Nhà văn Đức Hermann Hesse sinh năm 1877 ở Wurtemberg, sinh ra trong một gia đình nhà truyền giáo ông được định phận để trở thành nhà mục sư, song Hermann Hesse trốn khỏi tu viện Manlbron năm 1892 và tự đào luyện mình bằng các nghề khác nhau. Năm 1899, ông định cư ở Thuỵ Sĩ, cho ra mắt các bài thơ đầu tiên và cuốn tiểu thuyết Peter Camenzind (1904), sớm được các giới độc giả chú ý là nhà triết học, nhà thơ và tiểu thuyết gia, ông khát khao một nền văn minh lý tưởng mà ở đó sự công bằng giữa tính người và tính con trong con người. Ý muốn dung hợp các điều trái ngược nhau ấy được tìm thấy trong toàn bộ các trước tác của ông: Gertrude (1910), con sói vùng thảo nguyên (1927), Norcisse và Goldmend, cuộc chơi của các viên thuỷ tinh (1943), chuyến đi sang phương Đông, Đường mòn.
Lấy quốc tịch Thuỵ Sĩ năm 1921, nhận giải thưởng Nobel năm 1946, Hermann Hesse qua đời năm 1962 ở Lugano.
*
Tập tu ở tu viện Mariabronn, Narcisse nổi bật bởi năng lực trí tuệ và văn hoá của mình. Người ta giao phó cho thầy cậu học sinh Goldmund mà thân sinh cậu ta muốn định phận làm một tu sĩ: để chuộc tội cho cuộc sống xáo động trong quá khứ của thân mẫu cậu. Narcisse kết bạn với chú em thông minh ấy. Thầy cảm nhận khuynh hướng của cậu không phải ở tu viện, và giúp cậu chọn con đường đi.
Từ ấy, Goldmund lao vào sống lang thang: trải qua các cuộc phiêu lưu tình ái, cậu tha thiết bắt gặp được tiện mạo lý tưởng của người phụ nữ “Êva vĩnh cửu”, gương mặt thần tượng có thể thay cho thân mẫu cậu đã qua đời.
Goldmund trải qua mọi nỗi gian truân, phạm nhiều lỗi lầm trong cuộc sống nay đây mai đó. Không phải Goldmund không ý thức về bản ngã, các điều đối lập nhau trong tâm hồn và xúc cảm của mình. Trong một giờ khắc suy tư tỉnh táo và sâu lắng, cậu quyết định trở thành một nhà điêu khắc: nghệ thuật là phương sách để tìm cái đẹp. Tuy vậy, cậu lại ra đi, cuốn hút theo cuộc sống lang thang… Narcisse và Goldmand kết thân với nhau; tư chất, lối sống, số phận của họ khác nhau, nhưng họ có những điểm gặp để hiểu và yêu quý nhau, để bổ sung cho nhau, khi còn trẻ cũng như về sau này.
Chính trong khung cảnh nước Đức thời trung cổ, nhà viết tiểu thuyết HERMANN HESSE đã đặt câu chuyện có tính phúng dụ về tu sĩ Narcisse và về nghệ sĩ Goldmund, mà theo ý ông, cuộc đi tìm kép ấy phản ánh các mối ưu tư của con người, giằng co giữa các đòi hỏi của tâm hồn và thể xác.
Feruaud Delmas
CHƯƠNG I
Trước chiếc cổng vòm bán nguyệt do hai hàng cột chống đỡ dẫn vào tu viện Mariabronn, một cây dẻ lẻ loi giống Phương Nam, lâu lắm rồi một khách hành hương đã đưa từ Rôma về, dựng lên bên đường thân hình lực lưỡng của nó. Vòm lá hình cánh cung sum suê che rợp lối đi với dáng vẻ quen thân, và thở trong gió như thể một lồng ngực căng phồng. Xuân về, trong khi chung quanh tràn một màu xanh, và các cây bồ đào của tu viện đều đã phủ tán lá non màu đỏ nhạt, cây dẻ vẫn đứng đó như chưa có ý định đâm chồi nẩy lộc. Rồi đến thời kỳ đêm ngắn lại hơn cả, nó mới xoè ra các chùm lá như thể các tia nắng nhạt, trình diễn vụ nở hoa kỳ lạ của nó. Khi nó toả các mùi hương hăng và đậm, các ký ức bừng dậy, ai cũng cảm thấy tim mình thắt lại. Vào tháng Mười, kết thúc mùa hái quả và thu hoạch nho, vòm lá của nó úa vàng, từng đợt quả chưa kịp chín lởm chởm gai rơi rụng qua mỗi trận gió thu. Bọn trẻ trong tu viện tranh nhau nhặt, rồi thì cho Grégoire, phó tu viện trưởng gốc gác xứ Latinh, đem nướng các hạt dẻ ấy ở bếp lửa lò sưởi nhà ông. Trên đường vào tu viện, cây cù mộc đẹp đẽ xa lạ ấy, với tấm lòng trìu mến, cứ chầm chậm vươn cành nhấp nhô như một vị khách hơi kém chịu rét đến đây từ một vùng khí hậu khác, nó có những dây liên hệ thân thuộc bí ẩn với các hàng cột nhỏ lênh khênh bằng cát kết nối từ cổng chính vào. Cái cây xa lạ ấy bao thân thiết với những người Pháp và người Latinh, trong khi bà con trong vùng cứ ngơ ngác nhìn nó.
Dưới bóng cây dẻ được đưa về từ những xứ sở xa xôi, đã nhiều thế hệ học trò đi qua trong tu viện, kẹp những tấm ván nhỏ để ghi chép dưới cánh tay, cùng nhau chuyện trò, cười đùa gây gổ đi chân trần hoặc mang giày tuỳ theo mỗi mùa, một cánh hoa trên miệng, một quả dẻ giữa hai hàm răng, hoặc một nắm tuyết vo tròn trong bàn tay. Luôn luôn, có những lớp học sinh khác tựu đến. Trong vòng mấy năm, nơi đây chỉ có những bộ mặt mới phần đông giống nhau: những cậu bé lớn lên với mái tóc hoe vàng xoăn xoăn. Một số ở lại các phong tu kín, trở thành tập tu, trở thành tu sĩ, nhận lễ gọt tóc trên đỉnh đầu, mặc chiếc áo và thắt chiếc dây thầy tu, đọc sách dạy bọn trẻ học, già và chết. Một số khác học xong cha mẹ rút về, trở lại các lâu đài hoặc ngôi nhà của những người buôn bán và làm thợ, đi đó đây trong thiên hạ, lao vào các cuộc chơi, các nghề nghiệp, tình cờ trở lại tu viện một đôi bận. Trở thành đàn ông, có những người cha trong khi đưa con trẻ của họ đến, đã đưa đôi mắt mấp máy cười chốc lát nhìn lên cây dẻ, rồi lại biến mất. Ở các phòng riêng và các căn buồng trong tu viện, giữa các vòm cửa sổ nặng nề và các dãy cột vững chắc bằng cát kết màu hồng, những người đàn ông sống hằng ngày, làm các công việc dạy học, nghiên cứu, quản lý, lãnh đạo. Nơi đây họ trao dồi các khoa học và các nghệ thuật rất khác nhau, về đạo và về thế tục, mỗi thế hệ truyền lại cho lớp người sau các ánh sáng và các bóng tối của họ. Người ta viết những quyển sách, bình luận các tác phẩm ấy người ta suy tưởng về các hệ thống sưu tập các bản viết thời xưa, người ta tô vẽ chữ và trang trí sách, bàn và chế giễu các tín ngưỡng dân gian. Học thức uyên bác và tính sùng đạo, tính thơ ngây và tính ranh mãnh, đầu óc minh triết về các kinh thánh và hội Hêlên cổ Hy Lạp, điều ma thuật tội lỗi và điều thần diệu thiêng liêng, tất cả đều kết trái ở nơi đây, có chỗ ở đây cho mọi thứ. Nơi đây có chỗ cho cuộc sống cô độc và sự chịu hình phạt, cũng như cho đời sống xã hội và các cuộc tiếp đón niềm nở: điều đó tuỳ thuộc vào cá tính của vị tu viện trưởng đương chức và các trào lưu đương thời có sức chi phối theo khuynh hướng này hoặc khuynh hướng khác nổi trội và chiếm ưu thế. Có một số thời kỳ người ta làm cho tu viện nổi tiếng, thu hút khách thập phương đến thăm, nhờ tiến hành các phép trừ tà chống lại mọi bộ mặt thay đổi của quỷ dữ; những thời kỳ khác thì nhờ vào dàn nhạc tuyệt diệu hoặc đôi khi là tính thần thánh của một trong các cha có tài chữa bệnh, tạo nên chuyện thần kỳ, hoặc đôi khi là những bữa cháo cá và món patê gan nai, thời nào thức ấy. Trong nhóm các tu sĩ và các học sinh với lòng mộ đạo nồng nhiệt hoặc ấm áp, trong số các tu sĩ khổ hạnh và những kẻ bụng phệ, trong những con người ấy đến để sống tại đây và chết tại đây, luôn luôn có loại nhân cách này, nhân cách khác có tính độc đáo. Co người được ai nấy đều mến yêu hoặc e sợ, có người dường như được ân sủng, có gương mặt về lâu dài ai cũng để ý. Trong khi đó có những kẻ cùng thời với người ấy thì đã bị lãng quên.
Vào thời chúng tôi đang nói tới tại tu viện Mariabronn cũng có hai bộ mặt độc đáo: một cụ già và một thanh niên. Trong các thầy dòng đông đúc dưới các mái hành lang để đi dạo chơi, trong các nhà thờ nhỏ và các lớp học, có hai người mà cuộc sống của họ ai cũng biết và với họ mọi người đều quay mắt nhìn theo. Có trong số đó vị tu viện trưởng Danicl ông cụ già, và cậu học sinh Narcisse, chàng trai mới bắt đầu tập tu. Có điều trái ngược hẳn với mọi truyền thống, người ta cư xử với cậu ta như với một giáo sĩ, bởi lẽ cậu ta có những khả năng trời phú, nhất là về tiếng Hy Lạp. Cả hai người, vị tu viện trưởng và chàng trai tập tu, đều được mọi người coi trọng: người ta quan sát họ, tò mò về họ, mến mộ, ước ao được như họ - và cũng bí mật nói xấu họ.
Hầu như mọi người đều yêu mến vị tu viện trưởng. Ông không có kẻ thù. Ở ông, tất cả là lòng tốt, tính giản dị, tính nhún nhường. Chỉ các nhà thông thái của tu viện mới pha lẫn trong niềm mến mộ của họ một chút coi thường. Bởi vì tu viện trưởng Daniel rất có thể là một vị thánh nhưng ông không phải là một nhà thông thái. Ông có tính giản dị vốn là sự minh triết, nhưng tiếng La Tinh của ông rất kém, còn về ngôn ngữ Hy Lạp, ông không biết một từ nào.
Những người, không mấy đông, cười chê tính giản dị của tu viện trưởng thì lại càng say mê Narcisse, cậu thần đồng, chàng trai trẻ đẹp người, giỏi tiếng Hy Lạp, có những dáng điệu đáng mặt hiệp sĩ, có cái nhìn của nhà tư tưởng sâu lắng với cặp môi mỏng xinh tươi, nghiêm khắc trong các quyết định. Các nhà thông thái yêu quí anh ta bởi sự hiểu biết kỳ diệu về tiếng Hy Lạp, hầu như ai cũng mến phục tính cao quí và tinh tế của anh ta, nhiều người say mê các tính nết trang nhã ấy. Với sự rất tự tin, biết làm chủ bản thân, và các cung cách nhã nhặn của anh, không ít người lại có ác cảm.
Vị tu viện trưởng và anh chàng tập tu, mỗi người có cung cách riêng của mình về số mệnh được ưu ái, mỗi người phát huy sức chi phối và chịu đau khổ cũng theo cung cách riêng. Giữa họ, người này cảm thấy gần gũi hơn với người kia, hấp dẫn với nhau hơn tất thảy những ai khác trong tu viện. Tuy vậy, họ không tìm thấy con đường của người này là của người kia, con tim của người này không thể ấm nóng lên với sự hiện diện của người kia. Vị tu viện trưởng xử sự với chàng trẻ tuổi rất thận trọng, rất quan tâm, mang nặng những nỗi lo như với một chú em có một bản tính hiếm thấy, tinh tế, một tâm hồn sớm chín muồi, có lẽ một tâm hồn đang lâm nạn. Chàng trai nhận lãnh một mệnh lệnh, mọi lời khuyên bảo, mọi lời ngợi khen của vị tu viện trưởng với một thái độ hoàn toàn không thể chê trách, không hề cãi lại, không hề làm trái ý. Và nếu như điều phê phán của tu viện trưởng với anh ta là đúng đắn, nếu như khuyết điểm duy nhất của anh ta là tính tự kiêu, anh ta biết cách che giấu khéo léo khuyết điểm của mình. Người ta không thể quở trách anh ta về bất cứ điều gì; hoàn hảo, anh ta cao hơn mọi người khác. Chỉ có điều anh không có nhiều các bạn bè thật sự, nét khác biệt của anh như trùm lên người anh một bầu không khí lạnh giá.
“Narcisse, - linh mục tu viện trưởng nói với anh sau một lễ xưng tội -, cha nhận ra mình có lỗi đã nêu lên với con một lời phê phán, nghiêm khắc. Ta thường lưu ý con về tính kiêu căng, có lẽ khi đó ta bất công với con. Con rất cô đơn, anh bạn thầy dòng trẻ tuổi của ta. Có những người mến mộ con, nhưng con không có bạn bè. Đôi khi ta muốn có cớ để quở trách con nhưng ta không hề tìm ra. Ta rất muốn đôi khi con làm điều gì đó dại dột, như các bạn trẻ ở độ tuổi của con thường dễ mắc phải. Narcisse ạ, đôi khi ta lo lắng cho con”.
Chàng trẻ tuổi đưa đôi mắt đen lên nhìn ông già:
- Cha kính mến của con, con mong không chút làm cho cha phải lo lắng. Rất có thể là con kiêu căng, thưa cha kính mến, xin cha trừng phạt con về khuyết điểm ấy. Có những lúc bản thân con muốn tự trừng phạt mình về điều ấy. Thưa cha, xin hãy đưa con đến một nhà tu khổ hạnh, hoặc giao cho con làm các công việc hèn kém.
- Anh bạn thầy dòng thân mến, con còn quá trẻ đối với nơi nọ và việc kia - tu viện trưởng bảo - Hơn nữa, con có được những khả năng rất đáng quí về các ngôn ngữ và về tư duy. Con có ý đem sử dụng con vào những công việc tầm thường thì thật là hoài phí các tài năng chúa trời đã ban cho con. Chắc hẳn con sẽ trở thành một vị giáo sư và một nhà bác học. Bản thân con không ước mong điều đó sao?
- Xin lỗi, thưa cha của con, con chưa xác định các mong muốn của con. Con luôn ham thích các môn khoa học, làm sao con có thể khác thế được? Nhưng con không tin rằng các ngành khoa học là lĩnh vực duy nhất của con. Chắc không phải là các ham thích của con một người luôn luôn định đoạt số phận và chức phận của người ấy mà có một điều gì đó khác: sự tiền định.
Vị tu viện trưởng lắng nghe, vẻ trang nghiêm thoáng hiện lên khuôn mặt già nua của ông. Nhưng nó được xua tan bởi một nụ cười khi ông cất tiếng.
- Ví như cha học được cách thấu hiểu mọi người. Tất cả chúng ta nhất là trong thời tuổi trẻ đều có khuynh hướng lẫn lộn chúa quan phòng với các mong ước riêng tư của chúng ta. Nhưng con hãy nói với cha, bởi vì con có nghĩ suy để biết trước chức phận của mình, vậy con tính sao?
Narcisse vẫn giữ im lặng khép nửa chừng đôi mắt sẩm tối lấp kín dưới làn mi đen.
- Con trai của ta, con nói đi - Vị tu viện trưởng nhắc sau hồi lâu chờ đợi.
Nhìn xuống, Narcisse bắt đầu đáp lại, nhỏ giọng:
- Thưa cha kính mến, con nghĩ rằng con biết trước hết con được dành cho cuộc sống tu hành. Con sẽ trở thành tu sĩ, con nghĩ con sẽ là linh mục, phụ tá của linh mục tu viện trưởng, và có lẽ sẽ là tu viện trưởng. Con không tin tưởng điều đó, con đang mong muốn được như vậy. Các nguyện vọng của con không hề phù hợp với các nghĩa vụ ấy nhưng đối với con đó là điều bắt buộc.
Cả hai người ngồi yên lặng kéo dài.
- Vì sao con tin ở điều đó? - Ông già hơi ngập ngừng lên tiếng hỏi. - Ngoài khoa học ra, có những khuynh hướng nào con cảm thấy ở mình, và chính chúng giúp con có một niềm tin như vậy?
Narcisse đáp lại chậm rãi:
- Thưa, đó là khả năng nhận biết tự nhiên và số phận những con người. Không phải chỉ của con, còn của những người khác. Đó là khả năng thiên phú đã buộc con phục vụ những người khác bằng cách chi phối họ. Nếu con không sinh ra để sống ở tu viện, hẳn con trở thành một quan toà hoặc một chính khách.
- Có thể - vị tu viện trưởng đồng tình. - Đã có bao giờ con thử vận dụng trong những trường hợp riêng biệt khả năng của con đi sâu vào những con người và số phận của họ?
- Thưa, con có làm.
- Con có sẵn sàng nêu với cha một thí dụ?
- Thưa vâng.
- Tốt. Bởi lẽ cha không có khả năng đi sâu vào điều bí mật của các thầy dòng của ta trong khi họ không hề hay biết, con có thể nói với cha những gì con cho là con hiểu về cha Daniel, tu viện trưởng của con không?
Narcisse nhướng các hàng mi nhìn vào mắt tu vị viện trưởng.
- Kính cha, có phải đó là lệnh của cha?
- Lệnh của ta.
- Thưa cha, con nói ra không dễ gì.
- Anh bạn thầy dòng trẻ tuổi, cha cũng khó buộc con nói, vậy mà cha vẫn làm. Con nói đi Narcisse cúi đầu, nói thầm thì:
- Kính thưa cha, những gì con biết về cha không có bao nhiêu. Con biết cha là một nô bộc của chúa hằng thích chăn dắt đàn dê hoặc kéo chuông trong một tu viện hoặc nghe các lời xưng tội của bà con nông dân hơn là cai quản một tu viện lớn. Con biết là cha có một niềm âu yếm đặc biệt đối với Thánh mẫu của Chúa, và chính với Đức Mẹ, cha thích hơn các lời cầu nguyện của cha. Cũng có đôi khi cha nguyện cầu sao cho tiếng Hy lạp và các khoa học khác được vun trồng trong tu viện này đừng đem lại sự rối loạn và hiểm nguy cho các tâm hồn đã phó thác với cha. Có đôi lần trong các bài thuyết giảng của mình, cha yêu cầu sao cho tính kiên nhẫn không rời bỏ cha trong quan hệ với vị phó của cha, cha Gringoire. Đôi khi cha cầu mong một cái chết dịu dàng. Và cha sẽ được thoả nguyện, con tin như vậy, và cha sẽ đạt một sự kết thúc êm thấm.
Trong căn phòng nhỏ, nơi vị tu viện trưởng đang có mặt, rất vắng lặng. Cuối cùng, ông già nói tiếp với một giọng thân tình:
- Con là một người mơ mộng và con có những ảo tưởng; bằng những cách nhìn sùng tín và tươi đẹp, người ta có thể dẫn tới sai lầm. Con đừng có tin vào chúng, bản thân cha cũng không tin đâu. Anh bạn thầy dòng của ta, con người mơ mộng hão, có thể nào con thấy được những gì trong tim ta, là ta nghĩ đến tất cả những điều đó?
- Thưa cha, con có thể thấy qua đó cha có những xu hướng rất nhân từ. Đây là những điều cha đang tự bảo mình: “Cậu học trò trẻ tuổi này đang bị đe doạ bởi một mối nguy hiểm nào đó. Cậu ta có những ảo tưởng, có lẽ cậu ta suy ngẫm quá nhiều. Có lẽ ta có thể bắt cậu chịu một hình phạt, việc ấy sẽ không tác động xấu đối với cậu đâu. Nhưng điều trừng phạt mà ta trao cho cậu, ta sẽ đem áp đặt với bản thân ta”. Thưa cha, đó là những gì cha đang suy nghĩ.
Vị tu viện trưởng đứng lên. Ông mỉm cười và ra hiệu cho anh chàng tập tu hai chân.
- Tốt. - Ông bảo - Anh bạn thầy dòng trẻ, con đừng coi các điều ảo tưởng của con là quá thật.
Chúa đòi hỏi ở chúng ta nhiều điều khác hơn là các ảo tưởng. Chúng ta thừa nhận là con đã làm cho một ông già được vui thích bằng cách hứa với ông là một cái chết dễ dàng. Chúng ta thừa nhận rằng ông già ấy lấy làm vui lòng với lời hứa đó. Bây giờ thế là đủ. Ngày mai, sau lễ nhà thờ buổi sáng, con đọc một bài kinh trong khi lần tràng hạt. Con hãy đọc với tất cả lòng thành của một kẻ hèn mọn từ đáy lòng mình, chứ không phải trên đầu lưỡi. Và cha cũng làm thế. Narcisse, bây giờ con hãy đi đi, chúng ta nói chuyện đã khá đủ.
Một lần khác, vị tu viện trưởng phải làm trọng tài giữa một linh mục trẻ tuổi phụ trách giảng dạy và Narcisse. Hai người không thể thoả thuận với nhau về một điểm trong chương trình học. Narcisse đặc biệt nhấn mạnh, yêu cầu thực hiện một số sửa đổi trong việc học hành, còn biết đưa ra các lập luận có sức thuyết phục để xác minh cho lời nói của mình. Nhưng cha Lorenz, vì ghen tị, không chịu nghe theo các lý lẽ ấy; hai bên đã nhiều lần bàn cãi với nhau. Những ngày hờn dỗi và bực bội, không nói với nhau đã trôi qua trong khi Narcisse tự tin là mình phải, và đặt vấn đề tại thảo luận. Rốt cuộc, hơi tổn thương, cha Lorenz tuyên bố:
- Narcisse, thôi được, chúng ta không tranh cãi nữa. Cậu biết là chính tôi, chứ không phải cậu là người giải quyết vấn đề. Cậu không phải là bạn đồng nghiệp mà là người phụ tá của tôi, và cậu phải phục tùng tôi. Tuy tôi không vượt trội cậu về khoa học cũng như về tài năng; về đẳng cấp thì tôi là bề trên của cậu. Nhưng vì câu chuyện ấy đối với cậu quá thiết cốt, tôi không muốn tự mình kết luận cuộc tranh cãi. Chúng ta sẽ trình vấn đề ấy lên cha tu viện trưởng và thỉnh cầu cha quyết định.
Câu chuyện đã đến đó, vị tu viện trưởng nghe một cách kiên nhẫn và thân ái cả hai nhà thông thái trình bày các quan điểm khác nhau của họ về vấn đề giảng dạy ngữ pháp. Sau khi họ giải trình xong cặn kẽ và xác định quan điểm của mỗi bên, ông đưa mắt nhìn họ một cách lém lỉnh, lắc lắc cái đầu già nua của mình và nói:
- Các chú thân mến, người này cung như người kia, các chú đều không tin chắc rằng ta hiểu các chuyện này bằng các chú. Narcisse có mặt tốt là tha thiết với công việc của nhà trường đến mức đã cố gắng góp ý cải thiện chương trình học tập. Nhưng người có quyền hạn hơn cậu lại có ý kiến khác. Narcisse chỉ có việc đừng nói gì nữa và tuân theo. Và mọi sự cải thiện trong việc học tập sẽ không bù lại được cho điều xấu sẽ nẩy sinh nếu vì đó mà kỷ luật và tinh thần tuân thủ trong ngôi nhà này sẽ bị lung lay. Ta trách Narcisse đã không biết nhân nhượng. Và với cả hai, các nhà thông thái trẻ tuổi, ta mong mỏi không bao giờ thiếu những người bề trên lại ngốc hơn các chú, không có cách nào khác hơn để chống tính kiêu căng.
Với lời nói đùa vui trong sáng ấy, ông cho hai người ra về, nhưng những ngày sau đó ông không hề quên để mắt xem giữa hai thầy giáo có hiểu biết nhau có hoà thuận không.
(còn tiếp)
Nguồn: Narcisse và Goldmund, nguyên tác tiếng Đức: Narziss und Goldmund. Tiểu thuyết của Hermann Hesse, Nobel 1946. Viễn Nguyên dịch từ bản dịch tiếng Pháp của Fernand Delmas: Narcisset Goldmund. NXB Calmann – Levy. Paris, 1993. NXB Lao động, 2001. Rút từ Hợp tuyển Văn học Đức, tập 4. Lương Văn Hồng và Triệu Xuân chủ biên. NXB Văn học sắp xuất bản.
www.trieuxuan.info
|