London, bà quen biết với một số văn nghệ sĩ và trí thức cấp tiến như nhà kinh tế học John Maynard Keynes, thi sĩ E. M. Forster, nhà văn chuyên viết tiểu luận và tiểu sử Lytton Strachey và nhà văn, lý thuyết gia chính trị người Anh gốc Do Thái Leonard Woolf (1880-1969), người mà bà kết hôn vào năm 1912. Họ trở thành những thành viên sáng lập của Bloomsburry Group, một nhóm các bạn bè thân hữu sống và hoạt động gần khu Bloomsburry, London, thường xuyên có những buổi họp mặt thảo luận về đủ mọi đề tài. Tác phẩm của Nhóm Bloomsburry đã có một ảnh hưởng sâu rộng tới các mặt văn chương, mỹ học, phê bình và kinh tế học, cũng như đưa ra những quan điểm hiện đại về thuyết nam nữ bình quyền, chủ nghĩa hòa bình và quan hệ tính dục.
Năm 1917, hai vợ chồng Woolfs mua lại một xưởng in thủ công nhỏ và sáng lập ấn quán Hogarth Press, xuất bản những tác phẩm của nhóm Bloomsburry, của Katherine Mansfield cũng như bản dịch các tác phẩm của Freud. Virginia Woolf sống một cuộc đời sôi động giữa bằng hữu và gia đình, viết lách và diễn thuyết ở các trường đại học.
Các cơn suy nhược và những thời kỳ trầm cảm sau này cũng còn chịu ảnh hưởng bởi sự lạm dụng tình dục mà bà và Vanessa gánh chịu từ hai người anh cùng mẹ khác cha là George và Gerald Duckworth. Woolf đã nhắc lại chuyện này trong các tiểu luận A sketch of the Past (Một phác họa về quá khứ) và 22 Hyde Park Gate (Nhà số 22 phố Hyde Park Gate). Trong suốt đời mình, Virginia Woolf luôn bị quấy rầy bởi những cơn trầm cảm và những chứng bệnh liên quan. Dù các cơn đau này thường gây ảnh hưởng tới hoạt động xã hội của mình, bà vẫn tiếp tục sáng tác với một vài thời kỳ gián đoạn cho tới khi qua đời do tự tử.
không nghĩ rằng có thể có hai người nào lại từng hạnh phúc hơn chúng ta.”
Đêm 28-3-1941, Virginia Woolf nhét đầy đá vào những túi áo khoác rồi đi bộ tới con sông Ouse gần nhà và tự trầm mình. Cho tới ngày 18-4, thi thể hầu như chỉ còn xương của bà mới được phát hiện ra. Chồng bà chôn phần thi thể còn lại của bà dưới một gốc cây trong khu vườn nhà của họ tại Rodmell, Sussex.
Virginia là một trong các tác giả vĩ đại nhất của thế kỷ 20, đồng thời cũng là một nhân vật trọng yếu trong lịch sử văn chương Anh ngữ, một trong những người sáng lập Chủ nghĩa Hiện đại bao gồm T.S. Eliot, Ezra Pound, James Joice và Gertrude Stein.
Tác phẩm: 8 tiểu thuyết (The Voyage Out – 1915; Night and Day – 1919; Jacob’s Room – 1922; Mrs. Dalloway – 1925; To The Lighthouse – 1927; The Waves – 1931; The Years – 1937; Between The Act – 1941); 14 tập tiểu luận, trong đó nổi bật nhất là A Room of One’s Own (1929) và Three Guineas (1938); sáu tập truyện ngắn; ba tập tiểu sử, trong đó nổi bật nhất là quyển Orlando: A Biography (1928), thường được xem như một tác phẩm tiểu thuyết, lấy cảm hứng từ nhà thơ nữ Vita Sackville-West, người tình đồng tính của bà; sáu tiểu sử tự thuật và nhật ký; và một vở kịch (Freshwater: A Comedy – công diễn 1923; xuất bản 1976). Ngoài ra còn có vô số thư từ liên quan tới cuộc sống và công việc của bà đã được xuất bản bao gồm ba quyển Congenial Spirits: The Selected Letters (1993), The Letters of Virginia Woolf 1888-1941 (sáu tập, 1975-1980) và Paper Darts: The Illustrated Letters of Virginia Woolf (1991).
Về tác phẩm Tới ngọn hải đăng
Nhìn chung, những bài phê bình, nhận xét của độc giả trên những website văn học hoặc có liên quan tới văn học và liên quan tới tiểu thuyết Tới ngọn hải đăng như amazon, sparknote, librarything, goodreads, britannica, search.barnesandnoble, vv... đã hình thành nên hai quan điểm cực kỳ đối lập với nhau. Quan điểm thứ nhất khen ngợi và đánh giá rất cao Tới ngọn hải đăng, đại khái là nhận định rằng những chi tiết trong truyện rất gần gũi với tâm lý, cảm xúc của người đọc, với những trải nghiệm trong đời sống thật của họ; rằng văn phong của Virginia thật du dương, toàn tác phẩm là một bài thơ văn xuôi đậm chất nhân văn và là một bước cách tân lớn về mặt nghệ thuật cả đối với bản thân tác giả lẫn nền văn học Anh ngữ hiện đại nói chung. Quan điểm còn lại (may thay chỉ là thiểu số) lại cho rằng văn phong của tác giả quá rườm rà, câu cú dài lê thê, đầy những phần mở rộng, khai triển quá nhiều ý phụ khiến cho người đọc khó lòng theo dõi nắm bắt nội dung ý chính, hành động (actions) – nếu có thể gọi chúng là hành động – thì đa phần diễn ra trong dòng ý thức của các nhân vật, với một nhịp điệu quá là chậm chạp, nói tóm lại một câu, như nhận xét của một độc giả, là: “Chẳng hơi đâu phí thì giờ để đọc một cuốn như cuốn này!”
Và cả hai quan điểm trên đều đúng!
Nếu nhìn từ góc độ của một bạn đọc thích loại truyện thiên về giải trí, có cốt truyện ly kỳ, đầy ắp những hành động diễn tiến với tốc độ cực nhanh, thì rõ ràng là cuốn tiểu thuyết này quá đáng chán, quá nặng nề. Nhiều khi không thể hiểu ý chính của tác giả là gì nếu không đọc đi đọc lại, đọc tới đọc lui một đoạn văn có khi dài tới cả trang giấy.
Nhưng đối với dạng bạn đọc khác, chấp nhận tác phẩm như nó vốn có, như nó là vậy, dành thời gian cho nó, bình thản và chậm rãi đi vào nó, khám phá nó, rung động với từng câu chữ, từng nhịp điệu, các bạn này sẽ dần quên đi ngoại vật, dần chìm đắm vào những diễn biến tâm lý của nhân vật, cùng buồn, vui, kinh ngạc, chán chường, bực tức, lo âu... với những buồn vui của họ.
Lý do của hai quan điểm trên đều xuất phát từ chính văn phong đặc biệt và độc đáo mà tác giả sử dụng ở tác phẩm này: sự khai thác “Dòng Ý thức” (Stream of Consciousness) của nhân vật.
Thuật ngữ “Dòng Ý thức” bắt nguồn từ các văn bản Phật giáo sơ kỳ (theo chữ Pali là viññāna-sota), sau đó được phát triển mở rộng bởi hệ phái Yogachara (Du già tông) của Phật giáo Đại thừa thành một lý thuyết về tinh thần. Theo Đại đức người Sri Lanka Hammalawa Saddhatissa Maha Thera (1914-1990) thì: “Dòng ý thức, chảy qua nhiều kiếp sống, cũng thay đổi y như dòng nước. Đây là học thuyết anatta (vô ngã) của Phật giáo liên quan tới cá thể con người.
Triết gia, tâm lý học gia người Mỹ William James (1842-1910) là người đầu tiên vận dụng thuật ngữ Dòng Ý thức trong tác phẩm Principles of Psychology (Các nguyên tắc Tâm lý học- 1890). Ngay lập tức, khái niệm này đã có một ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ tới nền văn học nghệ thuật hiện đại avant-garde thời bấy giờ, hình thành nên bút pháp Dòng Ý thức. Bút pháp Dòng Ý thức có nghĩa là người thuật chuyện thể hiện lại dòng ý thức của nhân vật bao gồm những ý nghĩ, liên tưởng, cảm xúc liên tục đan xen vào nhau và chuyển động liên miên tiếp nối như một dòng nước chảy.
Dù Dòng ý thức có phần tương tự với Độc thoại nội tâm (Interior monologue) và người ta thường hay nhầm lẫn giữa hai thủ pháp này, thật ra Độc thoại nội tâm có một điểm hoàn toàn khác biệt, do cú pháp tương đối có cấu trúc của nó và khả năng cho phép người độc thoại trực tiếp nói với chính mình (thường ở thì hiện tại). Còn ở Dòng ý thức, người thuật chuyện thường đứng ở vị trí kẻ quan sát thứ ba, cấu trúc cú pháp và trình tự thời gian bị đẩy tới một mức độ hoàn toàn hỗn loạn. Nói cách khác, theo quyển 150 thuật ngữ văn học do Lại Nguyên Ân biên soạn, Dòng Ý thức là mức tới hạn, là dạng cực đoan của độc thoại nội tâm.
Có rất nhiều nhà văn khai thác bút pháp Dòng Ý thức trong tác phẩm của mình, chẳng hạn Dostoievsky, Leon Tolstoi, Knut Hamsun, Marcel Proust, James Joice, T.S, Eliot, vv..., nhưng với Virginia Woolf, đặc biệt, ở tác phẩm Tới ngọn hải đăng, bút pháp khai thác Dòng Ý thức đã được sử dụng ở một cấp độ đậm đặc nhất, nhuần nhuyễn nhất, tuyệt diệu nhất.
Mrs. Dallloway (Bà Dalloway) là tác phẩm đầu tiên mà trong đó Virginia Woolf sử dụng thủ pháp Dòng Ý thức. Tác phẩm này đã ngay lập tức đạt được thành công và có một ý nghĩa rất quan trọng trong bước phát triển về bút pháp của bà. Tuy nhiên, dù ở Tới ngọn hải đăng bạn đọc một lần nữa gặp lại thủ pháp này, nó đã vươn lên một tầm cao khác. Dòng Ý thức đã được giải phóng khỏi sự hỗn loạn thông thường của nó thông qua sự chọn lọc và ý thức về trình tự để đạt tới một độ cô nén tối đa.
Với công cụ này, Virginia đã tạo tác nên một tác phẩm mang tính tự truyện cao độ, gắn bó mật thiết với những hồi ức của mình về cha, mẹ, các anh chị em, và ngôi nhà nghỉ hè ở thị trấn St. Ives. Tuy nhiên, tác phẩm đã vượt rất cao khỏi tầm vóc của một cuốn tự truyện bình thường, thể hiện được các chủ đề quán xuyến toàn tác phẩm như: tính chất phù du vô thường của phận người, vạn vật; sự khác biệt trong ý thức và hành xử của nam giới và nữ giới; nghệ thuật là một phương tiện bảo tồn; bản chất khách quan của thực tại; những tác động mang tính phục hồi của cái đẹp, vv...
Được đặt trong bối cảnh thời gian khoảng từ năm 1910 đến 1920, Tới ngọn hải đăng gián tiếp đề cập tới sự can thiệp mang tính hủy diệt của Thế Chiến thứ nhất. Cuộc chiến tranh không được thể hiện một cách trực tiếp mà chỉ qua những chi tiết nhỏ như việc Andrew, con trai cả của ông bà Ramsay bị giết chết bởi một mảnh đạn pháo ở Pháp. Andrew là một thanh niên có rất nhiều triển vọng, có khả năng trở thành một nhà toán học lớn. Anh tiêu biểu cho niềm hy vọng vào thế hệ tương lai, niềm hy vọng con cái mình sẽ tiếp tục hoàn thành con đường dang dở của mình của ông Ramsay. Nhưng chiến tranh đã phạt ngang niềm hy vọng đó, cắt đứt nó bằng một nhát chém vô tình ngọt lịm. Chiến tranh cũng được gián tiếp nhắc đến như một tai ương không thể tránh khỏi qua những suy nghĩ của bà McNab, một bà lão giúp việc coi sóc ngôi nhà của gia đình Ramsay:
“Có những đôi giày và ủng; một cái bàn chải và một cây lược còn nằm lại trên bàn trang điểm, như thể bà ấy từng mong đợi sẽ trở về ngay trong ngày mai. (Bà ấy đã chết rất đột ngột, họ bảo thế.) Có lần lẽ ra họ đã tới nhưng phải hoãn lại, do chiến tranh, và việc đi lại thời buổi này rất khó khăn.” (Thời gian qua- Chương 8)
Hoặc, “Nhưng, than ôi, đã có nhiều thay đổi kể từ dạo ấy (bà đóng ngăn kéo lại); nhiều gia đình đã mất đi người thân yêu nhất. Thế là bà ấy đã chết; và cậu Andrew bị giết; cả cô Prue cũng đã chết, họ bảo thế, với đứa con đầu lòng; nhưng mọi người đều mất mát một ai đó trong những tháng năm này. Giá cả tăng vọt một cách đáng xấu hổ, và cũng chưa hề hạ xuống.” (Thời gian qua- Chương 8)
Hoặc một cách gián tiếp hơn nữa thông qua những chi tiết miêu tả cảnh hoang tàn đổ nát của một ngôi nhà vắng chủ:
“Ngôi nhà đã bị bỏ lại; ngôi nhà đã trở nên hoang vắng không người. Nó bị bỏ lại như chiếc vỏ sò trên một đồi cát và bị những hạt cát khô vùi lấp khi giờ đây cuộc sống đã từ bỏ nó. Dường như đêm dài đã chập chùng chặn nẻo; Dường như những làn gió lẻ vi vu, những hơi thở lần mò, lạnh và ẩm ướt, đã chiến thắng. Những cái chảo han rỉ, và những tấm thảm mục nát. Lũ cóc mò mẫm vào nhà. Tấm khăn choàng đong đưa phấp phới lại qua một cách lười nhát vô mục đích. Một cây kế đâm rễ vào những ô ngăn trong tủ chạn. Lũ chim én làm tổ trong phòng khách; nền nhà vương vải những cọng rơm; vữa trát tường rơi từng mảng lớn; những chiếc rui nhà nằm trần trụi; lũ chuột tha dần món này món nọ để gặm nhấm phía sau những tấm ván ốp tường. Những con nhộng nở thành bướm đốm nâu và bò lổm ngổm phía ngoài kính cửa sổ. Cây anh túc nẩy mầm giữa những lùm hoa thược dược; bãi cỏ nhấp nhô gợn sóng với những lớp cỏ cao; những cây atisô to lớn nhô cao giữa những bụi hoa hồng; một cây thược dược nở hoa giữa luống cải bắp; vào những đêm đông, tiếng gõ khe khẽ vào cửa sổ của một loài cỏ dại trở thành một tiếng lộp độp đều đều từ những thân cây cứng cáp và những cụm thạch nam gai vốn đã từng biến toàn bộ căn phòng thành một màu xanh vào mùa hạ.” (Thời gian qua- Chương 9)
Xuyên suốt câu chuyện Woolf luôn sử dụng những hình ảnh biểu tượng lung linh đa tầng ý nghĩa như: khung cửa sổ – vị trí trung tâm của ngôi nhà, vị trí trung tâm của người mẹ, người vợ trong gia đình; ngọn hải đăng (trên thực tế và trong tâm tưởng của bà Ramsay, của Lily Briscoe, của James) – một hình ảnh tượng trưng cho cấu trúc bền vững của gia đình, một sự soi rọi, một cái gì đó tràn đầy an ủi, một cái gì đó tuyệt diệu của tuổi ấu thơ giàu tưởng tượng; con gà mái và bầy con – mái ấm và cuộc sống gia đình; cái xương sọ lợn lòi – một sự nhắc nhở tới cái chết luôn hiện diện xung quanh; biển – luôn thay đổi trang thái, có lúc xinh đẹp, thanh bình với những lượn sóng vỗ bờ êm ả, nhưng cũng có lúc đầy bạo lực, đầy đe dọa chết chóc với những cơn bão tố; nhắc tới sự mong manh của kiếp người; những lượn sóng – luôn chuyển dịch, đổi thay, trôi qua như chính bản thân thời gian, giống hệt như nhau nhưng không phải là cùng một lượn sóng đó; bức tranh của Lily Briscoe – sự tranh đấu để đạt được nam nữ bình quyền trong sáng tạo, để đưa những sự vật tách rời nhau tới sự hòa hợp, và ý nghĩa cuối cùng của một tác phẩm; vv... Bạn đọc có thể tự mình phát hiện ra nhiều biểu tượng khác gắn liền với bản thể của riêng mình.
Bên cạnh đó, được sáng tác dưới ảnh hưởng lớn lao của các học thuyết quan trọng ra đời trước đó hoặc mới ra đời như học thuyết Tiến hóa (với tác phẩm Nguồn gốc các loài – 1859) của Charles Darwin, Phân tâm học (với tác phẩm đánh dấu The Interpretation of Dreams – Diễn giải các giấc mơ – 1900) của Sigmund Freud, Tới ngọn hải đăng cũng đã khai thác những phát hiện khoa học mới mẻ này trong các tình tiết của câu chuyện. Ví dụ: sự căm ghét cha của James; những suy tưởng đậm chất triết học của ông Ramsay, những suy nghĩ của bà Ramsay về đức Chúa.
Tới ngọn hải đăng gồm có ba phần: Khung cửa sổ, Thời gian qua và Ngọn hải đăng, đặt trên nền bối cảnh ngôi nhà nghỉ hè của gia đình Ramsay bên bờ biển trên hòn đảo Skye thuộc quần đảo Hebrides, Tô Cách Lan. Phần Một – gồm 19 chương – chiếm hơn phân nửa độ dài tác phẩm, thuật lại những diễn biến từ sau bữa ăn trưa cho tới khi kết thúc bữa tiệc tối. Phần Hai – gồm 10 chương – mô tả những diễn biến suốt quãng thời gian mười năm. Phần Ba – gồm 13 chương – kể lại hành trình ra ngọn hải đăng của ông Ramsay, Cam và James, diễn biến tâm lý của ba cha con; và quá trình diễn biến tâm lý của Lily Briscoe khi tiếp tục thực hiện bức tranh bỏ dở mười năm trước.
Phần Một – Khung cửa sổ đặt trong bối cảnh một buổi chiều tại ngôi nhà nghỉ hè của gia đình Ramsay. Hai vợ chồng Ramsay, dù rất khác nhau, vẫn thật sự yêu nhau. Bà Ramsay, đã năm mươi tuổi, là một phụ nữ xinh đẹp, thông minh, quyến rũ, thông hiểu; bà hay nhúng tay vào việc của người khác, muốn được người khác ưa thích mình, muốn duy trì những ảo tưởng của mình và muốn những người khác duy trì các ảo tưởng của họ. Ông Ramsay khó hiểu hơn. Trong nhiều phương diện ông là một nhân vật khá thú vị, thông minh xuất chúng nhưng hướng nội, trung thực một cách cứng nhắc. Ông là một triết gia siêu hình học, một nhà tư tưởng, trong khi vợ ông chỉ là một người phụ nữ bình thường, với bản năng yêu thương và chăm sóc, quan tâm tới chồng con, bạn hữu và những người nghèo khổ. Hai vợ chồng họ có thể hiểu nhau mà không cần phải nói bằng lời.
Quanh ông bà Ramsay là tám đứa con: Andrew (con trai cả), một thanh niên thông minh và có nhiều triển vọng; Prue, (con gái) xinh đẹp dịu dàng; Nancy, (con gái); Rose (con gái), rất khéo tay; Roger (con gái); Jasper (con trai); Cam (con gái) nghịch ngợm và mơ mộng; và James (con trai út) hay cau có, gắt gỏng, có một thái độ mang tính phức cảm Oedip với cha nó.
Các nhân vật còn lại là những bằng hữu của gia đình Ramsay đến đó nghỉ hè, những người giúp việc hoặc những người quen biết khác như Lily Briscoe, cô gái già họa sĩ không muốn kết hôn mà quyết định hiến mình cho nghệ thuật; Charles Tansley, chàng thanh niên ngạo mạn, ích kỷ và mắc chứng tự thương thân, một sản phẩm của môi trường thuở ấu thơ; William Bankes, một nhà thực vật học chính trực thông minh nhưng cũng có những điểm tính cách buồn cười; ông già Carmichael, thi sĩ, một người nghiêm khắc, có phần mâu thuẫn về tính cách; đôi bạn trẻ Paul và Minta, vân vân.
Hầu hết tất cả bọn họ đều di động về các hướng khác nhau, thế nhưng lại di động, ít ra là một cách gián đoạn, dưới ảnh hưởng của bà Ramsay. Dù có một khả năng chi phối đối với mọi người, bà Ramsay cũng đồng thời đánh mất đi một phần bản thân mình. Do áp lực phát sinh từ sự hiện diện của mọi người xung quanh, bà không thể tìm ra cơ hội để sống trọn vẹn đời sống nội tâm của chính mình.
Câu chuyện mở ra với việc thằng bé James, sáu tuổi, muốn đi qua vịnh tới ngọn hải đăng. Dù biết thời tiết xấu, mẹ nó vẫn không muốn dập tắt niềm hy vọng của nó, nhưng ông Ramsay cứ khăng khăng rằng thời tiết sẽ rất tồi tệ. Charles Tansley cũng hùa theo ý kiến của ông.
Nhiều diễn biến nho nhỏ khác xảy ra. Chẳng hạn, sau bữa ăn trưa, bà Ramsay thấy thương hại Tansley nên đề nghị anh ta cùng đi với bà ra thị trấn. Trên đường đi, Tansley cảm thấy yêu người phụ nữ lớn tuổi hơn mình nhưng vẫn còn xinh đẹp. Sau đó, bà Ramsay vừa ngồi bên cửa sổ đọc truyện cho James nghe vừa suy ngẫm miên man.
Lily Briscoe đứng vẽ tranh ở rìa bãi cỏ, William Bankes tới gần cô, sau đó cả hai cùng đi ra phía hàng giậu của khu vườn để tránh chạm mặt với ông Ramsay đang vừa đi qua đi lại vừa đọc to những câu thơ trong một trạng thái hưng phấn lạ lùng. Họ trao đổi về ông Ramsay. Lily nghĩ tới ông Ramsay cùng sự thông thái của ông ta với lòng kính trọng. Còn ông Bankes thì nghĩ về tình bạn giữa mình và ông Ramsay. Trong lúc đó ông Ramsay vẫn đi quanh bãi cỏ, suy ngẫm về sự khả tử của con người và tự hỏi các tác phẩm của ông sẽ tồn tại được bao lâu, tiếp tục hành trình tư tưởng của mình, được ẩn dụ như là một bảng chữ cái ABC mà bản thân ông chỉ mới đi tới mẫu tự Q. Ông không thể vươn tới chữ R, cảm thấy thất vọng và tìm tới sự an ủi của bà Ramsay. Bà Ramsay cùng ông đi dạo trong vườn, rồi bắt đầu thấy lo âu về Paul, Minta, Nancy và Andrew. Họ đã đi ra bãi biển và chưa quay lại.
Minta, Paul, Andrew và Nancy cùng dạo chơi trên bãi biển. Paul cầu hôn Minta. Sau đó Minta đánh mất chiếc trâm cài đầu của bà cô. Họ trở về nhà muộn.
Trong bữa tiệc tối, tất cả các nhân vật đều thể hiện cái tôi của họ thông qua những diễn biến nội tâm của mỗi người về mối quan hệ tương tác giữa họ với nhau. Bữa tiệc kết thúc với sự hài lòng của bà Ramsay. Những khó chịu bực dọc xảy ra đã được hòa giải. Bà Ramsay lên phòng Cam và James để dỗ chúng ngủ rồi ghé qua chỗ chồng mình đang ngồi đọc sách. Họ trò chuyện vài câu và bà biết rằng ông Ramsay muốn bà nói rằng bà yêu ông ấy. Nhưng bà chỉ mỉm cười và nói rằng ông đúng – ngày mai thời tiết sẽ xấu và họ không thể đi ra ngọn hải đăng. Và bà biết rằng ông ấy biết bà yêu ông ấy.
(còn tiếp)
Nguồn: Tới ngọn hải đăng. Tiểu thuyết của Virginia Woolf. Nguyễn Thành Nhân dịch từ nguyên tác tiếng Anh To the Lighthouse.
Dịch giả gửi www.trieuxuan.info
|