Nó là một bộ óc tuyệt vời. Vì nếu tư tưởng giống như bàn phím của một chiếc dương cầm, được chia làm rất nhiều nốt, hay giống như hai mươi sáu mẫu tự ABC xếp theo trật tự, khi đó bộ óc tuyệt vời của ông chẳng hề khó khăn chút nào trong việc điểm qua lần lượt từng mẫu tự đó, một cách chắc chắn và chính xác, cho tới khi nó tới, chẳng hạn, mẫu tự Q. Ông đã tới mẫu tự Q. Trong toàn bộ nước Anh có rất ít người tới được chữ Q. Ở đây, dừng lại một lúc cạnh cái chậu đá trồng phong lữ thảo, ông nhìn thấy, nhưng bây giờ rất xa xôi, vợ và con trai ông, cả hai, phía trong cửa sổ, như bọn trẻ con đang nhặt vỏ sò, cực kỳ vô tư và hoàn toàn bị xâm chiếm bởi những thứ bé nhỏ dưới chân chúng và theo cách nào đó hoàn toàn vô tự vệ không thể chống lại một định mệnh bất hạnh mà ông nhận thức được. Họ cần sự bảo vệ của ông; ông đã trao nó cho họ. Nhưng sau chữ Q? Điều gì sẽ tới? Sau chữ Q là một số mẫu tự mà cuối cùng trong số chúng là một mẫu tự hiếm khi những đôi mắt phàm nhân nhìn thấy, nhưng đang đỏ lấp lánh ở phía xa xa. Chỉ duy nhất một người trong mỗi thế hệ đạt tới chữ Z một lần. Tuy nhiên, nếu ông có thể tới chữ R thì đó cũng là một điều đáng kể. Ít nhất ở đây là chữ Q. Ông đào sâu gót chân xuống chữ Q. Ông chắc chắn về chữ Q. Ông có thể chứng minh chữ Q. Nếu đã Q thì rồi sẽ có Q–R. Tới đây ông gõ cái ống tẩu, với hai ba tiếng vang vang, trên cái tay xách của chiếc chậu, và tiếp tục. “Vậy thì R…” Ông gắng hết sức. Ông tự xiết lấy chính mình.
Những phẩm chất có thể cứu hành khách của một con tàu hiện ra trên biển cả sôi sục dưới hình thức sáu cái bánh quy và một chai nước – sự chịu đựng và công lý, sự lo xa, sự tận tụy, kỹ năng, đã giúp sức cho ông. Vậy R là – R là gì?
Một tấm màn, như lớp da mí mắt của một con thằn lằn, nhấp nháy bên trên cái nhìn căng thẳng của ông và che khuất chữ R. Trong tia chớp của bóng tối đó ông nghe mọi người đang nói – ông là một kẻ thất bại – rằng chữ R vượt khỏi tầm của ông.
Ông sẽ không bao giờ chạm tới chữ R. Hướng tới chữ R, một lần nữa. R –
Những phẩm chất – mà trong một cuộc thám hiểm lẻ loi băng qua những vùng băng giá quạnh hiu ở vùng địa cực sẽ biến ông trở thành vị chỉ huy, kẻ dẫn đường, viên cố vấn, một người có tính khí không lạc quan nhưng cũng không thoái chí, người sẽ bình tĩnh nghiên cứu xem điều gì sẽ đến và đối mặt với nó – lại một lần nữa trợ giúp cho ông. R–
Mí mắt của con thằn lằn lại nhấp nháy một lần nữa. Những tấm màn che trên trán ông phình to ra. Cây phong lữ thảo trong cái chậu trở nên hiển hiện một cách lạ lùng, và, hiện ra giữa những chiếc lá của nó, ông có thể nhìn thấy mà không hề mong muốn, sự khác biệt xưa cũ, hiển nhiên giữa hai loại người; một bên là những kẻ qua lại đều đều với sức mạnh siêu phàm, nặng nhọc và kiên trì, họ lặp lại toàn bộ các mẫu tự ABC theo trật tự, tất cả hai mươi sáu chữ cái, từ đầu tới cuối; một bên khác là những kẻ tài năng, những kẻ tràn đầy cảm hứng mà như trong một phép mầu, họ thu tóm tất cả mọi chữ cái trong một tia chớp lóe – cung cách của thiên tài. Ông không có thiên tài; ông chẳng phàn nàn gì về điều đó: nhưng ông có, hoặc có thể có, khả năng lặp lại mọi từ trong bảng chữ cái theo đúng trật tự từ A tới Z một cách chính xác. Đồng thời trong lúc đó ông bị mắc kẹt ở chữ Q. Vậy thì, hướng tới R.
Lúc này, khi tuyết bắt đầu rơi và sương giá bao trùm đỉnh núi, những cảm giác ô nhục mà hẳn sẽ không đến với một người lãnh đạo, kẻ biết rằng ông ta phải nằm xuống và chết trước khi bình minh lên, đang luồn vào tâm hồn ông, làm mờ đi màu mắt ông, mang tới cho ông, thậm chí chỉ trong vòng hai phút sau khi ông quay ra trước sân hiên, vẻ nhợt nhạt của tuổi già héo hắt. Thế nhưng ông sẽ không nằm xuống chết; ông sẽ tìm ra một vách đá cheo leo, và ở đó, đôi mắt ông sẽ gắn chặt vào cơn bão tố, cố gắng chọc thủng màn đêm cho tới phút cuối cùng, ông sẽ chết đứng. Ông sẽ không bao giờ với tới chữ R.
Ông đứng bất động, cạnh chậu hoa phong lữ thảo tỏa nhánh um tùm. Rốt cuộc, có bao nhiêu người trong một tỷ người, ông tự hỏi, đã chạm tới chữ R? Chắc chắn là một người lãnh đạo với niềm hy vọng chơ vơ có thể tự hỏi mình điều đó, và trả lời mà không phản bội lại đoàn thám hiểm phía sau ông ta, “Có lẽ là một người.” Một người trong cả một thế hệ. Ông có đáng trách không nếu ông không phải là người đó? Miễn là ông đã lao khổ một cách chân thành, cố gắng với hết khả năng, cho tới khi ông không còn gì để cho đi nữa? Và tên tuổi của ông sẽ tồn tại bao lâu? Ngay cả một vị anh hùng đang hấp hối cũng được phép suy nghĩ trước khi ông ta chết rằng người ta sẽ nói về mình như thế nào sau đó. Có lẽ tên tuổi của ông sẽ tồn tại được hai ngàn năm. Và hai ngàn năm là cái quái gì? (ông Ramsay tự hỏi một cách mỉa mai, nhìn đăm đăm vào hàng giậu). Là cái quái gì, thật thế, khi bạn nhìn từ một đỉnh núi xuống bãi sa mạc thời gian dài vô tận? Ngay cả một hòn cuội mà người ta giơ chân đá văng xuống cũng sẽ tồn tại lâu hơn Shakespeare.
Ánh sáng bé nhỏ của ông sẽ tỏa ra, không rực rỡ lắm, trong một hoặc hai năm, rồi sẽ chìm vào một ánh sáng lớn hơn, và ánh sáng đó lại chìm vào một ánh sáng khác lớn hơn nữa.
(Ông nhìn vào hàng giậu, vào sự phức tạp của những nhánh cây con.) Vậy thì ai có thể trách người chỉ huy của đoàn người tuyệt vọng mà nói cho cùng đã trèo lên khá cao để có thể nhìn xuống bãi sa mạc của những tháng năm và sự tàn lụi của những vì sao, nếu trước khi cái chết làm tứ chi ông ta đông cứng lại ngoài khả năng cử động, ông thực hiện một cử động đầy ý thức, đưa những ngón tay tê cóng lên mày rồi vươn thẳng vai, để khi đoàn tìm kiếm tới nơi, họ sẽ thấy rằng ông ta đã chết ở vị trí của mình, hình ảnh đẹp đẽ của một người chiến sĩ? Ông Ramsay vươn vai và đứng rất thẳng cạnh cái chậu hoa.
Ai sẽ trách ông nếu ông cứ đứng như thế trong giây lát, tập trung suy ngẫm về danh vọng, về những đoàn tìm kiếm, về những tháp đá tưởng niệm dựng lên bởi những đồ đệ biết ơn trên nắm xương khô của ông? Cuối cùng, ai sẽ trách người chỉ huy của đoàn thám hiểm bất hạnh đó, khi ông đã mạo hiểm cho tới phút tận cùng, đã sử dụng toàn bộ sức lực cho cân nặng cuối cùng và rơi vào giấc ngủ mà không mấy quan tâm tới việc mình có còn tỉnh giấc nữa hay không, và bây giờ ông nhận thức bằng những cảm giác tê nhói ở mấy ngón chân rằng ông còn sống, không chỉ vì mục đích sống, mà còn đòi hỏi sự cảm thông, và rượu whisky, và ai đó để kể lại ngay tức khắc câu chuyện về nỗi thống khổ của mình? Ai sẽ trách ông? Ai sẽ không kín đáo hân hoan khi vị anh hùng đã cởi tấm áo giáp khỏi người, dừng lại bên cửa sổ và nhìn chăm chú vào vợ và con trai của mình, những người lúc đầu rất xa xôi, dần dần trở nên gần hơn, cho tới khi những đôi môi, cuốn sách và mái đầu hiện lên rõ ràng trước mắt ông, dù vẫn đáng yêu và xa lạ với sự cô đơn trầm trọng của ông, với bãi sa mạc thời gian và sự tàn lụi của những vì sao, và cuối cùng sẽ nhét cái tẩu thuốc vào túi và cúi mái đầu cao quý của mình trước bà ấy – ai sẽ trách ông nếu ông tỏ lòng kính trọng vẻ đẹp của trần gian?
7.
Nhưng con trai ông ghét ông. Nó ghét ông vì ông tới bên họ, dừng lại và nhìn xuống họ; nó ghét ông vì ông đã xen vào giữa họ; nó ghét ông vì những điệu bộ ra vẻ trịch thượng và cao cả của ông; vì sự cao quý của đầu óc ông; vì sự đòi hỏi quá quắt và tính ích kỷ của ông (ông đứng đó, đòi hỏi họ phải chú ý tới ông) nhưng hơn hết mọi thứ nó ghét những thể hiện cảm xúc ồn ào nhặng xị của cha nó, đang làm rung động cả bầu không khí xung quanh họ, quấy nhiễu sự hồn nhiên trọn vẹn và cảm nhận tốt đẹp về mối quan hệ giữa nó và mẹ nó. Bằng cách dán mắt vào trang giấy, nó hy vọng sẽ làm cho ông đi tiếp; bằng cách chỉ ngón tay vào một từ, nó hy vọng lôi kéo lại sự chú ý của mẹ nó, điều mà, nó biết một cách giận dữ, sẽ ngay lập tức khiến cha nó bỏ đi. Nhưng, không. Không có gì làm cho ông Ramsay bỏ đi được. Ông đứng đó, đòi hỏi sự cảm thông.
Bà Ramsay, đang ngồi thanh thản, ôm đứa con trai trong tay, hơi xoay người lại và dường như nhấc mình lên với một nỗ lực, và ngay lập tức trút thẳng vào bầu không khí một trận mưa năng lượng, một cột bụi nước, đồng thời trông có vẻ linh hoạt và sống động như thể toàn bộ những năng lượng của bà đang hợp nhất thành sức mạnh, cháy bùng và tỏa sáng (dù bà chỉ ngồi lặng lẽ, cầm lại chiếc tất), và sự cằn cỗi tiền định của người đàn ông sục bản thân nó vào người đàn bà mắn đẻ ngọt ngào này, suối nguồn dào dạt này, như một chiếc vòi ấm đồng khô khan và trần trụi. Ông muốn được cảm thông. Ông là một kẻ thất bại, ông nói. Bà Ramsay vung vẩy hai chiếc kim đan. Ông Ramsay lặp lại, không hề rời mắt khỏi gương mặt bà, rằng ông là một kẻ thất bại. Bà đáp lại ông mấy từ. “Charles Tansley…” bà nói. Nhưng ông phải được nhiều hơn thế. Điều ông muốn là sự cảm thông, là được khẳng nhận về thiên tài của mình, trước nhất, rồi được đưa vào vòng đời, ấm áp và đầy an ủi, để khôi phục lại những cảm giác của ông, để khoác bộ lông thú lên sự trần trụi của ông, và để mọi căn phòng của ngôi nhà tràn đầy sức sống – phòng khách; sau phòng khách là nhà bếp; phía trên nhà bếp là những phòng ngủ và ở mé ngoài chúng là những phòng cho lũ trẻ; chúng phải được trang bị đồ đạc, chúng phải ngập tràn sự sống.
Charles Tansley nghĩ ông là nhà siêu hình học vĩ đại nhất của thời này, bà nói. Nhưng ông phải có nhiều hơn thế. Ông phải có sự cảm thông. Ông phải an tâm rằng cả ông nữa cũng sống ở ngay trung tâm cuộc sống; được cần đến; không chỉ ở đây, mà trên khắp cả thế gian. Vung đôi kim đan, tự tin, người vươn thẳng, bà tạo ra căn phòng khách và nhà bếp, làm cho tất cả sáng ngời lên; mời ông cứ tự nhiên thoải mái ở đó, đi vào và đi ra, tự tìm vui thú cho mình. Bà cười to, bà đan. Đứng cứng người giữa hai đầu gối của bà, James cảm thấy mọi sức mạnh của bà cháy bùng lên để say sưa và bị dập tắt bởi cái vòi ấm đồng, thanh đao khô cằn của người đàn ông, lúc này đang vỗ mạnh một cách không thương xót, hết lần này sang lần khác, đòi hỏi sự cảm thông.[1]
Ông là một kẻ thất bại, ông lặp lại. Ồ, thế thì nhìn xem, thế thì cảm nhận xem. Vung đôi kim đan, đảo mắt nhìn quanh, ra phía ngoài cửa sổ, vào trong phòng, vào chính thằng James, bà làm cho ông an tâm, không hề có mảy may nghi ngờ nào hết, bằng tiếng cười của bà, tư thế của bà, năng lực của bà (như một người bảo mẫu mang một cây đèn băng qua căn phòng tối để giúp một đứa bé cứng cổ thấy an tâm), rằng thật sự là như vậy; ngôi nhà đầy đủ các thứ; khu vườn đang nở rộ hoa. Nếu ông đặt trọn vẹn niềm tin vào bà, không gì làm ông thương tổn được; bất kể ông tự vùi lấp mình sâu đến thế nào hay trèo cao tới đâu, ông sẽ không bao giờ phát hiện ra không có bà bên cạnh. Kiêu hãnh đến vậy về khả năng bao bọc và bảo vệ của bà, hầu như bản thân bà không còn lớp vỏ bọc nào để biết về chính bản thân mình; tất cả đều quá hoang toàng phung phí; và James, khi đứng cứng người giữa hai đầu gối của bà, cảm thấy bà đang vươn lên thành một thân cây ăn quả nở rộ những bông hoa màu hồng với những chiếc lá và nhánh cây nhảy múa mà cái vòi ấm đồng, thanh đao khô cằn của cha nó, người đàn ông tự cao tự đại, đang cắm vào, đập mạnh vào đó, để đòi hỏi sự cảm thông.
Phủ phê với những lời nói của bà, như một đứa bé bỏ đi lòng đầy mãn nguyện, cuối cùng ông nói, nhìn bà với vẻ nhún nhường biết ơn, tỏ ra đã khôi phục, đổi mới chính mình, rằng ông sẽ đi một vòng; ông sẽ xem lũ trẻ chơi crikê. Ông đi.
Ngay lập tức, dường như bà Ramsay tự xếp bản thân mình lại, cánh hoa này ép vào cánh khác, và toàn bộ kết cấu đó kiệt lực rũ xuống chính bản thân nó, khiến bà chỉ còn đủ sức cử động ngón tay lướt qua trang sách truyện cổ Grim, trong khi trạng thái say mê của sáng tạo thành công lan tỏa suốt người bà, như mạch đập của một con suối đã mở rộng hết bề ngang của nó và giờ đây dịu dàng ngưng nhịp vỗ.
Khi ông ấy đã đi khỏi, mỗi nhịp đập của mạch tim này dường như bao gồm cả bà lẫn chồng bà, và mang đến cho mỗi người niềm an ủi mà hai nốt nhạc khác nhau, một cao, một thấp, khi hòa trộn vào nhau dường như cũng trao tặng cho nhau khi chúng kết hợp lại. Thế nhưng khi âm hưởng này đã lặng đi, và bà đã quay trở lại cuốn truyện cổ, bà Ramsay cảm thấy không chỉ sự kiệt sức (bà luôn cảm thấy điều này sau đó, chứ không phải ngay lúc đó) mà còn có một cảm giác khó chịu mơ hồ nào đó với một căn nguyên khác tác động lên sự mệt nhoài thể chất của bà. Bà không biết đích xác nó xuất phát từ cái gì, khi đang đọc to câu chuyện Vợ chồng người ngư phủ; vào lúc đang lật sang trang mới, dừng lại và nghe thấy một đợt sóng vỗ mơ hồ, đầy điềm gỡ, bà cũng không cho phép mình thốt thành lời sự bất mãn của mình khi nhận ra nó đã đến như thế nào từ điều này: bà không thích, thậm chí dù chỉ trong một giây, cảm thấy mình tốt hơn chồng mình; và hơn thế nữa, bà không thể chịu nổi việc không hoàn toàn chắc chắn, khi bà nói với ông về sự thật của điều bà nói. Những trường đại học và mọi người cần tới ông ấy, những bài giảng, những cuốn sách và tầm quan trọng tối cao của chúng – bà không ngờ vực phút giây nào về điều đó; nhưng chính mối quan hệ của họ, và việc ông tới với bà như thế, một cách công khai, khiến bất cứ một ai cũng có thể nhìn thấy, điều đó khiến cho bà lo ngại. vì khi đó mọi người sẽ bảo ông ấy phụ thuộc vào bà, khi họ phải biết rằng trong hai người ông hoàn toàn là người quan trọng hơn, và những gì bà cho thế giới, so với những gì ông cho đi, là không đáng kể. Nhưng lại còn một điều khác nữa – việc không thể nói với ông ấy sự thật vì e ngại, chẳng hạn, về mái của cái nhà kính và chi phí của nó, có lẽ phải tốn năm mươi bảng để sửa chữa nó; rồi về những cuốn sách của ông ấy, sợ rằng ông ấy có thể đoán ra, điều này bà khá nghi ngờ, rằng cuốn sách mới nhất của ông ấy không hoàn toàn là cuốn hay nhất (bà thu lượm được điều đó từ William Bankes); rồi việc phải che giấu những chuyện nhỏ nhặt hàng ngày, bọn trẻ thấy điều này, và gánh nặng đó đè lên chúng – tất cả những điều này đã làm giảm bớt niềm vui trọn vẹn, nỗi hân hoan thuần khiết, của hai nốt nhạc cùng vang lên một lúc, và khiến cho bây giờ âm thanh đó chết lịm trong tai bà với một quãng lặng ảm đạm.
Một bóng người đổ ập lên trang giấy; bà ngẩng lên. Augustus Carmichael đang lê bước ngang qua, chính xác ngay lúc này, ngay cái thời khắc khi quá đau lòng để được nhắc nhở về sự không tương thích của những mối quan hệ giữa con người, rằng mối quan hệ hoàn hảo nhất cũng có khiếm khuyết, và không thể chịu đựng nổi sự thẩm tra mà bà thù ghét, với tình yêu dành cho chồng và với bản năng đối với chân lý của bà; khi quá đau lòng để cảm thấy bản thân bị kết án là vô giá trị, và bị những sự dối trá, những sự cường điệu này cản trở việc thực hiện những chức năng chính đáng của bà – ngay lúc này, khi mà bà cảm thấy nhục nhã như vậy sau khi được tán dương, ông Carmichael lại lê bước ngang qua, chân mang đôi dép lê màu vàng, và một con quỷ nào đó trong bà khiến bà thấy cần phải cất tiếng chào ông ta.
“Vào trong nhà hở, ông Carmichael?”
8.
Ông ta chẳng nói lời nào. Ông ta đi lấy thuốc phiện. Lũ trẻ nói ông ta đã nhuộm vàng bộ râu với nó. Có lẽ thế. Điều hiển nhiên với bà là ông lão khốn khổ này không hạnh phúc, đến với họ hàng năm như để chạy trốn; thế nhưng mỗi năm bà lại cảm thấy y như cũ: ông ta không tin bà. Bà nói, “Tôi sẽ vào thị trấn. Tôi kiếm cho ông ít tem, giấy hay thuốc lá nhé?” và cảm thấy ông ta nhăn mặt. Ông ta không tin bà. Đó là do vợ ông ta. Bà nhớ tới tội lỗi của người vợ đối với ông ta, điều khiến cho bà biến thành sắt đá ở đó, trong cái căn phòng nhỏ kinh khủng ở St. John’s Wood, khi bà tận mắt chứng kiến người đàn bà kinh tởm đó tống cổ ông ta ra khỏi nhà. Ông ta ăn mặc lôi thôi lếch thếch; ông ta đánh đổ mọi thứ lên áo khoác; ông ta có cái vẻ mệt nhọc của một ông già chẳng có việc gì trên đời để làm cả; và bà ta đã tống ông ta khỏi căn phòng. Bà ta nói, với cái kiểu cách đáng ghét của mình, “Bây giờ, bà Ramsay và tôi muốn trò chuyện với nhau một chút,” và bà Ramsay có thể nhìn thấy, như thể đang trước mặt mình, vô số những bất hạnh của cuộc đời ông ta. Ông ta có đủ tiền mua thuốc lá hay không? Ông ta có phải hỏi xin bà ta? nửa đồng crown? mười tám xu? Ôi chao, bà không thể không nghĩ tới những sỉ nhục nho nhỏ mà bà ta trút lên đầu ông ta. Và bây giờ ông ta né tránh bà (vì sao thì bà không thể đoán ra, ngoại trừ rằng theo cách nào đó có thể nó xuất phát từ người đàn bà đó). Ông ta không bao giờ nói gì với bà. Nhưng bà có thể làm gì hơn? Có một căn phòng sáng sủa dành cho ông ta. Lũ trẻ đối xử tốt với ông ta. Bà chưa bao giờ tỏ ra một dấu hiệu nào rằng không muốn ông ta tới. Thật sự bà đã vượt khỏi cung cách ứng xử của mình để tỏ ra thân thiện với ông ta. Ông có cần tem không, có cần thuốc lá không?
(còn tiếp)
Nguồn: Tới ngọn hải đăng. Tiểu thuyết của Virginia Woolf. Nguyễn Thành Nhân dịch từ nguyên tác tiếng Anh To the Lighthouse.
Dịch giả gửi www.trieuxuan.info
|