tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Tiểu thuyết
14.12.2009
Virginia Woolf
Tới ngọn hải đăng

“Họ đã đính hôn,” bà nói, bắt đầu đan, “Paul và Minta.”


“Tôi cũng đoán thế,” ông nói. Không có gì nhiều để nói về chuyện đó. Tâm trí ông vẫn đang di động lên xuống, lên rồi lại xuống với bài thơ; ông vẫn còn cảm thấy rất cường tráng, rất quả quyết, sau khi đọc về đám tang của Steenie. Vì thế họ ngồi im lặng. Rồi bà bắt đầu nhận thức rằng bà muốn ông nói một điều gì đó.


Bất cứ điều gì, bất cứ điều gì, bà nghĩ, tiếp tục đan. Bất cứ điều gì cũng tốt.


“Thật tuyệt biết bao khi lấy một người đàn ông có một cái túi da linh dương để đựng đồng hồ,” bà nói, vì đó là kiểu nói đùa mà họ đã có cùng nhau.


Ông khịt mũi. Ông cảm nhận về cuộc đính hôn này cũng giống như ông luôn cảm nhận về bất cứ một cuộc đính hôn nào; cô gái có vẻ tốt quá mức đối với chàng thanh niên đó. Dần dà, một ý nghĩ hiện ra trong đầu bà, vì sao người ta lại muốn mọi người lấy nhau? Giá trị, ý nghĩa của mọi sự là gì? (Mỗi từ họ nói bây giờ hẳn sẽ là đúng) Hãy nói một điều gì đó đi, bà nghĩ, chỉ mong nghe thấy giọng nói của ông ấy. Vì cái bóng đó, cái đang phủ kín lấy họ đã bắt đầu, bà cảm thấy, tiến tới gần quanh bà một lần nữa. Hãy nói bất cứ điều gì, bà khẩn khoản, nhìn ông ấy, như thể cầu xin giúp đỡ.


Ông im lặng, kéo tới kéo lui cái chốt trên sợi dây đồng hồ, nghĩ về những cuốn tiểu thuyết của Scott và của Balzac. Nhưng xuyên qua những bức vách hoàng hôn của sự thân mật của họ, vì họ đang nhích lại gần nhau, một cách bất giác, đến cạnh nhau, rất gần, bà có thể cảm thấy tâm trí của ông ấy như một bàn tay giơ lên che khuất đi tâm trí của bà; và bây giờ những ý nghĩ của bà đã chuyển sang trạng thái bồn chồn mà ông ấy không thích – “sự bi quan” như ông ấy gọi – dù ông ấy không nói gì, chỉ đưa tay lên trán, hất một lọn tóc lên, rồi để cho nó rơi xuống lại.


“Bà sẽ không hoàn thành được đôi tất đó trong đêm nay,” ông ấy nói, chỉ tay vào chiếc tất. Đó là điều mà bà mong muốn – sự nghiêm khắc trong giọng ông ấy như có ý quở trách bà. Nếu ông ấy nói rằng có thái độ bi quan là sai thì có lẽ nó sai, bà nghĩ; cuộc hôn nhân đó rốt cục sẽ ổn thỏa.


“Không,” bà đáp, trải chiếc tất ra trên đôi đầu gối của mình, “Tôi sẽ hoàn thành nó.”


Và rồi gì nữa? Vì bà cảm thấy rằng ông ấy vẫn đang nhìn bà, nhưng cái nhìn của ông đã biến đổi. Ông ấy muốn một điều gì đó – muốn cái điều mà bà luôn thấy khó mà cho ông ấy được; muốn bà nói rằng bà yêu ông ấy. Không, bà không thể thực hiện điều đó được. Ông ấy tìm ra cái để chuyện trò dễ dàng hơn bà nhiều. Ông ấy có thể nói về nhiều thứ – bà không bao giờ có thể. Vì thế, tự nhiên là ông ấy luôn luôn nói về mọi thứ, và rồi vì một nguyên do nào đó ông ấy chợt nhận ra điều này, và sẽ trách móc bà. Ông ấy gọi bà là một phụ nữ vô tâm; bà chẳng bao giờ nói với ông ấy rằng bà yêu ông ấy. Nhưng chuyện không phải như vậy – không phải như vậy. Chỉ là vì bà không bao giờ có thể nói điều mà bà cảm thấy. Có phải trên áo ông ấy không có một vụn bánh nào không? Có phải bà không thể làm điều gì cho ông ấy? Bà nhổm dậy, đứng bên cạnh cửa sổ với chiếc tất màu nâu đỏ trong tay, phần để quay mặt đi khỏi ông ấy, phần vì bà chợt nhớ ra biển về đêm thường đẹp thế nào. Nhưng bà biết rằng ông ấy cũng đã quay đầu lại khi bà quay đi; ông ấy đang ngắm nhìn bà. Bà biết rằng ông ấy đang nghĩ bụng, Em xinh đẹp hơn bao giờ hết. Và bà tự cảm thấy mình xinh đẹp. Em sẽ nói với tôi dù chỉ một lần rằng em yêu tôi chứ? Ông ấy đang nghĩ điều đó, vì ông ấy đã bị đánh thức, về những gì với Minta và với những cuốn sách của ông ấy, và vào cuối ngày họ đã cãi nhau về việc ra ngọn hải đăng. Nhưng bà không thể làm điều đó; bà không thể nói câu đó. Thế là, biết rằng ông ấy đang nhìn mình, thay vì nói bất cứ điều gì bà quay lại,  giơ món đồ đan lên, và nhìn ông. Và khi nhìn ông bà bắt đầu mỉm cười; vì dù bà không hề nói một lời nào, ông ấy biết, tất nhiên là ông ấy biết, rằng bà yêu ông ấy. Ông ấy không thể chối bỏ điều đó. Và bà mỉm cười nhìn ra phía ngoài cửa sổ và nói (vừa tự nhủ với mình, Không có gì trên đời có thể sánh với niềm hạnh phúc này) – “Vâng, ông nói đúng. Ngày mai trời sẽ ẩm ướt. Ông sẽ không đi được.” Và bà nhìn ông mỉm cười. Vì một lần nữa bà lại chiến thắng. Bà không nói ra điều đó: thế nhưng ông ấy biết.


 


 


 


 


 


 




 


 


THỜI GIAN QUA


1.


“Chà, chúng ta phải chờ xem tương lai ra sao,” ông Bankes nói, bước vào từ ngoài hiên.


“Trời tối quá không nhìn được,” Andrew nói, đi lên từ bãi biển.


“Hầu như không thể nói đâu là biển và đâu là đất liền nữa,” Prue nói.


“Chúng ta cứ để sáng đèn ở đó hở?” Lily hỏi khi họ cởi áo khoác ra ở bên trong nhà.


“Không,” Prue bảo, “nếu mọi người đều ở trong nhà.”


“Andrew,” cô gọi với, “cứ tắt đèn trong sảnh đi nhé.”


Những ngọn đèn dầu lần lượt bị thổi tắt đi, chỉ có ông Carmichael, do muốn nằm đọc Virgil[1] thêm một lúc, vẫn còn để sáng cây nến của mình.’


2.


Thế là với tất cả những ngọn đèn đã tắt mặt trăng chìm xuống, một cơn mưa nhỏ gõ nhịp trên mái nhà, và bóng tối mênh mang bắt đầu buông. Dường như không có gì có thể thoát khỏi cơn lũ bóng tối tràn trề đang luồn vào những lỗ khóa và khe hở, cuộn tròn những tấm mành che cửa sổ, tiến vào những căn phòng ngủ, nuốt chửng một cái chậu và cái bình chỗ này, một lọ hoa thược dược đỏ và vàng chỗ nọ, những cạnh sắc và hình khối vững chắc của một cái tủ ngăn chỗ kia. Không chỉ những đồ đạc biến đi; mà hầu như không còn lại một thân hình hay tâm trí nào để người ta có thể bảo, “Đây là anh ấy,” hay “Đây là cô ấy.” Thỉnh thoảng một bàn tay lại giơ lên như thể vớ lấy một vật gì đó, né tránh một vật gì đó, hoặc ai đó rên lên, cười to lên như đang chia sẻ một chuyện vui với khoảng hư vô.


Không có gì khuấy động trong phòng khách, phòng ăn hay trên cầu thang. Chỉ có những luồng không khí, bị tách khỏi cơn gió (nói cho cùng ngôi nhà đã cũ nát rồi) đang luồn qua những bản lề han rỉ và những thứ đồ gỗ, lượn quanh những góc nhà và thám thính những phòng ốc trong nhà.


Hầu như người ta có thể hình dung ra chúng khi chúng lướt vào phòng khách, hỏi han nhau và hỏi đùa với những miếng giấy dán tường đang bay phần phật, rằng bọn kia lơ lửng ở đó thêm bao lâu nữa thì sẽ rơi xuống? Rồi quét nhẹ lên những bức tường, chúng đăm chiêu lướt qua như muốn hỏi những đóa hồng đỏ và vàng trên giấy dán tường rằng các bạn có sẽ phôi phai đi chăng, và thăm dò (một cách khẽ khàng, vì chúng có thể tùy nghi sử dụng thời gian) những lá thư bị xé trong sọt đựng giấy vụn, những bông hoa, những quyển sách, tất cả những thứ giờ đây phơi mở ra với chúng và đang hỏi, Chúng là đồng minh? Chúng là kẻ thù? Chúng sẽ tồn tại bao lâu?


Với vết chân nhợt nhạt của nó trên cầu thang và tấm thảm, một tia sáng ngẫu nhiên – từ một vì sao không bị che khuất, từ một con tàu lang thang nào đó, hay thậm chí từ ngọn hải đăng – dẫn đường cho chúng. Với vết chân nhợt nhạt của tia sáng trên cầu thang và tấm thảm, những luồng không khí nhỏ lượn lên cầu thang và lướt vi vu quanh những cửa phòng ngủ. Nhưng chắc chắn chúng phải dừng lại ở đây. Bất cứ thứ gì khác cũng có thể tàn lụi và biến mất, còn cái nằm ở đây thì bất biến. Ở đây, người ta có thể nói tới những ánh sáng lướt qua đó, những làn không khí quờ quạng mà bạn không thể chạm vào hay hủy hoại đang thở và lướt bên trên chiếc giường đó. Từ bên trên, một cách yếu ớt, ma quái, như thể chúng có những ngón tay bằng lông vũ-ánh sáng và thứ ánh sáng bền bỉ của những chiếc lông vũ, chúng nhìn, một lần, vào những đôi mắt nhắm, những ngón tay nắm hờ, yếu ớt cuộn y phục của họ lên rồi biến mất. Cứ thế, ồn ào, vi vút, chúng lướt lên khung cửa sổ cầu thang, những căn phòng ngủ của những người hầu, những ngăn buồng của các căn phòng áp mái; quay trở xuống, nhuộm trắng những quả táo trên bàn ăn, chạm vào những cánh hoa hồng, sờ vào bức tranh trong khung vẽ, quét qua tấm thảm và cuốn một ít cát lên sàn nhà. Cuối cùng, chúng ngưng nghỉ, gom tụ lại, cùng thốt lên một tiếng thở dài; cùng rít lên một giọng than van vô mục đích mà một cánh cửa nào đó trong nhà bếp đáp lại; chúng tỏa rộng ra; không chứa nhận gì cả; rồi thổi đóng sầm cánh cửa.


[Tới đây, Carmichael, người đang đọc Virgil, thổi tắt ngọn nến. Trời đã quá nửa đêm.]


3.


Nhưng rốt cuộc một đêm là gì? Một không gian ngắn ngủi, nhất là khi bóng tối mờ đi quá sớm, những con chim cất tiếng hót quá sớm, một con gà trống gáy lên, hay một màu xanh nhợt nhạt hiện nhanh, như một chiếc lá xoay vòng trong vũng xoáy. Tuy nhiên, đêm vẫn tiếp nối đêm. Mùa đông gom cất chúng và phân phát chúng đồng đều, với những ngón tay không mệt mỏi. Chúng kéo dài; chúng tối tăm. Một số đêm treo cao những hành tinh trong trẻo, những chiếc dĩa sáng ngời. Những chiếc lá mùa thu, bị tàn phá là thế, vẫn lấp lánh ánh sáng của những lá cờ tơi tả ngời lên trong màn ảm đạm của những khung cửa nhà thờ, nơi những chữ cái bằng vàng trên những phiến đá hoa diễn tả cái chết trong chiến trận và những nắm xương ngả trắng đã bị thiêu cháy như thế nào ở xứ Ấn Độ xa xôi. Những chiếc lá thu sáng lấp lánh dưới ánh trăng vàng, thứ ánh sáng của những đêm rằm, thứ ánh sáng làm chín mọng khả năng lao động, làm mềm đi những gốc rạ, và đưa sóng phủ xanh bờ cát.


Giờ đây, dường như xúc động với sự ăn năn và tất cả những cần lao của con người, đức thánh linh đã rẻ tấm màn che và để lộ ra phía sau đêm một con thỏ rừng đứng thẳng, đơn độc, nổi bật; sóng vỗ; con thuyền bồng bềnh; những thứ mà nếu chúng ta xứng đáng sẽ luôn là của chúng ta. Nhưng chao ôi, đức thánh linh đã giật phăng sợi dây, kéo lại bức màn; ngài không hài lòng; ngài che đi những kho báu của mình trong một cơn mưa đá, và phá tan chúng, làm lẫn lộn chúng đến nỗi dường như sự bình thản của chúng sẽ không bao giờ quay lại hoặc chúng ta sẽ không bao giờ gom những mảnh vụn của chúng lại thành một tổng thể hoàn hảo hoặc đọc trong những mảnh rải rác những dòng chữ rõ ràng của chân lý được nữa. Vì sự ăn năn của chúng ta chỉ đáng một thoáng nhìn; sự cần lao của chúng ta chỉ hoãn lại phút giây.


Đêm bây giờ đầy gió và sự tàn phá; cây cối ngã nghiêng và những chiếc lá bay tơi tả khắp đó đây cho tới khi phủ đầy bãi cỏ và nằm chồng chất lên nhau trong những máng xối, những ống dẫn nước mưa bị nghẹt và những con đường mòn rải rác. Ngay biển cả cũng trở trăn và tự vỡ tung, và một kẻ đang ngủ bất kỳ nào đó sẽ tưởng tượng rằng anh ta có thể tìm thấy trên bãi biển một lời giải đáp cho những ngờ vực của mình, một sự sẻ chia cho nỗi niềm hiu quạnh của mình, vứt đi bộ quần áo ngủ của anh ta rồi một mình đi xuống để tản bộ trên mặt cát, chẳng có hình ảnh nào giống với sự phục vụ và sự sẵn sàng siêu thoát dễ dàng đến trong tay để đem trật tự lại cho đêm và làm cho thế giới phản ánh hạn độ của linh hồn. Bàn tay đó co quắp lại trong tay anh ta; giọng nói đó gầm lên trong đôi tai anh ta. Có vẻ như trong một tình trạng rối rắm như thế sẽ chẳng ích gì khi hỏi màn đêm những câu hỏi cái gì, vì sao, bởi đâu, những câu hỏi đã thôi thúc kẻ ngủ ngon rời khỏi giường để tìm kiếm một lời giải đáp.


[Ông Ramsay, bị trượt ngã trên một hành lang vào một buổi sáng u ám, đã duỗi đôi tay của ông ra, nhưng bà Ramsay đã chết khá đột ngột vào đêm hôm trước, đôi tay ông, dù đã duỗi ra, chỉ chạm vào cõi hư vô.]


4.


Thế là với ngôi nhà trống rỗng, những cánh cửa khóa chặt và những tấm thảm cuộn lại, những làn gió nhẹ tản mác ấy, những cảnh vệ tiên phong của các đoàn quân lớn, ào ào thổi vào, quét qua những tấm ván trần, nhấm nhẳn và tỏa thành hình rẻ quạt, chẳng gặp thứ gì trong căn phòng ngủ hay phòng khách vốn đã hoàn toàn ghi nhận chúng ngoài những vật treo tường bay phần phật, những đồ gỗ kêu cọt kẹt, những chân bàn trần trụi, những cái chảo và đồ sứ đã đóng đầy cặn cáu, xỉn mờ, nứt vỡ. Những thứ mọi người đã bỏ rơi lại – một đôi giày, một cái mũ đi săn, vài chiếc váy và áo khoác bạc màu trong tủ quần áo – chỉ có những thứ đó mới còn lưu giữ hình dáng con người và biểu thị trong nỗi trống vắng rằng chúng đã từng được khoác mang và làm cho sống động ra sao; những bàn tay đã từng bận rộn với những cái khuy và móc áo ra sao; tấm gương đã từng ôm giữ một gương mặt ra sao; đã từng ôm giữ một thế giới bên ngoài trong đó một hình dáng xoay chuyển, một bàn tay vụt hiện, cánh cửa mở ra, lũ trẻ ùa vào nhốn nháo; và ùa ra ngoài trở lại. Bây giờ, ngày nối tiếp ngày, ánh sáng biến chuyển hình ảnh sắc nét của nó trên bức tường đối diện, như một bông hoa phản chiếu trên mặt nước. Chỉ có bóng của những hàng cây ngả nghiêng trong gió đang rạp người trên tường, và trong khoảnh khắc làm tối đi cái vũng ánh sáng phản quang; hoặc chỉ những bóng chim bay ngang, tạo thành một vệt nhòa chậm chạp lướt qua nền phòng ngủ.


Vẻ yêu kiều và sự tĩnh lặng ngự trị và cùng nhau tạo thành hình dáng của chính nó, một hình thức mà từ đó đời sống đã lìa xa; sự quạnh hiu giống như một vũng nước xa xa mờ nhạt dưới ánh chiều tà, được nhìn thấy từ cửa sổ một toa tàu, một vũng nước biến đi nhanh đến nỗi hầu như người ta không thể tước đoạt đi sự quạnh hiu của nó, dù đã nhìn thấy nó một lần. Vẻ yêu kiều và sự tĩnh lặng nắm chặt tay nhau trong phòng ngủ giữa những chiếc bình bị che khuất, những chiếc ghế trùm kín, thậm chí nỗi tò mò của ngọn gió, và tiếng ồn khe khẽ của những làn gió biển nhẹ ẩm ướt đang cọ xát, khụt khịt và lặp lại những câu hỏi của chúng – “Các bạn có phai nhòa đi không? Các bạn có tàn lụi đi không? – cũng hầu như không thể quấy nhiễu sự thanh bình, sự lãnh đạm, bầu không khí vẹn nguyên thuần khiết, như thể câu hỏi mà chúng đặt ra hầu như không cần thiết phải được đáp lại rằng: chúng tôi vẫn còn đây.


Dường như không gì có thể phá vỡ hình ảnh đó, làm suy đồi sự trinh trắng đó, hoặc làm náo động tấm áo choàng lung linh của sự im lặng mà, hết tuần này sang tuần khác, trong căn phòng trống rỗng, đã đan dệt vào chính nó tiếng lũ chim kêu vọng lại, tiếng còi tàu hụ, tiếng vi vu rì rào của những cánh đồng, tiếng chó sủa, tiếng người la hét, và cuộn chúng quanh phòng trong im lặng. Chỉ có một lần một tấm ván ngã xuống đầu cầu thang; một lần vào lúc nửa đêm với một tiếng ầm ầm, một sự gẫy đổ, như sau hàng bao nhiêu thế kỷ im lìm, một tảng đá tách ra khỏi ngọn núi và lao nhanh xuống lũng, một nếp gấp của tấm khăn choàng bung ra và đu đưa qua lại. Rồi thanh bình lại bao trùm; và cái bóng chập chờn; ánh sáng sùng kính nghiêng mình tới hình ảnh của chính nó trên tường phòng ngủ; và bà McNab, xé toạt bức màn im lặng với đôi bàn tay đã nhúng vào chậu giặt, nghiền nát nó với đôi ủng đã nghiến trên đá sỏi, tới đó theo chỉ thị để mở mọi cánh cửa sổ ra và quét dọn những căn phòng ngủ.


(còn tiếp)

Nguồn: Tới ngọn hải đăng. Tiểu thuyết của Virginia Woolf. Nguyễn Thành Nhân dịch từ nguyên tác tiếng Anh To the Lighthouse. 

Dịch giả gửi www.trieuxuan.info

 







[1] Publius Vergilius Maro (70 – 19 tr. CN) – nhà thơ La Mã cổ đại.


 



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cõi mê - Triệu Xuân 25.03.2020
Giấy trắng - Triệu Xuân 25.03.2020
Anh em nhà Karamazov - FYODOR Mikhailovich Dostoyevsky 16.03.2020
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 15.03.2020
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 15.03.2020
Đêm Sài Gòn không ngủ - Trầm Hương 10.03.2020
Trong cơn lốc xoáy - Trầm Hương 10.03.2020
Ông cố vấn - Hữu Mai 26.02.2020
Đẻ sách - Đỗ Quyên 15.02.2020
Hòn đất - Anh Đức 13.02.2020
xem thêm »