Rải rác trong Phần Một có rất nhiều ý tưởng sâu sắc, chẳng hạn như ý nghĩ của bà Ramsay khi đột nhiên tiếng trò chuyện của mấy người đàn ông im bặt, và bà chợt nghe thấy tiếng sóng biển nổi lên, không còn dịu êm nữa mà trở nên một mối đe dọa vô cùng đáng sợ (một ẩn dụ về tính chất mong manh của sự an bình/hạnh phúc/đời người?):
“Nhưng trong khi bà lật trang giấy, việc tìm kiếm một bức hình đột ngột bị cắt ngang. Tiếng thì thầm cộc lốc thỉnh thoảng bị phá vỡ bởi tiếng ống tẩu phì phèo khiến cho bà yên tâm rằng những người đàn ông đang trò chuyện vui vẻ, dù bà không nghe thấy họ nói gì (vì bà ngồi phía trong cửa sổ mở ra mái hiên), cái âm thanh kéo dài suốt nửa giờ qua và diễn ra êm ả trong những tiếng ồn ào phía trên đầu bà, như tiếng bóng chạm vào vợt, tiếng hét chói tai thỉnh thoảng nổi lên, “Cú đó thế nào? Cú đó thế nào” của lũ trẻ đang chơi crikê, đã tắt hẳn; tiếng sóng vỗ đều đều ngoài bãi biển thường khi vẫn điểm nhịp cho những ý nghĩ của bà và hình như lặp đi lặp lại một cách đầy an ủi khi bà đang ngồi với lũ trẻ những lời an ủi thì thầm của thiên nhiên như một bài hát ru xa xưa nào đó, “Mẹ trông nom con.. mẹ che chở cho con,” nhưng có đôi lúc, một cách đột ngột và bất ngờ, chúng lại không có ý nghĩa tốt lành như thế mà giống như một hồi trống ma quái dằn nhịp cho cuộc sống một cách không thương xót, khiến cho người ta nghĩ tới sự hủy diệt của hòn đảo và việc nó bị nhấn chìm vào lòng biển, và cảnh báo với bà, kẻ mà tuổi thanh xuân đã trôi về thời quá vãng, rằng tất cả đều phù du như một dải cầu vồng. Âm thanh vốn đã nhòa đi và bị che lấp dưới những âm thanh khác này đột nhiên lại vang rền trong tai bà và khiến cho bà ngẩng lên nhìn với niềm kinh hãi” (Chương 1).
Hoặc ý nghĩ của Lily về tài năng và công việc vẽ tranh của mình:
“Rồi phía sau lớp màu sắc là hình dáng. Cô có thể nhìn thấy rõ ràng mọi thứ. Chính lúc cô cầm chiếc cọ trên tay toàn bộ mọi sự vật chợt đổi thay. Ngay trong cái khoảnh khắc phiêu diêu giữa cảnh quan và khung vẽ này lũ quỷ đã ám vào cô. Chúng thường khiến cho cô muốn rơi nước mắt và biến quá trình chuyển từ ý niệm sang thực hiện trở nên đáng sợ như việc đi xuống một hành lang tăm tối đối với một đứa trẻ con. Cô thường có cảm giác như thế – khi đang đấu tranh chống lại những điều lạ lùng kinh khủng và duy trì lòng can đảm – và cô thốt lên: “Nhưng đây là những gì tôi thấy; đây là những gì tôi thấy,” và cố níu kéo lại một ít tàn dư khốn khổ nào đó trong viễn tượng của mình, có tới cả ngàn trở lực cố hết sức giật chúng ra khỏi cô. Và cũng chính lúc đó, trên con đường lạnh lẽo lắm phong ba này, khi cô bắt đầu vẽ, những trở lực đó tác động lên những thứ khác của cô, tài năng chưa chín tới của cô, sự tầm thường của cô, và cô cố gắng kềm nén cảm giác thôi thúc muốn sụp xuống dưới chân của bà Ramsay...” (Chương 4)
Hoặc ý nghĩ của ông Ramsay về sự hữu hạn của kiếp người và những gì do con người tạo tác:
“Ông đứng bất động, cạnh chậu hoa phong lữ thảo tỏa nhánh um tùm. Rốt cuộc, có bao nhiêu người trong một tỷ người, ông tự hỏi, đã chạm tới chữ R?
Chắc chắn là một người lãnh đạo với niềm hy vọng chơ vơ có thể tự hỏi mình điều đó, và trả lời mà không phản bội lại đoàn thám hiểm phía sau ông ta, “Có lẽ là một người.” Một người trong cả một thế hệ. Ông có đáng trách không nếu ông không phải là người đó? Miễn là ông đã lao khổ một cách chân thành, cố gắng với hết khả năng, cho tới khi ông không còn gì để cho đi nữa? Và tên tuổi của ông sẽ tồn tại bao lâu? Ngay cả một vị anh hùng đang hấp hối cũng được phép suy nghĩ trước khi ông ta chết rằng người ta sẽ nói về mình như thế nào sau đó. Có lẽ tên tuổi của ông sẽ tồn tại được hai ngàn năm. Và hai ngàn năm là cái quái gì? (ông Ramsay tự hỏi một cách mỉa mai, nhìn đăm đăm vào hàng giậu). Là cái quái gì, thật thế, khi bạn nhìn từ một đỉnh núi xuống bãi sa mạc thời gian dài vô tận? Ngay cả một hòn cuội mà người ta giơ chân đá văng xuống cũng sẽ tồn tại lâu hơn Shakespeare.
Ánh sáng bé nhỏ của ông sẽ tỏa ra, không rực rỡ lắm, trong một hoặc hai năm, rồi sẽ chìm vào một ánh sáng lớn hơn, và ánh sáng đó lại chìm vào một ánh sáng khác lớn hơn nữa.” (Chương 6)
Hoặc ý nghĩ của bà Ramsay về giá trị tồn tại của hạnh phúc gia đình (có lẽ là trong hồi ức của những người còn sống?!):
“Nó ở đó, quanh họ. Nó dự phần vào sự bất diệt, bà cảm thấy, cẩn thận giúp ông Bankes vớt một mẩu thịt đặc biệt mềm; vì trước đó trong buổi chiều bà đã từng cảm nhận về một điều khác hẳn; có một sự cố kết trong các sự vật, một sự vững bền, một cái gì đó, theo ý bà, vượt lên khỏi sự đổi thay, và tỏa sáng (bà liếc nhìn khung cửa sổ với những ánh phản chiếu gợn sóng lăn tăn) với bộ mặt lóng lánh, phù du, ma quái, như một viên hồng ngọc của nó, khiến đêm nay bà một lần nữa có lại cái cảm giác đã có trong ngày, về sự bình an, ngơi nghỉ. Trong những khoảnh khắc như thế này, bà nghĩ, điều đã được tạo ra sẽ tồn tại lâu dài.” (Chương 17)
Và còn nhiều, rất nhiều những đoạn như thế, tôi xin phép để các bạn đọc tự khám phá khi bước vào tác phẩm.
Phần Hai – Thời gian qua rất cô đọng, gói gọn quãng thời gian mười năm trong vòng vài mươi trang sách. Nhưng có thể nói đây cũng là phần ấn tượng nhất, nơi tài năng điêu luyện của Virginia Woolf đã được khai thác tối đa. Những đoạn văn xuôi đẹp như thơ diễn tả một cách sâu xa và hàm súc sự tàn lụi của ngôi nhà, tác động của cuộc chiến tranh, sự trôi chảy không ngừng của thời gian và tính chất phù du của vạn vật. Chẳng hạn như các đoạn sau đây:
“Bây giờ, ngày nối tiếp ngày, ánh sáng biến chuyển hình ảnh sắc nét của nó trên bức tường đối diện, như một bông hoa phản chiếu trên mặt nước. Chỉ có bóng của những hàng cây ngả nghiêng trong gió đang rạp người trên tường, và trong khoảnh khắc làm tối đi cái vũng ánh sáng phản quang; hoặc chỉ những bóng chim bay ngang, tạo thành một vệt nhòa chậm chạp lướt qua nền phòng ngủ.” (Chương 4)
Hoặc, “Nhưng dù mùa hè có vẻ như triền miên trong giấc ngủ, muộn hơn sau đó cũng xuất hiện những âm thanh đáng ngại giống như những tiếng búa gõ nhịp nhàng lên lớp nỉ, mà với sự chấn động lặp đi lặp lại của chúng tấm khăn choàng càng trở nên lỏng lẻo hơn và những cái tách uống trà rạn vỡ. Thỉnh thoảng một cái ly kêu leng keng trong tủ chạn như thể một gã khổng lồ nào đó vừa hét to lên giận dữ đến nỗi những cái cốc vại nằm bên trong một cái tủ cũng rung lên. Rồi sự im lặng lại buông xuống; và rồi, đêm nối tiếp đêm, và đôi khi vào đúng giữa trưa khi những đóa hoa hồng đẹp rạng rỡ và ánh sáng rọi lên bức tường hình dáng rõ ràng của nó, dường như có tiếng của một vật gì đó rơi đánh sầm xuống sự im lặng này, sự lãnh đạm này, sự vẹn nguyên này.
[Một quả đạn đại bác nổ. Hai mươi hoặc ba mươi chàng trai tan xác ở Pháp, Andrew Ramsay nằm trong số đó. Trời đất thương tình, anh chết ngay lập tức.]” (Chương 6)
Hoặc, “Đêm nối tiếp đêm, hè qua đông đến, sự hoành hành của những cơn bão, sự tĩnh lặng như tờ của ngày trời đẹp (đã từng có ai đó lắng nghe không), từ những căn phòng bên trên của ngôi nhà trống chỉ có thể nghe thấy tiếng giằng giật của những tia chớp lóe khổng lồ, khi những cơn gió và những lượn sóng nô đùa và cưỡi lên nhau như những bầy thủy quái phi lý trí luôn thay hình đổi dạng, và lao sầm vào bóng đêm hay ánh sáng ban ngày (vì đêm và ngày, tháng và năm cùng lướt bên nhau một cách phi hình thể) trong những trò chơi ngốc nghếch cho tới khi dường như vũ trụ cũng vật vã đổ nhào trong sự hỗn mang bạo tàn và khát vọng vô mục đích của chính nó.” (Chương 7)
Hoặc, “Rồi mái nhà hẳn cũng sẽ sụp đổ xuống; những bụi thạch nam và độc cần sẽ phủ kín những lối đi, bậc thềm và cửa sổ; sẽ đâm chồi nảy lộc, không đồng đều nhưng mạnh mẽ trên ụ đất, cho tới khi một kẻ xâm phạm nào đó, bị lạc đường, chỉ có thể được kể cho nghe câu chuyện bởi một cây loa kèn đuốc nằm giữa những bụi tầm ma, hoặc một mảnh đồ sứ trong bụi độc cần, rằng nơi đây trước kia đã có người từng sống; nơi đây từng có một ngôi nhà.” (Chương 9)
Tất cả những thông tin quan trọng về các nhân vật đều nằm trong hai dấu ngoặc ôm. Ví dụ: việc kết hôn của Prue Ramsay, cái chết của bà Ramsay, cái chết của Prue, cái chết của Andrew, việc ông Carmichael xuất bản thành công tập thơ.
Phần Ba – Ngọn hải đăng thuật lại hành trình đi ra ngọn hải đăng của ông Ramsay, Cam và James. Hai đứa trẻ không muốn đi nhưng phải miễn cưỡng phục tùng ý muốn của cha chúng. Diễn biến tâm lý của hai đứa trẻ ngày càng để lộ ra một thực chất rằng thật ra chúng không ghét cha chúng mà là căm ghét tính cách độc đoán chuyên chế của ông. Như cảm nghĩ của James:
“...không phải là ông, cái người đang đọc ấy, là người mà nó muốn giết, mà là cái đã bất ngờ tấn công nó – có lẽ ông cũng không biết: cái con yêu quái cánh đen dữ tợn bất ngờ xuất hiện đó, với cái mỏ và bộ móng vuốt cứng và lạnh lẽo, cứ bấu sâu, bấu sâu vào bạn (nó có thể cảm thấy cái mỏ trên đôi chân trần của nó, nơi con quái thú đó đã tấn công khi nó còn là một đứa bé) rồi biến đi, và ông lại hiện ra, một ông già, rất buồn, đang đọc sách. Nó sẽ giết cái đó, nó sẽ đâm vào tim cái đó. Bất cứ điều gì nó làm – (và nó sẽ làm bất cứ điều gì, nó cảm thấy, nhìn vào ngọn hải đăng và bờ biển phía xa) dù nó là thương gia, làm trong một nhà băng, một luật sư, một lãnh đạo công ty, nó sẽ chiến đấu với cái đó, nó sẽ truy lùng và nghiền nát cái đó – sự bạo ngược, sự chuyên chế, nó gọi cái đó như thế - việc buộc mọi người làm điều mà họ không muốn làm, tước đoạt quyền được nói của họ. Làm sao bất kỳ ai trong số chúng có thể nói, Nhưng tôi sẽ không đi, khi ông nói, Hãy ra ngọn hải đăng. Hãy làm điều này. Hãy lấy cho tôi cái đó...” (Chương 8)
Và của Cam:
“Chẳng bao lâu nữa họ sẽ rời khỏi cuộc đời, ông Ramsay đang nói với già Macalister, nhưng con cái họ sẽ nhìn thấy những điều kỳ lạ. Macalister bảo ông tròn bảy mươi lăm vào tháng Ba vừa rồi; ông Ramsay thì bảy mươi mốt. Macalister bảo ông chưa từng đi bác sĩ lần nào; ông chưa rụng một cái răng nào. Và đó là cái cách mà tôi thích con cái tôi sống – Cam chắc chắn đó là điều mà cha nó đang thầm nghĩ vì ông đã ngăn nó đừng ném một cái bánh sandwich xuống biển và bảo nó, như thể ông đang nghĩ về những người ngư dân và cách sống của họ, rằng nếu nó không muốn ăn nữa thì nên cất cái bánh lại vào gói. Nó đừng nên lãng phí. Ông nói điều đó một cách minh nhiên, như thể ông biết rõ những điều xảy ra trên thế gian đến nỗi nó cất cái bánh vào ngay, thế rồi ông lấy từ gói của mình ra một cái bánh gừng và trao cho nó, như thể ông là một ông lớn Tây Ban Nha đang trao cho một phu nhân bên cửa sổ một đóa hoa (cử chỉ của ông hào hoa phong nhã làm sao). Ông ăn mặc một cách xoàng xỉnh, giản dị, đang ăn bánh mì và pho mát; thế nhưng ông đang chỉ huy chúng trong một cuộc viễn chinh mà họ có thể sẽ chết chìm, đó là tất cả những gì nó biết.” (Chương 12)
Cuối cùng, khi họ sắp đặt chân lên bờ ở chỗ ngọn hải đăng, mối xung đột giữa người cha và hai đứa con đã được hóa giải một cách tuyệt vời, hai đứa trẻ không còn căm ghét cha chúng nữa.
Trong khi đó, trên bãi cỏ tại ngôi nhà, Lily Briscoe bắt đầu vẽ tiếp bức tranh bỏ dở mười năm trước. Hình ảnh ông Ramsay van xin sự cảm thông của cô trước lúc lên đường, những hồi ức về bà Ramsay, về Charles Tansley, về William Bankes, về đôi vợ chồng Paul và Minta, cuối cùng cũng đã hóa giải trong lòng cô nỗi thống khổ vì câu nói vẫn luôn ám ảnh cô: “Đàn bà không thể vẽ, đàn bà không thể viết” của Tansley. Cuối cùng cô cũng nhận ra ý nghĩa đích thực của công việc sáng tạo của mình và hạ nét cọ cuối hoàn tất bức tranh.
Tuy có phần hơi gượng ép trong cách xử lý những mối xung đột, phần này vẫn rất xuất sắc khi lần theo đường dây tâm lý của các nhân vật, với những trang văn thật sự rung cảm lòng người.
3. Một số thông tin khác
Tác phẩm Tới ngọn hải đăng được xuất bản lần đầu vào tháng 5-1927 với số lượng ba ngàn bản và bán hết trong vòng một thời gian ngắn, giúp vợ chồng Woolf mua được một chiếc xe hơi.
Đoạt giải Heinemann Northcliffe và giải Femina Vie Heureuse (nay gọi là Prix Femina) dành cho tác phẩm nước ngoài năm 1928.
Được dịch sang tiếng Pháp ba lần: dịch giả Maurice Lanoire (tựa tiếng Pháp Promenade au Phare – 1929); dịch giả Magadi Merle (tựa tiếng Pháp Voyage au Phare – 1993); dịch giả Francois Pellan (tựa tiếng Pháp Vers le Phare – 1996).
Được tạp chí Time Magazine xếp hạng nằm trong số 100 cuốn tiểu thuyết tiếng Anh hay nhất từ 1923 – 2005.
Được hãng thông tấn BBC chuyển thể thành phim (TV) vào năm 1983. Đạo diễn Colin Gregg, chuyển thể kịch bản phim Hugh Stoddart.
Được chuyển thể thành kịch bởi kịch tác gia Adele Edling Shank. đạo diễn Les Waters, âm nhạc Paul Dresher, công diễn lần đầu tại nhà hát Roda ngày 23-3-2007.
Nhạc sĩ Anh Patrick Wolf (sinh năm 1983) đã sáng tác ca khúc To the Lighthouse (trong album Lycanthropy - 2003) với cảm hứng từ cuốn tiểu thuyết.
Như phần giới thiệu về tác phẩm đã nói bên trên, cách nhìn nhận của độc giả đối với Tới ngọn hải đăng rất khác biệt, có thể nói là đối lập hẳn với nhau. Để có thể hiểu sâu cũng như lý giải thêm về hiện tượng này, tôi xin kèm theo ở phần này một bài viết của nữ văn sĩ, thi sĩ, nhà phê bình nổi tiếng người Canada Margaret Atwood (sinh năm 1939) đăng trên tờ The Guardian ngày thứ Bảy 7-9-2002 nói về sự sai lầm của mình trong cách đánh giá Tới ngọn hải đăng:
Người phụ nữ không thể tẩy gột khỏi ký ức
Tôi đọc quyển Tới ngọn hải đăng của Virginia Woolf lần đầu vào năm 19 tuổi. Đó là trong một khóa học – “Tiểu thuyết Thế kỷ Hai mươi,” hoặc đại loại thế.... Tôi tiếp thu rất ổn tiểu thuyết của thế kỷ 19 – các tác phẩm của Dickens, tôi cảm thấy, như những điều như vậy sẽ phải diễn ra, ít ra là ở Anh: đầy những người điên và sương mù. Tôi cũng không quá kém cỏi đối với một số cuốn tiểu thuyết nhất định của thế kỷ 20. Ít nhiều gì tôi cũng có thể đo lường được Hemmingway – tôi từng chơi trò chơi chiến tranh khi còn bé, tôi từng đi câu cá rất nhiều, tôi biết những nguyên tắc gần đúng của cả hai, tôi ý thức được rằng những tên con trai thì vắn tắt. Camus thì khá là đáng chán đối với lứa tuổi mới chớm trưởng thành của tôi, với cảm giác tội lỗi về sự tồn tại và thêm vào đó cái thứ tình dục táo tợn không chút gì thú vị. Faulkner là ý tưởng của tôi về cái có khả năng xảy ra đối với – vâng, đối với tôi, với tư cách một văn sĩ (tôi muốn trở thành một văn sĩ), chứng cuồng loạn bốc cao, những đầm lầy lúc nhúc sâu bọ là nhận thức của tôi về cái có vẻ có thật của nghệ thuật. (Tôi biết những con sâu bọ đó. Tôi biết những đầm lầy đó, hoặc những đầm lầy giống như chúng. Tôi biết chứng cuồng loạn đó.) Thực tế rằng Faulkner cũng có thể khôi hài kinh khủng – vào lứa tuổi của tôi lúc đó – lướt ngay qua tôi.
Nhưng Virginia Woolf bị gạt ra bên lề trong chừng mực lứa tuổi 19 của tôi. Nói cho cùng vì sao lại phải đi ra ngọn hải đăng, và tại sao cứ rối lên như thế về việc đi hay không đi? Cuốn sách này nói về cái gì? Vì sao mọi người cứ bám riết lấy bà Ramsay, người đi lòng vòng với một cái mũ vải mềm cũ trên đầu và lãng phí thời gian thơ thẩn trong khu vườn của bà ta, nuông chiều ông chồng của bà với những cử chỉ phục tùng khéo léo? Ai đó đã sai lầm, ông ta hét lên, nhưng điều này chả tác động đến tôi tí ti nào. Còn Lily Briscoe thì sao chứ, kẻ muốn trở thành một họa sĩ và đã cố công thực hiện ước vọng này, nhưng dường như không thể vẽ giỏi cho lắm, hoặc chưa làm cho chính cô ta hài lòng cho lắm? Trong cõi miền của Woolf, mọi sự dường như đều mong manh. Chúng quá khó nắm bắt. Chúng quá lửng lơ không xác định. Chúng quá sâu thẳm khôn dò. Chúng giống như một dòng thơ của một thi sĩ râu tóc lưa thưa trong một truyện ngắn của Katherine Mansfield: “Vì sao nó phải luôn luôn là xúp cà chua?”
Mười chín tuổi, tôi chưa từng biết tới cái chết của bất kỳ một ai, ngoại trừ ông tôi, người đã già và xa khuất. Tôi chưa từng tới dự một lễ tang. Tôi không hiểu chút gì về loại trải nghiệm đó – về sự co rúm lại của mảnh vải vật chất của những cuộc đời đã sống, cái cung cách mà ý nghĩa của một nơi chốn có thể đổi thay vì những người đã từng ở trong nó nay không còn ở đó nữa. Tôi không biết chút gì về sự tuyệt vọng và sự cần thiết của việc cố nắm bắt lấy những cuộc đời như thế - để cứu vớt chúng, để ngăn chúng khỏi biến mất hoàn toàn.
Mặc dù tôi đã có nhiều lầm lạc trong nghệ thuật, tôi chưa hề nhận ra sự non nớt đó của mình. Lily Briscoe đau khổ vì sự công kích của một gã đàn ông dễ dao động cứ bảo với cô rằng đàn bà không thể vẽ và đàn bà không thể viết, nhưng tôi không nhận ra lý do vì sao cô lại phải phiền muộn đến thế về việc đó: rõ ràng cái gã đó là một tên quấy rối, vì thế ai cần quan tâm tới những gì hắn nghĩ chứ? Dù sao đi nữa, chưa có người nào từng nói với tôi những câu như thế, chưa hề. (Tôi không biết rằng chẳng bao lâu sau chúng sẽ bắt đầu.) Tôi không nhận ra những phát ngôn như thế có thể có một sức nặng đến thế nào, ngay cả khi được thốt ra từ những tên ngu xuẩn, do nhiều thế kỷ của thẩm quyền được tôn trọng một cách nặng nề nằm phía sau chúng.
Mùa hè vừa rồi, 43 năm sau, tôi đọc lại Tới ngọn hải đăng. Không vì một lý do đặc biệt nào: tôi đang ở trong cái không gian rất mang tính cách Canada, “căn nhà thôn dã” đó, và cuốn sách cũng vậy, và tôi đã đọc hết tất cả những cuốn truyện trinh thám hình sự. Vì thế tôi nghĩ tôi sẽ thử lần nữa.
Sao mà lần này mọi thứ trong cuốn sách lại rơi vào đúng chỗ đến như vậy? Sao tôi lại có thể bỏ qua nó – trên tất cả là những khuôn mẫu, là nghệ thuật – trong lần đầu đọc nó? Sao tôi có thể bỏ qua sự vang vọng ở câu trích dẫn Tennyson của ông Ramsay, đã đến như một tiên đoán về cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất? Sao tôi lại có thể không hiểu ra rằng kẻ vẽ tranh và kẻ viết văn rốt cuộc đều giống hệt nhau? (Đàn bà không thể vẽ, đàn bà không thể viết..) Và cái cách thời gian trôi lướt qua mọi thứ như một đám mây, và những vật thể vững chắc chao động lung linh rồi biến mất? Và cái cách của bức tranh vẽ bà Ramsay của Lily Briscoe – không trọn vẹn, không đầy đủ, chịu số phận bị treo dấm dúi trong một căn phòng áp mái – trở thành, như khi cô thêm vào một nét nối kết tất cả lại với nhau vào lúc cuối, cuốn sách mà chúng ta vừa đọc?
Có một số cuốn sách phải đợi cho tới lúc bạn đã sẵn sàng cho nó. Trong việc đọc, có rất nhiều điều phụ thuộc vào sự may mắn. Và tôi vừa may mắn biết bao! (Hoặc tôi đã tự nhủ thầm với mình như thế khi đội cái mũ vải mềm cũ lên đầu, bước ra ngoài để đi thơ thẩn lòng vòng trong khu vườn bất khả thăm dò của mình...)
Cuối cùng, tôi xin được khép lại phần giới thiệu này với niềm hy vọng các bạn đọc sẽ tìm thấy sự rung cảm mà tôi đã trải qua khi đọc tác phẩm và nhất là trong quá trình chuyển dịch nó sang tiếng Việt. Dịch một tác phẩm lớn với văn phong cực kỳ phức tạp như Tới ngọn hải đăng là một sự thử thách, một cuộc mạo hiểm đầy thú vị nhưng cũng gian khổ gay go. Một lần nữa, tôi rất hy vọng và mong mỏi các bạn đọc có thể tìm được những cảm giác tri âm tri kỷ cùng tác giả Virginia Woolf qua bản dịch này.
Sài Gòn, tháng 11-2009
Nguyễn Thành Nhân
Nguồn tham khảo tư liệu:
www.vi. wikipedia.org; www.en. wikipedia..org; www.librarything.com; www.nytimes.com;
www.guardian.co.uk; www.regencyfasion.org; www.new.music.yahoo.com/patrick-wolf;
www.culture24.org.uk;www.berkeleyrep.org; www.sparknotes.com; www.britannica.com;
www.amazon.com; www.search.barnesandnoble.com; www.readysteadybook.com; www. smoop.com;
www.malcolmingram.com; www. goodreads.com
(còn tiếp)
Nguồn: Tới ngọn hải đăng. Tiểu thuyết của Virginia Woolf. Nguyễn Thành Nhân dịch từ nguyên tác tiếng Anh To the Lighthouse.
Dịch giả gửi www.trieuxuan.info |