“Chúng ta đi thôi,” anh ta lắp bắp lặp lại lời bà, tuy nhiên, với một vẻ e dè khiến cho bà nhăn mặt. “Chúng ta hãy đi tới chỗ gánh xiếc.” Không. Anh ta đã không thể nói đúng về việc đó. Anh ta đã không thể cảm nhận đúng về nó. Nhưng tại sao không? bà tự hỏi. Có gì trục trặc ở anh ta vậy? Ngay lúc này, bà thấy mến anh ta một cách ấm áp chân thành. Không phải họ đã từng được dắt tới những gánh xiếc khi còn bé hay sao? Không bao giờ, anh ta trả lời, như thể bà hỏi đúng ngay điều mà anh ta đã mong muốn, đã khao khát được nói ra trong suốt những ngày này, rằng vì sao anh ta đã không tới chỗ những gánh xiếc.
Đó là một gia đình đông con, chín anh chị em tất cả, và cha của anh là một người lao động. “Cha tôi là một người bán dược phẩm. Ông coi sóc một cửa hàng.” Bản thân anh phải tự bươn chải từ năm lên mười ba tuổi. Thông thường anh ra khỏi nhà vào mùa đông mà chẳng có một cái áo khoác nào trên người. Anh không bao giờ có thể “đáp lại một cách phóng khoáng” (đó là những lời nghẹn ngào khô khốc của anh) hồi ở trường đại học. Anh phải làm những việc kéo dài gấp đôi thời gian so với người khác; anh hút loại thuốc lá rẻ tiền nhất; thuốc rê; giống như loại thuốc mà những ông già hút trong các bến cảng. Anh làm việc vất vả – bảy giờ đồng hồ một ngày; đề tài của anh lúc này là ảnh hưởng của một điều gì đó lên một ai đó – họ đang tiếp tục đi và bà Ramsay không hoàn toàn hiểu ý nghĩa của những từ ở đoạn này đoạn khác… bài luận văn… nghiên cứu sinh… phó giáo sư… giảng viên. Bà không thể hiểu kịp những thuật ngữ hàn lâm đang liếng thoắng tuôn ra đó, nhưng tự nhủ rằng bây giờ bà đã hiểu vì sao việc tới chỗ gánh xiếc đã lột lưỡi anh ta, anh chàng tội nghiệp, và vì sao lúc này anh ta đang dốc bầu tâm sự về tất cả những chuyện đó, về cha mẹ, anh chị em của anh ta, và bà thấy rằng các con bà không nên chế nhạo anh ta nữa; bà sẽ bảo với Prue về chuyện này. Chắc hẳn điều mà anh ta muốn, bà nghĩ, là nói ra lý do vì sao anh ta đã tìm tới không phải là gánh xiếc mà là Ibsen[1] cùng với gia đình Ramsay. Anh ta là một gã hợm mình… ồ, phải, một gã đáng chán không chịu nổi. Bởi lẽ, dù lúc này họ đã tới thị trấn và đang đi trên con lộ chính, với những cỗ xe ngựa lăn bánh trên mặt đường rải đá, anh ta vẫn tiếp tục nói, về những cuộc thỏa thuận, việc dạy học và những người lao động, về việc giúp đỡ giai cấp của chúng ta, và những bài giảng, cho tới khi bà đoán rằng anh ta đã hoàn toàn lấy lại được sự tự tin, đã hồi phục lại từ chuyện gánh xiếc, và sắp sửa (bây giờ bà lại cảm thấy yêu mến anh ta nồng nhiệt) kể cho bà nghe… nhưng tại đây, nơi những ngôi nhà khuất xa ở cả hai bên đường, họ đi ra phía bến cảng. Toàn cảnh cái vịnh trải ra trước mặt họ. Bà Ramsay kêu lên, “Ôi, đẹp quá!” Mặt nước xanh lơ mênh mông nằm trước mặt bà; xa xa, ngay chính giữa, là ngọn hải đăng cổ kính mộc mạc; và ở phía tay phải, trong chừng mực có thể nhìn thấy, những cồn cát xanh mềm mại phủ đầy cỏ dại, dường như luôn luôn chạy về phía một miền đất xa lạ không dân cư nào đó.
Đó là quang cảnh - bà nói, dừng lại, đôi mắt xám sẫm tối hơn - mà chồng bà yêu thích.
Bà ngưng một lúc. Nhưng bây giờ, bà nói, các họa sĩ đã tới đây. Thật sự, cách họ chừng vài bước, một người trong số họ đang đứng, đội một cái mũ Panama và mang một đôi ủng vàng, nghiêm trang, dịu dàng, tập trung, với một vẻ hài lòng sâu sắc trên gương mặt nâu đỏ chăm chú, và vì thế có khoảng mười đứa nhóc đang quan sát ông ta. Sau khi nhìn, ông ta nhúng đầu cọ vào lớp sơn mềm màu xanh lá hoặc màu hồng gì đó. Từ khi ông Paunceforte tới đây, ba năm trước, tất cả những bức tranh đều như thế cả, bà nói, xanh lá và xám, với những con thuyền buồm màu vàng chanh và những phụ nữ màu hồng trên bãi biển.
Nhưng những người bạn của bà nội bà, bà nói, kín đáo liếc mắt khi họ bước qua, đã phải vất vả hết sức; trước tiên họ phải tự trộn màu cho mình, rồi nghiền chúng ra, rồi phủ vải ướt lên trên để giữ ẩm.
Vì thế Tansley cho rằng bà có ý nói với anh rằng tranh của người đàn ông đó chưa đủ sắc độ, có phải người ta nói như thế không nhỉ? Màu sắc không đậm đà? Có phải người ta nói thế không? Dưới tác động của cảm xúc khác thường trong suốt cuộc đi bộ, bắt đầu từ trong khu vườn nơi anh muốn xách giùm cái giỏ của bà và đã gia tăng trong thị trấn nơi anh muốn kể cho bà nghe mọi chuyện về mình, anh đã nhìn thấy chính bản thân mình, và mọi điều mà anh từng biết đã hơi biến đổi. Đó là một điều rất đỗi lạ lùng.
Anh đứng đó chờ bà, trong phòng khách của gian nhà nhỏ hẹp mà bà đã đưa anh tới. Trong lúc đó bà đi lên gác trên một lát để gặp một người phụ nữ. Anh nghe thấy tiếng bước chân nhanh nhẹn của bà bên trên, nghe giọng nói của bà cất cao vui vẻ rồi thấp xuống lại; nhìn những tấm thảm, những cái hộp đựng trà, những bóng phản chiếu trong tấm gương; chờ đợi một cách nôn nao; nóng lòng mong chóng đến lúc trở về; quyết định sẽ mang giúp bà cái giỏ; rồi nghe thấy tiếng bà bước ra; đóng một cánh cửa; bảo rằng họ nên mở những cánh cửa sổ ra và đóng cửa ra vào lại, hỏi với vào nhà xem họ có cần gì hay không (hẳn là bà đang nói với một đứa bé), rồi, đột ngột, bà bước ra, đứng lặng im một lúc (như thể bà đã giả vờ đi lên đó, và bây giờ lại xuất hiện). Bà đứng bất động trong giây lát trước một bức tranh vẽ Nữ hoàng Victoria đeo dải ruy băng tước hiệu Garter; ngay lập tức anh nhận ra một điều: chính thế – bà là người đẹp nhất mà anh từng nhìn thấy.
Với những vì sao trong đôi mắt và tấm khăn choàng trên mái tóc, với những đóa hoa anh thảo và cúc tím dại… Có phải anh đang nghĩ tới một điều phi lý hay không? Ít nhất bà cũng đã năm mươi tuổi; bà đã có tám đứa con. Bước qua những cánh đồng hoa dại và cài lên ngực bà những nụ hoa đã rữa và ngây thơ đã mất; với những vì sao trong đôi mắt và ngọn gió trên mái tóc của bà… Anh đã xách giùm cái giỏ cho bà.
“Tạm biệt, Elsie,” bà nói, và họ bước dọc theo con đường. Bà giữ thẳng cây dù và bước đi như thể đang mong gặp ai đó ở một góc quanh, trong lúc lần đầu tiên trong đời mình Charles Tansley cảm thấy rất đỗi tự hào. Một người đàn ông đang đào đất trong một rãnh nước ngưng lại và nhìn bà, buông thỏng cánh tay xuống và nhìn bà; lần đầu tiên trong đời mình Charles Tanley cảm thấy tự hào đến lạ; anh cảm nhận được ngọn gió, những đóa hoa anh thảo và hoa cúc tím vì anh đang đi bên cạnh một người đàn bà đẹp. Anh đã xách giùm cái giỏ cho bà.
2.
“Không ra ngọn hải đăng được, James ạ,” anh nói, với lòng kính trọng bà Ramsay, cố làm mềm đi giọng nói để ít ra nó có chút vẻ ân cần.
Cái gã bé nhỏ đáng ghét này, bà Ramsay nghĩ, vì sao cứ nói như thế chứ?
3.
“Có lẽ con sẽ thức giấc và thấy rằng mặt trời đang tỏa nắng và lũ chim đang hót líu lo,” bà nói với vẻ trắc ẩn, vuốt ve mái tóc cậu bé. Vì bà hiểu rằng chồng bà, với lời lẽ cay độc rằng trời sẽ không đẹp, đã làm cho nó tan nát cõi lòng. Việc đi ra ngọn hải đăng là niềm đam mê của nó, bà hiểu, và như thể chồng bà còn chưa nói đủ, với lời lẽ cay độc của ông, rằng ngày mai trời sẽ không đẹp, cái gã bé nhỏ đáng ghét này đi tới và xát muối lên nỗi đau của nó thêm lần nữa.
“Có lẽ ngày mai trời sẽ đẹp,” bà nói, vuốt nhẹ tóc nó.
Tất cả những gì bà có thể làm lúc này là ca ngợi cái tủ lạnh và lật những trang danh mục hàng hóa với hy vọng rằng bà có thể tìm ra một bức hình nào đó, một cái cào cỏ hay một cái máy cắt cỏ mà để cắt được những cái răng cào và tay cầm của nó cần phải có một kỹ năng điêu luyện. Tất cả những gã thanh niên này đều lặp lại như vẹt lời của chồng bà, bà ngẫm nghĩ; ông ấy nói trời sẽ mưa; thế là họ nói không chừng còn có bão nữa ấy chứ.
Nhưng trong khi bà lật trang giấy, việc tìm kiếm một bức hình đột ngột bị cắt ngang. Tiếng thì thầm cộc lốc thỉnh thoảng bị phá vỡ bởi tiếng ống tẩu phì phèo khiến cho bà yên tâm rằng những người đàn ông đang trò chuyện vui vẻ, dù bà không nghe thấy họ nói gì (vì bà ngồi phía trong cửa sổ mở ra mái hiên), cái âm thanh kéo dài suốt nửa giờ qua và diễn ra êm ả trong những tiếng ồn ào phía trên đầu bà, như tiếng bóng chạm vào vợt, tiếng hét chói tai thỉnh thoảng nổi lên, “Cú đó thế nào? Cú đó thế nào” của lũ trẻ đang chơi crikê, đã tắt hẳn; tiếng sóng vỗ đều đều ngoài bãi biển thường khi vẫn điểm nhịp cho những ý nghĩ của bà và hình như lặp đi lặp lại một cách đầy an ủi khi bà đang ngồi với lũ trẻ những lời an ủi thì thầm của thiên nhiên như một bài hát ru xa xưa nào đó, “Mẹ trông nom con.. mẹ che chở cho con,” nhưng có đôi lúc, một cách đột ngột và bất ngờ, chúng lại không có ý nghĩa tốt lành như thế mà giống như một hồi trống ma quái dằn nhịp cho cuộc sống một cách không thương xót, khiến cho người ta nghĩ tới sự hủy diệt của hòn đảo và việc nó bị nhấn chìm vào lòng biển, và cảnh báo với bà, kẻ mà tuổi thanh xuân đã trôi về thời quá vãng, rằng tất cả đều phù du như một dải cầu vồng. Âm thanh vốn đã nhòa đi và bị che lấp dưới những âm thanh khác này đột nhiên lại vang rền trong tai bà và khiến cho bà ngẩng lên nhìn với niềm kinh hãi.
Họ đã ngừng trò chuyện; đó là lời giải thích. Trong một giây, bà rơi từ sự căng thẳng đã nén chặt mình sang một cực đoan khác, điềm tĩnh trở lại, thích thú và thậm chí hơi thâm hiểm, như thể để bù đắp lại cho sự tiêu pha cảm xúc không cần thiết của bà, bà kết luận rằng cái gã Charles Tansley khốn khổ đó đã bị bỏ rơi. Nếu chồng bà đòi hỏi vật hiến tế (và thật sự ông ta đã làm thế) bà sẽ hân hoan giao cho ông ấy Charles Tansley, kẻ đã làm cho đứa con trai bé bỏng của bà buồn bã.
Một lần nữa, với mái đầu ngẩng cao, bà lắng nghe, như thể chờ đợi một âm thanh quen thuộc nào đó, một âm thanh có tính chất máy móc thông thường nào đó; và một lần nữa bà thấy an ủi, yên lòng rằng mọi thứ đều ổn thỏa, khi nghe thấy một âm thanh gì đó khá du dương, nửa phần tiếng nói, nửa phần ngâm nga, bắt đầu nổi lên trong vườn khi chồng bà bước qua lại hàng hiên. Khi nhìn xuống cuốn sách trên đầu gối, bà tìm thấy hình một con dao bỏ túi có sáu lưỡi mà James phải rất cẩn thận mới có thể cắt nó ra.
Đột nhiên một tiếng hét to, như của một người mộng du nửa mê nửa tỉnh, vang dội hết cỡ trong tai bà một điều gì đó về việc
Xông pha trong đạn pháo[2]
khiến bà lo lắng quay nhìn xem có ai nghe thấy tiếng đọc thơ của chồng mình hay không. Bà vui mừng khi nhận thấy chỉ có Lily Briscoe; và điều đó không đáng ngại. Nhưng cảnh tượng cô gái đứng vẽ tranh ở rìa thảm cỏ đã nhắc cho bà nhớ; rằng bà phải giữ yên vị trí đầu mình cho bức tranh của Lily. Bức tranh của Lily! Bà Ramsay mỉm cười. Với đôi mắt Trung Hoa nhỏ xíu và gương mặt nhăn nheo đó, cô ta sẽ chẳng bao giờ lấy chồng; anh ta sẽ không xem trọng tranh của cô ta cho lắm; cô ta là một sinh vật độc lập bé nhỏ, và bà Ramsay thích cô ta vì điều đó; thế là, nhớ tới lời hứa của mình, bà cúi đầu xuống.
4.
Thật sự, suýt chút nữa ông ta đã xô đổ giá vẽ của cô. Ông ta đi thẳng về phía cô, hai bàn tay vung vẫy và hét lớn, “Chúng ta can trường cưỡi ngựa xông lên,”[3] nhưng nhờ trời đất thương tình, ông ta quay ngoắt lại và đi xa dần, để chết một cách vinh quang trên những ngọn đồi Balaclava, cô cho là vậy. Chưa hề có người nào cùng một lúc vừa buồn cười vừa đáng ngại đến thế. Nhưng miễn là ông ta cứ hành động theo kiểu đó, vẫy tay, la hét, cô vẫn an toàn; miễn là ông ta đừng đứng yên nhìn vào tranh của cô. Đó là điều mà Lily Briscoe không thể chịu đựng được. Thậm chí trong lúc cô nhìn vào khối hình, vào nét vẽ, vào màu sắc, vào bà Ramsay đang ngồi bên cửa sổ với James, cô vẫn theo dõi xung quanh kẻo có ai đó len lén tới gần và cô đột ngột phát hiện ra rằng có kẻ nào đó đang nhìn vào tranh của mình. Nhưng giờ đây, với mọi giác quan nhạy bén như thường lệ, nhìn ngắm, căng lên, cho tới khi màu sắc của bức tường và bụi hoa jacmanna[4] ở phía ngoài bùng cháy trong mắt cô, cô nhận thức được có ai đó đang bước ra khỏi ngôi nhà, tiến về phía cô; nhưng qua linh cảm, từ tiếng bước chân, đó là William Bankes, vì thế dù cọ của cô hơi run, cô vẫn không úp tấm tranh của mình lên mặt cỏ, như trong trường hợp đó là Tansley, Paul Rayley, Minta Doyle, mà vẫn để nó đứng yên. William Bankes đã đứng bên cạnh cô.
Họ có phòng trong làng. Và cứ thế, đi vào, đi ra, chia tay nhau muộn màng trên lớp thảm trải ở cửa ra vào, nói vu vơ về món xúp, về lũ trẻ, về chuyện nọ chuyện kia, những chuyện giúp cho họ trở thành đồng minh với nhau; thế nên lúc này, khi ông đứng bên cạnh cô theo cái kiểu cách quan tòa (ông lớn tuổi đủ để làm cha cô, một nhà thực vật học góa vợ, bốc mùi xà phòng, rất tỉ mỉ và sạch sẽ), cô chỉ đứng đó. Ông cũng chỉ đứng đó. Đôi giày của cô thật tuyệt, ông quan sát. Chúng cho phép những ngón chân cô duỗi ra một cách tự nhiên.
Cùng ở chung một nhà với cô, ông cũng đã nhận ra rằng cô sống rất ngăn nắp, thức giấc trước giờ điểm tâm và ra ngoài để vẽ tranh, một mình, ông tin là thế. Nghèo, có thể đoán thế, và không có nước da hay sức quyến rũ của cô Doyle, tất nhiên, nhưng có một thứ tri thức khiến cho đôi mắt cô vượt trội hơn hẳn mắt của cô gái trẻ kia. Chẳng hạn vào lúc này, khi Ramsay đang tiến tới gần chỗ họ, hét to, khoa tay múa chân, cô hiểu, ông cảm thấy chắc chắn điều đó.
Ai đó đã sai lầm[5].
Ông Ramsay nhìn họ chòng chọc. Ông ta nhìn họ mà dường như không thấy họ. Điều đó khiến cho cả hai thấy hơi khó chịu. Họ vừa cùng nhìn thấy một điều mà họ không có ý định nhìn thấy, họ đã xâm phạm tới một cõi riêng tư. Có lẽ đó là lý do khiến ông Bankes muốn di chuyển ra khỏi tầm nghe, Lily nghĩ, vì gần như ngay lúc ấy ông nói gì đó về việc trời lạnh và đề nghị họ cùng đi tản bộ. Cô sẽ đi, vâng. Nhưng khó khăn lắm cô mới rời mắt được khỏi bức tranh.
(còn tiếp)
Nguồn: Tới ngọn hải đăng. Tiểu thuyết của Virginia Woolf. Nguyễn Thành Nhân dịch từ nguyên tác tiếng Anh To the Lighthouse.
Dịch giả gửi www.trieuxuan.info
Henrik Johan Ibsen (1828 - 1906): kịch tác gia Na Uy, được xem là cha đẻ của kịch nói hiện đại.
Trích từ bài thơ Cuộc đột kích của Lữ đoàn Khinh kỵ binh (The Charge of the Light Brigade) của nhà thơ Anh Alfred Tennyson viết năm 1854 về trận chiến ở Balaclava trong cuộc chiến tranh Crimean (1853-1856) giữa Nga và quân đồng minh gồm Pháp, Anh, Ottaman và Sardinia. Trong các chương sau (chủ yếu là Chương 6), dòng ý thức của ông Ramsay hướng tới những suy ngẫm bắt nguồn từ bài thơ này, nhất là ở khổ cuối của nó, nói về sự vinh quang bất tử của những người lính, mở rộng ra là của những người làm khoa học.
|