tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Tiểu thuyết
21.01.2010
Hermann Hesse
Narcisse và Goldmund

Nhưng dường như đây là một ngày của những quyết định một ngày mà lương tâm cậu rất trong sáng. Khi  Cathérine xuất hiện ở cửa sổ với gương mặt khỏe mạnh hơi thô, nhoẻn miệng mỉm cười, cậu liền đưa bàn tay lên ra dấu hiệu qui ước với cô bạn, bỗng cậu nhớ ra đã nhiều bận mình đến đây chờ đợi; đồng thời cậu thấy trước một cách rõ rằng cả loạt các cử chỉ chán ngấy sẽ kế tiếp, sớm xuống nhà ở phía cửa sau, cầm trên tay một thứ thịt lợn ướp; cậu vừa nhận lấy vừa vuốt ve nàng và áp chặt người nàng vào ngực mình như nàng mong đợi - bỗng nhiên cậu cảm thấy ngốc và gớm ghiếc quá thể cả cái kiểu cách thường làm các cử chỉ ấy, qua đó đạt đến kết quả: nhận lấy mớ xúc xích, cảm nhận hai bầu vú chắc của nàng ép vào mình và siết chặt chúng một chốc để đổi lấy món quà. Đột nhiên cậu có cảm tưởng mình phát hiện ra trong vẻ thô thiển trên khuôn mặt nàng cái thói quen biểu hiện không có lấy một suy tư nào, trong nụ cười lấy lòng của nàng, có cái gì đó thật nhàm thật máy móc, không còn giữ kín một chút bí ẩn nào, một cái gì đó không xứng đáng với mình. Bàn tay cậu dừng lại, không làm nốt các cử chỉ quen thuộc, trên môi tắt ngấm nụ cười. Cậu còn yêu nàng không? Có còn thật sự ưa thích nàng không? Không, đã quá nhiều bận cậu ở đây, cậu nhìn thấy nụ cười ấy quá nhiều, cũng vẫn nụ cười ấy, và cậu đáp lại mà con tim cậu đâu có tham gia. Điều mà mới hôm qua đây cậu có thể làm không chút đắn đo, đối với cậu bỗng nhiên trở nên không thể được nữa. Cô đầy tớ gái vẫn đứng đó nhìn theo trong khi cậu quay lưng đi mất dạng trong ngõ hẻm, quyết không bao giờ quay trở lại nữa. Rồi sẽ có kẻ khác vuốt ve các bầu vú ấy, có kẻ khác ăn món xúc xích ngon lành ấy! Vả lại, ngày này qua ngày khác người ta chẳng ăn ngấu nghiến thứ gì đó trong cái thành phố giàu có và vui vẻ này, chẳng lãng phí bao nhiêu! Cho bọn thị dân to bụng lười biếng, hư hỏng, khó tính ấy, người ta vật bao nhiêu là lợn, bò tơ, và bắt từ dưới sông lên bao nhiêu những con cá khốn khổ! Còn cậu thì sao? Mặc dù cậu trở nên vất vả, thối rữa cậu giống bọn chúng đến gớm ghiếc! Trên các nẻo đường và các vùng đồng ruộng phủ tuyết, một quả mận khô, một khoanh bánh mì cũng vẫn ngon lành hơn ở đây trong tình trạng dư thừa, trong cảnh tiệc tùng của phường hội. Ôi cuộc sống lang thang sự tự do, vùng đất sáng trăng, con đường mòn, một hoang thú với con mắt e dè vào buổi sáng bị đuổi chạy qua bãi cỏ xám và ẩm ướt! Nơi dây, ở thành phố, ở nhà những con người sống tĩnh tại, tất cả đều dễ dàng và chẳng đắt giá mấy, thậm chí tình yêu cũng vậy. Bỗng nhiên cậu chán ngấy những thứ đó, cậu nhổ toẹt lên đó. Cuộc sống ở đây đã mất ý nghĩa của nó, một khúc xương không còn tủy. Điều ấy đẹp, điều ấy có một lý do tồn tại chừng nào thầy Niklaus còn là tấm gương cho cậu, Lisbeth là một công chúa; điều đó còn có thể chịu nổi chừng nào cậu còn làm việc với pho tượng của mình về Thánh Jean. Bây giờ thì hết, mùi hương đã bay tản, đóa hoa nhỏ tàn tạ. Niềm xúc cảm về tình trạng bất ổn của các sự vật vốn thường dày vò cậu và có thể làm cho cậu say đắm sâu sắc nay mang cậu đi trong làn sóng mạnh mẽ của nó. Tất cả đều úa tàn, bất cứ niềm vui nào cũng cạn kiệt, chỉ còn lại những đốt xương và bụi bặm. Tuy nhiên vẫn tồn tại một sự vật: Bà mẹ Vĩnh cửu, già như thế gian và mãi mãi trẻ trung, với nụ cười tình của Bà, u buồn và độc ác. Trong đôi khoảnh khắc cậu lại trông thấy Bà khổng lồ, các tinh tú cài lên mái tóc, ngồi mơ màng bên bờ nhân thế; với một cử chỉ lơ đễnh, Bà đưa tay hái hết đóa hoa này đến đóa hoa khác, hết cuộc sống này đến cuộc sống khác, để cho chúng từ từ rơi xuống không gian vô tận.


Những ngày ấy, Goldmund nhìn lại một đoạn đời tàn úa của mình trở nên tái xám ở phía sau, cậu lang thang qua vùng đất quen thuộc trong tâm trạng vĩnh biệt với niềm say sưa u ẩn, trong khi đó thầy Niklaus bỏ nhiều công sức để bảo đảm tương lai của cậu, nhằm giữ chân, mãi ổn định lại cuộc sống của con người ấy không tìm được sự yên tĩnh. Ông thuyết phục phường hội trao cho cậu giấy chứng chỉ chức giáo viên và trù tính cột cậu lâu dài với mình không phải như một người thợ mà như một thành viên liên kết, bàn với cậu và cùng thực hiện mọi đơn đặt hàng lớn, và chia phần cho cậu những gì các tác phẩm ấy đem lại. Có lẽ như vậy là phiêu lưu và cũng dễ mang lại rủi ro cho Lisbeth, bởi vì đương nhiên không lâu mấy chàng trai ấy sẽ trở thành con rể ông. Nhưng một pho tượng như của Thánh Jean thì người thợ bạn giỏi nhất Niklaus có được cũng sẽ không bao giờ làm nổi còn bản thân ông thì đã già, nghèo đi các ý tưởng cũng như sức sáng tạo, và ông không muốn thấy xưởng điêu khắc nổi tiếng của mình sa sút thành một nơi tầm thường chuyên sản xuất các pho tượng. Ông chật vật với anh chàng Goldmund này, nhưng ông thấy cần phải mạo hiểm. Lo lắng, vị thầy tính toán nhiều mặt. Ông sẽ hoàn thành và mở rộng gian xưởng ở phía sau cho Goldmund và trao cho cậu căn phòng trên gác. Để tiếp nhận cậu vào phường hội, ông sẽ tặng cậu những bộ trang phục đẹp và mới. Thận trọng, ông cũng lấy ý kiến của Lisbeth, từ hôm ăn trưa, cô chờ đợi một điều gì đó như thế. Và Lisbeth không hề tỏ ra phản đối. Nếu chàng trai cắm chân lại ở đâu đó và có được chức giáo viên, cậu ta hợp ý nàng. Ngay trong chuyện này, ông không gặp khó khăn. Và nếu thầy Niklaus và nếu nghề nghiệp không hoàn toàn thành công trong việc thuần hóa con người Tzigan ấy thì Lisbeth rồi sẽ thực hiện nó trọn vẹn.


Như vậy tất cả đã được chuẩn bị chu đáo miếng mồi cho con chim đã đặt ở bẫy. Ông cho người đi tìm Goldmund nhưng cậu không trở về. Thầy lại mời cậu ăn tối. Một lần nữa cậu  đến, mặc bộ cánh sạch sẽ, đầu tóc chải hẳn hoi, lại ngồi trong căn phòng đẹp đẽ, long trọng, lời cụng ly với thầy và cô con gái của thầy đợi cho đến hết Lisbeth rời bàn ăn, Niklaus mới đưa ra cac ý đồ lớn và các  lời dạm của mình.


- Con hiểu rõ thầy, ta không cần nói với  con, chắc hẳn chưa bao giờ có một người trẻ tuổi nào không trải qua học nghề theo chế độ qui định mà lại được nâng lên hàng bậc thầy và tìm ra một tổ ấm như vậy. Goldmund! Con đường công danh, sự nghiệp của con mở ra rồi đó!


Goldmund ngạc nhiên, con tim thắt lại, nhìn thầy trong khi đẩy cốc rượu còn một nửa về phía trước mặt mình. Quả thật cậu chờ đợi Niklaus mắng cho mấy lời về những ngày đã hoài phí và đề nghị cậu ở lại làm thợ bạn với ông. Vậy mà câu chuyện đã diễn ra thế đó. Cậu cảm thấy buồn và khó chịu bị buộc phải đối mặt với con người này mà chưa thể tìm ra được ngay lời đáp lại.


Hơi phật ý vì lời đề xuất đầy thiện chí của mình không được chấp nhận ngay một cách vui vẻ và khiêm nhường, Niklaus đứng lên, vẻ mặt có phần căng thẳng và thất vọng. Ông nói tiếp:


- Tốt lời  đề xuất của ta làm cho con ngạc nhiên, trước hết con hãy suy nghĩ đi. Ta có hơi phật ý, tưởng rang con rất vui khi nghe ta ngỏ lời. Nhưng không có gì trở ngại đâu, con có thì giờ để suy nghĩ.


- Thưa thầy - Goldmund đáp, lúng túng tìm từng từ để diễn đạt - Xin đừng ghét con. Con hết lòng cảm ơn thầy đã thương yêu, hơn nữa con đội ơn thầy đã kiên nhẫn trong việc ứng xử với kẻ học trò này của thầy. Con không bao giờ quên món nợ con đã mắc với thầy. Nhưng con không cần thì giờ để suy nghĩ; con đã quyết định từ lâu rồi.


- Quyết định thế nào?


- Đây là việc đã dứt khoát trước khi con được hay lời mời của thầy và con có một ý tứ nhỏ về các đề xuất đáng tôn trọng của thầy. Con sẽ không ở lại đây lâu nữa, và lại sống lang thang.


Niklaus tái mặt nhìn cậu với đôi mắt buồn bã.


- Thưa  thầy - Goldmund nói khẩn thiết - xin thầy hãy tin con, con không muốn làm mếch lòng thầy! Con vừa thưa với thầy điều con đã quyết. Con cần phải ra đi, cần phải du lãng, cần phải trở lại với sự tự do. Xin cho con được bày tỏ đội ơn thầy lần nữa và chúng ta xa nhau trong tình bằng hữu.


Nước mắt lưng tròng, cậu đưa bàn tay cho thầy, Niklaus không nắm bàn tay cậu, mặt mày tái mét, sải bước trong phòng mỗi lúc thêm nhanh, tiếng chân đi dộc vang bởi cơn tức giận. Goldmund chưa bao giờ thấy ông như thế.


Rồi thầy bỗng dừng chân, hết sức cố gắng tự chủ, và nói khít giữa hai hàm răng, mắt không nhìn mặt Goldmund:


- Được rồi, vậy thì hãy đi đi, nhưng đi ngay lập tức! Để ta đừng thấy mặt bao giờ nữa. Để ta đừng làm, đừng nói gì rồi sau đó ta có thể hối tiếc. Đi đi!


Môt lần nữa Goldmund lại chìa bàn tay với thầy, Niklaus ra vẻ muốn nhổ vào đó. Bấy giờ Goldmund cũng tái mặt, quay lưng lại, bước ra khỏi phòng không một tiếng động, ra ngoài mới đội mũ lên đầu, đi nhanh xuống cầu thang tựa bàn tay dọc theo tay vịn có các cột chạm trổ, bước vào gian xưởng nhỏ ở phía trông ra sân, dừng một chốc để chia tay với pho tượng của mình về Thánh Jean, rồi rời khỏi ngôi nhà trong lòng vật vã, nặng ne hơn trước đây khi từ giã lâu đài của vị hiệp sĩ và nàng Lydia đáng thương.


Ra đi càng nhanh càng hay, không nói câu nào, nói làm chi những lời vô ích! Đó là niềm an ủi duy nhất của cậu trong khi cậu vượt qua ngưỡng cửa, nhận ra con đường, nhận ra thành phố với vẻ ngoài xa lạ, các sự vật thân quen đã đổi khác một khi lòng mình buộc phải chia tay tất cả. Cậu ngoái lại, đưa mắt nhìn khung cửa ra vào; từ nay các cánh cửa của ngôi nhà xa lạ ấy đã đóng lại với cậu.


Về đến phòng mình, Goldmund chuẩn bị hành lý để ra đi.


Thực ra không có gì lắm để chuẩn bị, chỉ có việc chia tay. Trên tường treo một bức họa do chính cậu vẽ, một Đức Mẹ Đồng Trinh dịu hiền, và ở đó đây, những đồ vật của cậu, một chiếc mũ, diện để đi chơi, một đôi giày khiêu vũ, một cuốn các bức vẽ, một cây đàn luých can và một số tượng nhỏ bằng thạch cao do cậu nặn, đôi thứ quà tặng của các cô người yêu, một bó hoa giả, một cốc uống rượu màu đỏ như thể hồng ngọc, một ổ bánh mì hình trái tim đã khô khốc và một ít các đồ lặt vặt khác kiểu ấy mà mọi thứ đều có lịch sử và ý nghĩa của nó, đối với cậu vốn thân thiết mà giờ đây chỉ còn là những đồ vật cũ cồng kềnh, bởi lẽ cậu không thể mang theo bất cứ cái gì. Tuy vậy, cậu đổi chiếc cốc màu hồng ngọc cho người chủ nhà để lấy một con dao đi săn loại chắc chắn và đem ra sân mài cho bén; cậu bóp vụn ổ bánh mì cho đan gà của người láng giềng ăn, đem biếu bức họa hình Đức Mẹ Đồng Trinh cho bà chủ nhà và nhận lại của bà ta một món quà có ích: một chiếc túi đi đường đã cũ bằng da và nhiều thức ăn dự trữ. Trong túi, cậu nhét mấy chiếc sơ mi và mấy bức họa nhỏ cuộn quanh một đoạn cán chổi, thêm nữa số thực phẩm. Những gì còn lại, đành phải bỏ.


Trong thành phố, có hơn một phụ nữ cậu thấy nên đến tạm biệt. Mới hôm qua đây cậu còn nằm ngủ bên một cô trong số đó, không hề chia xẻ với cô ta các dự định của mình. Khi người ta muốn đi lang thang thì hẳn phải như thế. Không thể quá lưu tâm và vướng bận. Cậu không chào từ biệt ai ngoài những người chủ nhà. Vào chiều tối, cậu đã gặp họ để hôm sau có thể lên đường sớm.


Tuy vậy, vừa sáng cậu muốn rời ngôi nhà trọ không gây ra một tiếng động nào thì có một người đứng chờ sẵn, mời cậu ăn cháo sữa ở gian bếp. Đó là con bé gái trong nhà mới mười lăm tuổi, một đứa trẻ dịu dàng và hay đau ốm, có đôi mắt đẹp nhưng chân có tật nên đi khập khễnh. Con bé tên là Marie. Với bộ mặt mất ngủ và xanh xao, nhưng áo quần và đầu tóc tươm tất, nó mời cậu uống sữa nóng và ăn bánh mì, và dường như nó rất buồn về việc cậu ra đi. Goldmund cảm ơn cô bé. Khi rời chân và đặt lên đôi môi cô bé một nụ hôn trắc ẩn. Marie nhận nụ hôn một cách sùng kính, mắt nhắm nghiền.


 


CHƯƠNG XIII


Trong những ngày đầu trở lại cuộc sống lang thang, trong cơn khát đầu tiên, trong niềm say sưa trở lại được tự do, Goldmund phải bắt đầu học lại nếp sống nay đây mai đó, không nơi nương tựa, và thời gian không thực tại. Độc lập đối với mọi người, chỉ bị thời tiết xấu và các mùa chi phối, không có mục đích để nhắm tới không có mái nhà trên đầu, không của cải, bất cứ lúc nào cũng có thể gặp rủi ro mà không phương tự vệ, những người lang thang sống cuộc sống tự phát và dũng cảm, khốn khổ và mạnh bạo. Họ là con của Ađam bị đuổi khỏi thiên đàng, là anh em của những con vật vô tội. Hằng giờ họ nhận từ bàn tay Chúa trời những gì Người ban cho họ: mặt trời, mưa, sương mù, tuyết, nóng và lạnh, sự thoải mái và cảnh cô quạnh tuyệt vọng. Với họ, không có thời gian, không có lịch sử, cũng chẳng có các ý đồ, tham vọng, hay các thần tượng kỳ lạ về sự thịnh vượng và tiến bộ mà người ta tin một cách tuyệt vọng khi có được một mái nhà. Một người lang thang có thể âu yếm hoặc độc ác, khéo léo hoặc vụng về, dũng cảm hoặc nhát gan, trong lòng anh ta luôn luôn là một đứa trẻ, anh ta luôn sống trong một thế giới mới xuất hiện trước buổi bình minh của lịch sử, cuộc sống của anh ta luôn bị dắt dẫn bởi những bản năng và nhu cầu nguyên thủy. Cho dù anh ta thông minh hay dại dột, có một ý thức sâu sắc về sự mỏng manh và không ổn định của bất cứ cuộc sống nào và biết rằng mọi sinh vật đều kéo lê mấy giọt máu nóng của họ đi qua cái giá lạnh của những không gian vô tận, hoặc cho dù anh ta chỉ tuân theo một cách trẻ con và ngấu nghiến các mệnh lệnh từ dạ dày anh ta, luôn luôn anh ta là đối thủ và kẻ thù của người có tài sản và sống tĩnh tại, những người này thường ghét bỏ, khinh bỉ và rất sợ anh ta, bởi lẽ có nhiều điều anh ta không muốn ai nhắc lại với mình: tính chất không ổn định của bất cứ cuộc sống nào, cái chết băng giá và không thể tránh khỏi trong đó cả đất trời đều tắm mình.


Đã lâu rồi tâm hồn - Goldmund hoàn toàn thấm đậm tinh thần của cuộc sống lang thang.


Tuy vậy, trí tuệ và ý chí còn trong người cậu, bản chất nghệ sĩ của cậu đã trao cho cuộc sống ấy, một cái giá trong khi cậu làm cho nó càng cam go hơn. Sự giàu có và sinh sôi nẩy nở của cuộc sống trước hết chẳng là kết quả của những giằng co và mâu thuẫn ấy sao? Cái lý tính lạnh lùng có giá trị nếu người ta không biết đến sự say sưa? Niềm khoái cảm sẽ là gì nếu cái chết không ẩn nấp đằng sau nó? Tình yêu sẽ là gì nếu không có tình trạng muôn thuở và không ngớt xung đột các giới tính?


Mùa hè và mùa thu đã qua; rất vất vả, Goldmund sống còn trong những tháng đói ăn, rồi say sưa trên đuờng đi giữa mùa xuân êm dịu nhiều hương vị. Các mùa trôi qua nhanh quá, mặt trời mùa hè từ trên cao hôm nào cũng xuống quá sớm ở chân mây! Bao năm rồi, dường như Goldmund đã quên là trên mặt đất còn có những điều khác ngoài sự đói ăn và tình yêu, và các mùa cứ thấm thoát qua đi lặng lẽ và dễ sợ, dường như cậu đã hoàn toàn đắm chìm trong thế giới nguyên sơ về các bản năng. Tuy vậy, trong mỗi ước mơ của cậu, trong mỗi cái nhìn trải qua các suy ngẫm khi dừng chân trên các thung lũng đang rực sáng tiết xuân hoặc đượm buồn lúc sang thu, cậu chất chứa trong lòng các ảo ảnh, cậu cảm xúc với tính cách người nghệ sĩ, cậu bị dày vò bởi ý muốn vận dụng trí óc, xua tan tính phi lý của cuộc sống và trao cho nó một ý nghĩa.


Kể từ cuộc phiêu lưu đẫm máu với Victor, bao giờ cậu cũng hành trình chỉ một mình. Một hôm cậu gặp một anh bạn đã dần dần gắn bó với cậu; và về phần mình, lâu lâu sau đó cậu cũng không thể rời bỏ. Nhưng anh ta không phải loại như Victor: Đây là một người đàn ông còn trẻ, trở về sau một chuyến đi Rôma, đội trên đầu chiếc mũ lữ khách hành hương. Anh ta tên là Robert, quê quán ở hồ Constance. Con nhà thợ mỹ nghệ, anh ta có một thời theo học trường các tu sĩ Saint - Gall và từ thời thơ ấu, đã dẫn đầu một đoàn lữ khách đi hành hương ở Rôma. Điều ấy đối với anh ta đã trở thành một ý định, và gặp dịp đầu tiên anh liền tức tốc thực hiện. Anh làm thợ mộc ở xưởng của ông thân sinh, cái chết của bố đã tạo cơ hội cho anh. Bố vừa được chôn cất xong, anh nói với mẹ và chị gái không còn gì giữ anh ta lại được nữa và làm nguôi đi niềm ước ao mạnh mẽ của mình đến Rôma để chuộc các lỗi lầm của bản thân và của bố. Mẹ và chị anh có than vãn và trách cứ cũng vô ích, anh không lay chuyển; thay vì chăm sóc họ, anh lên đường, không được mẹ cầu phúc, chị anh thì buông những lời nguyền rủa giận dữ. Điều thúc đẩy anh trước hết là niềm say mê đi lang thang với một lòng mộ đạo cạn cợt, một nhu cầu nán lại ở các nơi thiêng liêng và các tổ chức sùng tín, một thú vui được tham gia các công việc thờ phụng Chúa, các lễ rửa tội, các đám ma, các lễ nhà thờ có khói hương nghi ngút, dưới ánh sáng các ngọn nến. Anh ta có biết một ít tiếng Latinh, nhưng không phải là do nhu cầu học hỏi đã thu hút tâm hồn thơ trẻ của anh, đúng hơn vốn do ham thích chiêm ngưỡng và có được những giờ phút mơ mộng bình yên trong bóng mờ mờ dưới mái các nhà thờ. Thời còn là trẻ con, anh thích phục vụ các cuộc lễ. Goldmund không coi trọng nhưng có cảm tình với anh ta, cảm thấy có chỗ gần gũi với nhau trong niềm say mê sống  nay đây mai đó và cái xứ sở xa lạ. Vậy đó, trước đây Robert đã từng hài lòng ra đi, cũng đã đến tận Rôma một cách tốt lành, nhận được sự tiếp đãi của vô số các tu viện và nhà cha xứ, trông thấy cái núi non Phương Nam, và cảm thấy hạnh phúc được ở Rôma giữa các nhà thờ và các cuộc lễ, nghe hàng trăm cuộc nhạc lễ và cầu nguyện tại những nơi nổi tiếng và thiêng liêng nhất, nhận các thánh lễ và hít thở lấy khói hương quá mức cần thiết để chuộc lại các tội lỗi thời thanh niên của mình và của ông bố. Anh ta đi trên đường hơn một năm, khi trở về ngôi nhà nhỏ của gia đình, người ta không đón tiếp anh ta như một đứa con thành đồng. Trong thời gian ấy bà chị gánh lấy các trách nhiệm và nắm quyền trông coi nhà cửa, thuê một người thợ cần mẫn rồi lấy người ấy làm chồng, lãnh đạo mọi công việc trong nhà và xưởng mộc một cách thành thạo. Anh ta trở về, nhận thấy mình hoàn toàn không còn cần thiết nữa, và cũng không ai tìm cách giữ khi anh ta sớm ngỏ ý lại ra đi. Anh ta không lấy thế làm buồn, bàn với mẹ trao cho một món tiền nhỏ bà đã tiết kiệm được lại mặc bộ trang phục lữ khách, và không xác định mục đích, anh ta lại lao vào một cuộc hành hương mới qua vùng Đất Thánh với tính cách một lữ khách giáo hồi. Trên nguời anh ta đeo các huy hiệu kim loại, kỷ niệm của những nơi hành hương nổi tiếng, và các chuỗi tràng hạt đã được ban phép lành.


Trên đường đi như vậy, anh ta gặp Goldmund. Anh ta theo chân cậu suốt một ngày, cũng trao đổi các cảm tưởng đi đường, có bận băng qua một thành phố nhỏ đã lạc mất hút với cậu rồi lại gặp ở một nơi khác, và cuối cùng thì cặp kê với nhau, thành bạn đồng hành thông cảm và ân cần giúp đỡ nhau. Goldmund được anh ta rất hài lòng, anh ta tranh thủ bằng cách giúp đỡ cậu những việc lặt vặt, mến mộ trình độ hiểu biết khoa học, trí thông minh và tính dũng cảm của cậu, yêu quý tính trung thực và chịu phục sức khỏe và sức mạnh của cậu. Họ quen tính nết của nhau, bởi lẽ về phần mình Goldmund cũng tốt tính, chỉ có một điều cậu không chịu nổi: Khi trở lại đắm mình trong nỗi buồn và các ý tưởng u ám, cậu một mực không nói không rằng và coi như anh bạn kia không hề có mặt; bấy giờ thì đừng có trò chuyện, hỏi han, an ủi, phải để cho cậu được lặng yên. Robert sớm hiểu được bạn. Từ khi anh ta nhận thấy Goldmund thuộc làu nhiều thơ bằng tiếng Latinh và nhiều bài thơ, tư khi anh ta nghe cậu giải thích các bộ mặt dưới cổng một nhà thờ lớn, từ khi anh ta thấy trên mặt phẳng một bức tường họ đứng tựa nghỉ chân, cậu nhanh tay phác họa những hình người theo cỡ tự nhiên, anh ta coi ông bạn đồng hành của mình là một người được Chúa trời ân sủng và gần như có ma lực quyến rũ. Robert cũng nhận ra cậu là chàng trai được các cô ưu ái và biết cách tranh thủ họ bằng một cái nhìn hoặc một nụ cười; điều này ít làm cho anh ta thích thú nhưng buộc anh ta phải tôn phục cậu.


Cuộc hành trình của họ một hôm bị gián đoạn một cách bất ngờ. Đi đến gần một làng nọ, họ gặp một đám đông nông dân vũ trang gậy gộc, cây sáo và đòn càn tiếp đón, trong khi người cầm đầu la hét từ xa bảo họ phải lập tức quay lui, đi biệt tăm đừng trở lại không thì họ sẽ bị tiêu diệt. Goldmund dừng lại, muốn xem để biết sự thể ra sao, lập tức liền bị ném một cục đá vào giữa ngực. Cậu đang đưa mắt tìm thì Robert đã lẩn trốn như một kẻ bị ma ám. Đám nông dân bước tới với thái độ uy hiếp; Goldmund chỉ còn trông theo anh bạn chạy trốn. Robert đứng đợi, run sợ, ở giữa đồng ruộng dưới một cây thánh giá có tượng Chúa cứu thế treo mình.


- Cậu chạy trốn như một vị anh hùng - Goldmund vừa nói vừa cười - nhưng lũ đồ tồi ấy có gì trong đầu chúng nó? Là chiến tranh chăng? Như thể chúng đưa quân canh có vũ trang ra khỏi ổ của chúng và không muốn cho một ai vào làng! Tôi không hiểu có điều gì đằng sau tất cả những chuyện ấy! Cả hai người đều không hiểu - chỉ qua ngày hôm sau, ở một trang trại cách biệt, họ mới rõ chuyện trang trại ấy gần một ngôi nhà lá, một chuồng bò, một nhà kho, chung quanh có các đụn cỏ dự trữ và nhiều cây ăn trái, tất cả như chìm trong một bầu không khí im lặng kỳ lạ: Không một tiếng nói, không một bước chân, không có tiếng la hét của trẻ con, không có tiếng lưỡi phồ phạt cỏ, tuyệt nhiên chẳng nghe gì cả. Trong một vùng đồng cỏ, một con bò cái vừa ăn cỏ vừa kêu rống, rõ là đã đến lúc cần vắt sữa cho nó.


Hai người đến gần ngôi nhà, gõ cửa: không có tiếng đáp lại. Họ ra phía chuồng bò, cổng chuồng mở toang, bên trong trống không. Họ đến chỗ nhà kho, ánh mặt trời chiếu sáng trên mái rạ mốc meo, cũng chẳng gặp một ai. Ngạc nhiên và lo lắng trước quang cảnh thê lương, họ lại đập cửa ngôi nhà một lần nữa: vẫn không ai đáp lại. Goldmund tìm cách mở cửa, lấy làm lạ là cửa không đóng. Cậu đẩy một cánh và bước vào nhà, thấy im ỉm trong bóng tối. Cậu nói to “Xin chào! Có ai ở nhà không?” Nhưng tất cả vẫn lặng lẽ. Robert đứng trước cửa. Goldmund tò mò, đi vào sâu hơn. Trong phòng bốc lên một mùi kỳ lạ khó chịu và kinh tởm. Bếp đầy tro, cậu lại gần, thổi một hơi. Bên dưới, các đốm lửa lấp lánh trong các khúc củi đã đốt cháy. Bấy giờ cậu trông thấy ở góc phòng trong bóng tối mờ mờ nơi lò sưởi, có một hình thù người ngồi, ai đó ngồi ở một chiếc ghế và đang ngủ, dường như một bà già. Có kêu thét cũng chẳng được gì, ngôi nhà như thể có ma. Cậu thân mật vỗ vai người đàn bà, bà ta không cử động. Bấy giờ cậu trông thấy bà ngồi giữa một mạng nhện bết vào đầu tóc và giăng trên các đầu gối. “ Bà ta chết rồi” , cậu tự nhủ, hơi rùng mình. Để biết rõ sự thực, cậu ra sức thổi vào đám tro tàn cho lửa lóe sáng rồi đốt cháy bùng lên một mớ dăm gỗ để soi rõ bộ mặt của bà già. Dưới mái tóc xám tro, cậu nhận ra gương mặt tái xanh xác chết; một con mắt vẫn mở, ném một cái nhìn lờ đờ và trống vắng. Người đàn bà đã chết, vẫn ngồi trong chiếc ghế. Quái lạ! Không còn có thể làm gì được nưa.


(còn tiếp)


Nguồn: Narcisse và Goldmund, nguyên tác tiếng Đức: Narziss und Goldmund. Tiểu thuyết của Hermann Hesse, Nobel 1946. Viễn Nguyên dịch từ bản dịch tiếng Pháp của Fernand Delmas: Narcisset Goldmund. NXB Calmann - Levy. Paris, 1993. NXB Lao động, 2001. Rú từ Hợp tuyển Văn học Đức, tập 4. Lương Văn Hồng và Triệu Xuân chủ biên. NXB Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info


 


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cõi mê - Triệu Xuân 25.03.2020
Giấy trắng - Triệu Xuân 25.03.2020
Anh em nhà Karamazov - FYODOR Mikhailovich Dostoyevsky 16.03.2020
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 15.03.2020
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 15.03.2020
Đêm Sài Gòn không ngủ - Trầm Hương 10.03.2020
Trong cơn lốc xoáy - Trầm Hương 10.03.2020
Ông cố vấn - Hữu Mai 26.02.2020
Đẻ sách - Đỗ Quyên 15.02.2020
Hòn đất - Anh Đức 13.02.2020
xem thêm »