Jasper đưa cho bà một cái vòng cổ bằng ngọc mắt mèo; Rose thì chiếc vòng cổ bằng vàng. Thứ nào trông đẹp nhất trên chiếc váy đen của bà nhỉ? Thật ra tấm gương sẽ nói lên điều đó, ông Ramsay nói một cách lơ đãng, nhìn vào vai và cổ của bà (nhưng tránh nhìn vào mặt bà). Thế rồi, trong lúc lũ trẻ lục lọi trong số các thứ đồ trang sức của bà, bà nhìn ra cửa sổ vào một cảnh tượng luôn khiến cho bà thích thú – những con quạ đang cố gắng quyết định sẽ đậu xuống cây nào. Cứ mỗi lần như thế, dường như chúng lại đổi ý và bay lên không trung trở lại, bởi vì, bà nghĩ, con quạ già, con quạ bố, Joseph già, cái tên mà bà đặt cho nó, là một con chim có tâm tính rất khó khăn và gắt gỏng. Nó là một con quạ già có thành tích bất hảo, với bộ lông cánh đã mất hết phân nửa. Nó giống như một quý ông lớn tuổi xác xơ với một cái mũ chóp cao mà bà từng trông thấy đang thổi kèn co trước một tiệm rượu.
“Nhìn kia,” bà nói, cười lớn tiếng. Chúng đang đánh nhau thật sự. Joseph và Mary đang đánh nhau. Dù sao thì chúng cũng bay trở lên, bầu không trung trở nên náo động bởi những đôi cánh đen và bị cắt thành những hình thanh đao tinh tế.
Chuyển động của những đôi cánh bung ra, bung ra, bung ra – bà không bao giờ có thể mô tả chính xác nổi điều này để làm hài lòng bản thân mình – là một trong những thứ đáng yêu nhất đối với bà. Vừa nhìn vào đó, bà vừa nói với Rose, hy vọng nó có thể nhìn thấy rõ hơn bà. Vì lũ con cái thường hay thúc đẩy những nhận thức của người ta đi xa hơn.
Nhưng sẽ là món nào đây? Chúng đã mở bung tất cả những hộp đựng nữ trang của bà. Chiếc vòng vàng của Ý, hay là chiếc vòng ngọc mắt mèo mà cậu James đã mang về từ Ấn Độ cho bà; hay bà nên đeo chiếc vòng thạch anh tím?
“Chọn đi, các con cưng, chọn đi,” bà nói, hy vọng chúng sẽ vội vàng lên.
Nhưng bà phải cho chúng thời gian để chọn lựa: đặc biệt, bà để cho Rose nhấc hết món này tới món kia lên, và ướm các thứ nữ trang lên chiếc váy đen, vì cái nghi lễ chọn nữ trang bé nhỏ này, vốn phải được cử hành hàng đêm, là việc mà Rose thích nhất, bà biết. Bà có một lý do thầm kín của chính mình đối với việc gán một ý nghĩa quan trọng cho việc chọn món nữ trang mà mẹ bà sẽ đeo. Lý do đó là gì, bà Ramsay tự hỏi, vẫn đứng yên để nó cài chiếc vòng cổ mà nó đã chọn, bà trực cảm, thông qua quá khứ của chính mình, một cảm giác sâu thẳm, chôn giấu, hoàn toàn không thể diễn đạt bằng lời mà một đứa bé ở tuổi của Rose có đối với mẹ nó. Giống như tất cả những cảm giác cảm nhận về chính mình, bà Ramsay nghĩ, nó khiến cho người ta buồn bã. Thứ mà người ta có thể đáp lại thật vô cùng không tương xứng; và điều mà Rose cảm nhận hoàn toàn không thể sánh với bất kỳ cái gì mà nó thật sự là. Và Rose sẽ trưởng thành; và Rose sẽ khổ đau, bà cho là thế, với những cảm giác sâu sắc này, và bà bảo rằng bây giờ bà đã sẵn sàng, họ sẽ đi xuống dưới, vì Jasper là một quý ông, nó nên khuỳnh cánh tay ra cho bà, còn Rose, vì là một tiểu thư, nên mang theo chiếc khăn tay của nó (bà trao cho nó chiếc khăn tay), còn gì khác không nhỉ? ồ, phải, trời có thể lạnh: một tấm khăn choàng. Chọn cho mẹ một tấm khăn choàng, bà nói, vì điều đó sẽ làm hài lòng Rose, người sẽ gánh chịu khổ đau. “Kìa,” bà nói, dừng lại cạnh khung cửa sổ trên đầu cầu thang, “chúng lại trở về chỗ đó rồi.” Joseph đã đậu trên một ngọn cây khác. “Con nghĩ xem chúng có quan tâm tới việc cánh của chúng bị gẫy không?” bà nói với Jasper. Tại sao nó lại bắn con quạ già Joseph và Mary tội nghiệp? Nó hơi lê chân một chút trên những bậc thang, và cảm thấy bị quở trách, nhưng không nghiêm trọng lắm, vì bà không hiểu niềm vui của việc bắn chim; và lũ chim cũng không cảm thấy; và vì là mẹ nó, bà sống xa cách ở một bờ cõi khác của thế gian, nhưng nó rất thích những câu chuyện của bà về Mary và Joseph. Bà làm cho nó cười vui. Nhưng làm thế nào bà biết được những con chim đó là Mary và Joseph? Bà có nghĩ là những con chim đó sẽ đậu ở cùng những ngọn cây vào mỗi đêm? nó hỏi. Nhưng tới đây, đột nhiên, như mọi người lớn khác, bà thôi không chú ý tới nó chút nào nữa. Bà đang lắng nghe tiếng lách cách trong sảnh lớn.
“Chúng đã quay về!” bà kêu lên, và ngay lập tức bà cảm thấy thêm bực bội chúng chứ không hề thấy nhẹ nhõm. Rồi bà tự hỏi, chuyện đó có xảy ra hay không? Bà sẽ đi xuống và chúng sẽ trả lời – nhưng không. Chúng không thể nói với bà bất cứ điều gì khi có tất cả mọi người ở xung quanh. Vì thế bà phải đi xuống và bắt đầu bữa tiệc và chờ đợi. Và, giống như một nữ hoàng, nhận thấy thần dân của mình đã tập trung trong sảnh, nhìn xuống họ, cúi xuống họ, lặng lẽ ghi nhận lòng thành kính của họ, chấp nhận sự tôn kính và tận tụy của họ (Paul không nhúc nhích một cơ bắp nào mà chỉ nhìn thẳng về phía trước khi bà đi ngang qua); bà đi xuống và băng ngang qua sảnh, hơi nhẹ cúi đầu chào, như thể bà chấp nhận điều mà họ không thể nói: sự tôn kính đối với vẻ đẹp của bà.
Nhưng bà dừng lại. Có một mùi khen khét. Có khi nào họ đã nấu quá lửa món thịt bò hầm? bà tự hỏi, cầu trời là không! Khi tiếng cồng lanh lảnh thông báo một cách nghiêm trang, đầy thẩm quyền rằng tất cả những ai đang rải rác quanh nhà, trong những tầng gác mái, trong những phòng ngủ, trong những chốn trú ngụ bé nhỏ của riêng họ, đang đọc, đang viết, đang vuốt mượt lần cuối mái tóc của mình, hay đang thắt dây những chiếc váy, phải rời bỏ tất cả những việc đó cùng những thứ đồ lặt vặt trên những bàn rửa chén, những bàn trang điểm, và những cuốn tiểu thuyết trên những bàn đầu giường ngủ, và những cuốn nhật ký rất riêng tư, để tụ họp lại tại phòng khách cho bữa ăn tối.
17.
Nhưng mình đã làm gì với cuộc đời mình? Bà Ramsay nghĩ, ngồi vào chỗ của mình ở đầu bàn, và nhìn lướt qua tất cả những chiếc đĩa tạo thành những vòng tròn màu trắng trên bàn. “William, ngồi cạnh tôi,” bà nói. “Lily, bà nói, một cách mệt nhọc, “ở đàng kia.” Họ có thứ đó – Paul Rayley và Minta – còn bà, chỉ có thứ này – một cái bàn dài vô tận và những đĩa, những dao ăn. Ở đầu kia bàn là chồng bà, đang ngồi xuống, thừ người ra, trán cau lại. Vì cái gì? Bà không biết. Bà không quan tâm. Bà không thể hiểu làm thế nào bà lại từng cảm thấy một tình cảm hay sự yêu mến nào đối với ông. Bà có một cảm giác về việc lướt qua mọi thứ, đi xuyên qua mọi thứ, vượt ra khỏi mọi thứ, khi bà giúp phục vụ món xúp, như thể có một xoáy nước – ở đó – và người ta có thể ở bên trong nó, hoặc có thể ở phía ngoài nó, và bà đang ở bên ngoài nó. Tất cả đang đi tới một kết thúc, bà nghĩ, trong khi họ nối nhau bước vào, Charles Tansley – “xin mời ngồi ở kia,” bà nói – Augustus Carmichael – và ngồi xuống. Và trong lúc đó bà chờ đợi, một cách thụ động, sẽ có một ai đó trả lời bà, sẽ có một điều gì đó sắp xảy ra. Nhưng việc múc xúp ra dĩa không phải là thứ chuyện mà người ta nói, bà nghĩ.
Nhướng mày nhìn vào sự khác biệt – đó là điều mà bà đang suy nghĩ, múc xúp ra dĩa – đây là điều mà bà đang thực hiện; bà cảm thấy, ngày càng mạnh mẽ hơn, mình ở phía ngoài cái xoáy nước đó; hoặc như thể một bóng tối đã buông xuống, và màu sắc đã bị tước mất, bà nhìn mọi sự vật một cách đích thực. Căn phòng (bà nhìn quanh nó) rất tồi tàn. Chẳng có vẻ đẹp nào ở bất kỳ chỗ nào. Bà nhìn Tansley. Dường như chẳng có gì là hòa hợp. tất cả bọn họ ngồi cách biệt nhau. Và toàn bộ nỗ lực để hợp nhất, lưu thông và sáng tạo đều đặt lên bà. Một lần nữa bà cảm thấy, như là một thực tế chứ không có chút thù địch nào, sự cằn cỗi vô dụng của những người đàn ông, vì nếu bà không làm điều đó thì chẳng có ai làm cả, và thế là, bà tự lắc khẽ chính mình như một người lắc khẽ một chiếc đồng hồ đã dừng chạy, cái nhịp cũ kỹ quen thuộc bắt đầu đập, như chiếc đồng hồ bắt đầu kêu tích tắc – một, hai, ba, một, hai, ba. Và cứ thế, và cứ thế, bà lặp lại, lắng nghe nó, che chở và nuôi dưỡng cái nhịp đập mong manh lặng lẽ đó như người ta che chở một ngọn lửa yếu ớt bằng một tờ nhật báo. Và thế đấy, bà kết luận, tỏ ra chú tâm bằng cách lặng lẽ nghiêng người về phía William Bankes – con người tội nghiệp! kẻ không vợ không con và ăn tối một mình trong những căn nhà trọ ngoại trừ tối hôm nay; và trong niềm thương xót dành cho ông ta, bản chất cuộc sống giờ đây đủ mạnh mẽ để gánh vác bà lần nữa, bà khởi đầu tất cả mọi việc này, như một thủy thủ, không phải là không mệt mỏi, nhìn cơn gió căng lộng cánh buồm của anh ta, nhưng hầu như vẫn mong muốn được ra khơi lần nữa và nghĩ tới việc nếu con tàu bị đắm, anh ta sẽ bị cuốn tròn, cuốn tròn mãi và được tìm thấy nằm nghỉ ngơi trên đáy biển như thế nào.
“Ông có tìm thấy mấy lá thư của mình không? Tôi đã bảo lũ trẻ đặt chúng trong sảnh cho ông,” bà nói với William Bankes.
Lily Briscoe quan sát bà trôi giạt vào vùng đất lạ không người nơi mà việc dõi theo mọi người là bất khả thế nhưng người ta vẫn tiếp tục trút một gáo nước lạnh vào những người đang quan sát họ rằng ít nhất họ luôn cố gắng dõi mắt theo những người đó như thể một người dõi theo một con tàu đang nhòa dần cho tới khi những cánh buồm đã chìm xuống dưới chân trời.
Trông bà già nua làm sao, trông bà tiều tụy làm sao, và xa vắng làm sao, Lily nghĩ. Rồi khi bà quay sang William Bankes, mỉm cười, trông như thể con tàu đã quay trở lại và vầng dương lại thắp sáng những cánh buồm, và Lily nghĩ với một niềm thích thú vì bà đã bớt căng thẳng, Vì sao bà lại thương hại ông ta? Vì đó chính là ấn tượng mà bà tạo nên, khi bà nói với ông ta rằng những lá thư của ông ta đã được mang vào sảnh. William Bankes khốn khổ, như thể bà đang nói, như thể sự mệt nhọc của chính bà phần nào đó là do sự thương hại mọi người, và sự sống trong bà, sự quyết tâm sống trở lại của bà, đã bị khuấy động lên bởi lòng thương hại. Và điều này không đúng, Lily nghĩ; đó là một trong những phán đoán sai lầm của bà, nó dường như mang tính bản năng và phát sinh từ một nhu cầu nào đó của chính bà hơn là của những người khác. Ông ta chẳng đáng thương chút nào hết. Ông ta có công việc của mình, Lily tự nhủ. Đột nhiên cô nhớ ra, như thể vừa tìm ra một kho báu, rằng cô cũng có công việc của mình. Trong một khoảnh khắc nhanh như chớp cô nhìn thấy bức tranh của mình, và nghĩ bụng, Phải, mình sẽ đặt cái cây ra xa hơn về phía chính giữa; khi đó mình sẽ tránh được khoảng trống vụng về đó. Đó chính là điều mình sẽ làm. Đó chính là cái đã khiến cho mình lúng túng. Cô nhấc lọ muối lên rồi đặt nó xuống lại trên một hình mẫu bông hoa trên tấm khăn trải bàn, như để tự nhắc nhở mình về việc dời chỗ cái cây.
“Thật kỳ lạ khi người ta hiếm khi nhận được thứ gì đáng giá từ bưu điện, thế nhưng người ta luôn mong muốn nhận được những lá thư,” ông Bankes nói.
Họ nói toàn chuyện vớ vẩn, Charles Tansley nghĩ, đặt muỗng vào ngay giữa cái dĩa đã hết sạch thức ăn của mình, như thể, Lily nghĩ (anh ta ngồi đối diện với cô và quay lưng về phía cửa sổ, đúng ngay chính giữa tầm nhìn), anh ta muốn chắc chắn về bữa ăn của mình. Mọi thứ quanh anh ta đều có cái vẻ ổn định đạm bạc đó, cái vẻ vô duyên trần trụi đó. Nhưng dù sao đi nữa, thực tế này vẫn tồn tại, rằng người ta không thể ghét bỏ bất kỳ một người nào nếu nhìn họ. Cô thích đôi mắt của anh ta; chúng có màu xanh biển, sâu thẳm, đáng sợ.
“Anh viết nhiều thư không, anh Tansley?” bà Ramsay hỏi, tỏ vẻ thương hại cả anh ta nữa, Lily cho là vậy; vì với bà Ramsay thì đúng là như thế - bà luôn thương hại lũ đàn ông như thể họ thiếu một thứ gì đó – còn đối với bọn đàn bà thì không bao giờ, như thể họ có một thứ gì đó. Anh đã viết cho mẹ anh; ngoài ra anh không nghĩ rằng anh sẽ viết mỗi tháng một lá thư, Tansley nói ngắn gọn.
Vì anh sẽ không nói thứ chuyện vớ vẩn mang tính chiếu cố của những người đàn bà ngốc nghếch này. Anh vừa đọc sách trong phòng mình, giờ anh xuống đây và dường như đối với anh tất cả những chuyện này đều ngốc nghếch, giả tạo, nông cạn. Vì sao họ phải mặc lễ phục? Anh chỉ xuống đây trong bộ quần áo bình thường của mình. Anh chẳng có một bộ đồ vía nào cả. “Người ta không bao giờ nhận được thứ gì đáng giá từ bưu điện” – đó là thứ chuyện mà họ luôn nói tới. Họ khiến cho những người đàn ông phải nói thứ chuyện đó. Phải, đúng là như thế, anh nghĩ. Họ không bao giờ nhận được thứ gì đáng giá từ năm này sang năm khác. Họ chẳng làm gì ngoài việc nói, nói, nói, ăn, ăn, ăn. Đó là điểm khiếm khuyết của những người đàn bà. Những người đàn bà làm cho nền văn minh trở nên bất khả thi với tất cả những vẻ “yêu kiều” của họ, tất cả những điều ngốc nghếch của họ.
“Ngày mai sẽ không đi ra ngọn hải đăng được đâu, bà Ramsay,” anh nói, tự khẳng định bản thân. Anh thích bà; anh ngưỡng mộ bà; anh vẫn hay nghĩ tới người đàn ông đứng trong rãnh nước đã ngẩng lên nhìn bà; nhưng anh cảm thấy cần phải khẳng định bản thân.
Anh ta nói thật, Lily Briscoe nghĩ, bất kể đôi mắt của anh ta, nhưng rồi khi nhìn vào chiếc mũi của anh ta, đôi bàn tay của anh ta, cô thấy đây là con người ít quyến rũ nhất mà cô từng gặp. Vậy thì vì sao cô phải quan tâm tới những gì anh ta nói? Đàn bà không thể viết, đàn bà không thể vẽ – những gì xuất phát từ anh ta có gì là quan trọng, vì rõ ràng điều đó là không đúng đối với anh ta nhưng vì một nguyên nhân nào đó lại có lợi cho anh ta, và đó chính là lý do vì sao anh ta nói thế? Vì sao toàn bộ con người cô đã ngã rạp xuống, như một ngọn bắp dưới một cơn gió, và chỉ có thể vươn thẳng trở lại từ nỗi ô nhục này với một nỗ lực lớn lao và khá là đau đớn? Cô phải thực hiện nó thêm một lần nữa. Có cái chồi cây trên tấm khăn trải bàn; Có bức tranh của mình; Mình phải dời cái cây vào giữa; đó là điều quan trọng – không điều gì khác nữa. Cô có thể không thực hiện ngay điều đó mà không nôn nóng và không gây gỗ hay không, cô tự hỏi; và cô có muốn trả thù bằng cách chế nhạo anh ta hay không?
“Ồ, anh Tansley,” cô nói, “hãy đưa tôi ra ngọn hải đăng với anh nhé. Tôi thích như thế.”
Anh có thể thấy cô ta đang nói dối. Cô ta đang nói một điều không nằm trong ý định của mình để chọc tức anh, vì một lý do nào đó. Cô ta đang chế nhạo anh. Anh mặc cái quần vải flannel cũ của mình. Anh chẳng có cái nào khác. Anh cảm thấy mình rất thô lỗ, đơn độc, lẻ loi. Anh biết rằng cô ta đang chế nhạo anh vì một lý do nào đó; cô ta không hề muốn đi ra ngọn hải đăng với anh; cô ta coi thường anh; Prue Ramsay cũng vậy; tất cả bọn họ cũng vậy. Nhưng anh sẽ không bị biến thành một gã ngốc bởi những mụ đàn bà, vì thế anh cố tình xoay cái ghế, nhìn ra phía cửa sổ và nói, một cách giật cục, rất thô lỗ, ngày mai sẽ rất gian nan cho cô ta. Cô ta sẽ bị ốm.
Điều khiến anh bực tức là cô ta đã buộc anh phải nói như thế, với sự lắng nghe của bà Ramsay. Giá mà anh có thể yên thân một mình làm việc trong căn phòng của mình, giữa những cuốn sách, anh nghĩ thầm. Đó là nơi mà anh thấy thoải mái nhất. Và anh chưa bao giờ vay nợ một xu nào; anh chưa hề làm cho cha anh phải tốn xu nào từ năm mười lăm tuổi; anh đã trợ giúp những người nhà từ tiền dành dụm của mình; anh đã tự dạy em gái anh học. Tuy nhiên, anh ước giá mà mình biết cách trả lời Lily một cách đúng mực; anh ước giá mà mình không thốt ra câu đó một cách giật cục như thế. “Cô sẽ bị ốm.” Anh ước gì mình có thể nghĩ ra một điều gì đó để nói với bà Ramsay, một điều gì đó có thể chỉ ra cho bà thấy rằng anh không chỉ là một nhánh cây khô. Đó là điều mà tất cả bọn họ nghĩ về anh. Anh quay về phía bà. Nhưng bà Ramsay đang nói chuyện với William Bankes về những người mà anh chưa bao giờ nghe nói tới.
“Vâng, hãy dẹp thứ này đi,” bà nói vắn tắt, cắt ngang điều mà bà đang nói với William Bankes để nói với người hầu gái. “Lần cuối tôi gặp bà ấy hẳn phái cách nay đến mười lăm, hai mươi năm,” bà nói, quay trở lại phía ông như thể bà không thể đánh mất một giây phút nào trong cuộc chuyện trò giữa họ, vì bà đang đắm chìm vào những điều họ đang nói. Thế là đêm nay ông ấy đã thật sự nghe thấy từ bà! Và Carrie có còn sống ở Marlow không, mọi thứ có còn như cũ hay không? Ôi, bà có thể nhớ mọi chuyện như thể nó vừa xảy ra hôm qua – đi trên bờ sông, cảm thấy rất lạnh. Nhưng nếu gia đình Manning đã lên một kế hoạch thì họ sẽ thực hiện tới cùng. Bà không bao giờ quên việc Herbert giết một con tò vò bằng một cái muỗng cà phê trên bờ sông! Và nó vẫn tiếp diễn, bà Ramsay trầm tư, lướt qua như một bóng ma giữa những bàn ghế của căn phòng khách trên bờ sông Thames đó, nơi cách đây hai mươi năm bà đã cảm thấy rất lạnh; nhưng giờ thì bà đi giữa chúng như một bóng ma; và nó mê hoặc bà, như thể, trong khi bà đã thay đổi, cái ngày cụ thể ấy, giờ đây trở nên rất tĩnh lặng và xinh đẹp, vẫn còn ở đó, trong suốt bao nhiêu năm qua. Carrie có viết thư cho ông không? bà hỏi.
“Có. Bà ấy bảo họ đang xây một phòng chơi bi-a mới,” ông nói. Không! Không! Điều đó nằm ngoài vấn đề! Xây một phòng bi-a mới! Với bà, dường như chuyện đó không thể xảy ra.
Ông Bankes không thể hiểu có gì khác thường về điều đó. Giờ đây họ đã ở rất xa. Ông có nên trao tình yêu của bà ấy cho Carrie không?
“Ồ,” bà Ramsay nói với một cái giật mình khe khẽ, “Không,” bà nói thêm, ngẫm lại rằng bà đâu có biết bà Carrie, người đã xây một phòng bi-a mới. Nhưng lạ lùng biết bao, bà lặp lại, với sự thích thú của ông Bankes, nếu như họ vẫn tiếp tục ở đó một cách lặng lẽ. Vì thật là khác thường nếu nghĩ rằng họ có thể tiếp tục sống suốt bao nhiêu năm qua khi bà không hề nghĩ tới họ hơn một lần suốt quãng thời gian đó. Cuộc đời của chính bà đã có biết bao sự kiện trong cùng những năm tháng đó. Thế nhưng có lẽ Carrie Wanning cũng không nghĩ tới bà. Ý nghĩ này thật lạ lùng và khó chịu.
“Chẳng bao lâu mọi người đều tứ tán mỗi kẻ một phương,” ông Bankes nói, tuy nhiên ông lại cảm thấy hài lòng khi nghĩ rằng nói cho cùng ông biết cả gia đình Manning lẫn gia đình Ramsay. Ông không hề trôi giạt, ông nghĩ, đặt cái muỗng xuống và chùi đôi môi đã cạo sạch râu một cách kỹ lưỡng. Nhưng có lẽ ông khá khác thường về điều này, ông nghĩ; ông chưa bao giờ cho phép bản thân rơi vào một nếp sống mòn. Ông có bạn bè trong mọi giới… tới đây bà Ramsay phá vỡ suy nghĩ của ông khi nói với người hầu gái một đôi câu về việc giữ nóng thức ăn. Đó là lý do vì sao ông thích ăn tối một mình hơn. Tất cả những vụ cắt ngang này làm ông thấy bực mình. Thôi được, William Bankes nghĩ, vẫn duy trì thái độ cực kỳ lịch sự và chỉ duỗi những ngón tay trái của mình ra trên tấm khăn trải bàn như một người thợ máy kiểm tra một món dụng cụ đã được lau chùi bóng loáng và sẵn sàng cho việc sử dụng trong lúc rảnh rỗi, những thái độ như thế là những sự hy sinh mà bạn hữu của một người đòi hỏi ở anh ta. Nếu ông khước từ không tới, ông sẽ làm tổn thương bà ấy. Nhưng việc này không đáng để ông phải bỏ công. Vừa nhìn bàn tay mình, ông vừa nghĩ rằng giá như ông ăn tối một mình, lúc này mọi chuyện đã xong xuôi; ông sẽ được tự do để làm việc. Phải, ông nghĩ, đây đúng là một sự lãng phí thời gian khủng khiếp. Lũ trẻ đang lặng thinh. “Mẹ ước gì một đứa trong số các con sẽ chạy lên phòng của Roger,” bà Ramsay đang nói. Tất cả những chuyện này thật là vặt vãnh, tất cả những chuyện này thật đáng chán, ông nghĩ, so sánh với một thứ khác – công việc. Ông phải ngồi ở đây gõ những ngón tay lên tấm khăn trải bàn khi lẽ ra ông đã có thể – ông điểm lại công việc của mình với cái nhìn trong chớp mắt của một con chim. Chắc chắn là tất cả những thứ này thật lãng phí thời gian! Phải, ông nghĩ, bà ấy là một trong những người bạn lâu năm nhất của mình. Mình đang dành thời gian cho bà ấy. Thế nhưng giờ đây, vào khoảnh khắc này, sự hiện diện của bà ấy đối với ông tuyệt đối không là gì cả: vẻ đẹp của bà ấy chẳng có ý nghĩa gì đối với ông; việc bà ngồi với đứa con trai bé bỏng ở chỗ cửa sổ – chẳng có ý nghĩa gì, chẳng có ý nghĩa gì. Ông chỉ ao ước được ở một mình và cầm cuốn sách đó lên. Ông cảm thấy khó chịu; ông cảm thấy mình phụ bạc khi ngồi bên cạnh bà ấy mà chẳng có cảm giác gì đối với bà ấy. Sự thật là ông không thích cuộc sống gia đình. Chính trong trạng thái này mà người ta phải tự hỏi mình, Người ta sống là vì cái gì? Vì sao, người ta tự hỏi mình, người ta lại phải gánh chịu mọi đau thương này để dòng giống loài người tiếp diễn? Điều đó có rất đáng ao ước hay không? Chúng ta có hấp dẫn không với tư cách là một loài? Không hấp dẫn cho lắm, ông nghĩ, nhìn vào những đứa con trai khá lôi thôi. Cam, con bé ông ưa thích nhất đã đi ngủ, ông cho là thế. Những câu hỏi ngốc nghếch, những câu hỏi rỗng tuếch, những câu hỏi mà người ta không bao giờ đưa ra nếu người ta đang bận tâm suy nghĩ. Đây có phải là cuộc sống của con người? Kia có phải là cuộc sống của con người? Người ta chẳng bao giờ có thời gian để suy nghĩ về nó. Nhưng ông đang ngồi đây tự hỏi mình cái loại câu hỏi đó, vì bà Ramsay đang đưa ra những chỉ thị cho những người giúp việc, và cũng vì ông thấy bị sốc khi nghĩ rằng bà Ramsay đã ngạc nhiên đến mức nào về việc Carrie Manning vẫn còn tồn tại, rằng những tình bằng hữu, ngay cả những tình bạn chí thân nhất, cũng chỉ là những điều mong manh tạm bợ. Người ta trôi giạt cách xa. Ông lại tự khiển trách mình. Ông đang ngồi cạnh bà Ramsay và ông chẳng có thứ quái gì trên đời để nói với bà ấy.
(còn tiếp)
Nguồn: Tới ngọn hải đăng. Tiểu thuyết của Virginia Woolf. Nguyễn Thành Nhân dịch từ nguyên tác tiếng Anh To the Lighthouse.
Dịch giả gửi www.trieuxuan.info |