Một hôm, cậu đi ngang qua một nhà thờ, bước vào cổng có các hốc tường do những chiếc cột nhỏ trang trí chống đỡ, thấy ở đó có nhiều pho tượng bằng đá rất xa xưa: những bộ mặt các thiên thần, các tông đồ và các nhân vật tử vì đạo như vẫn thường thấy ở tu viện Mariabronn thân quen. Trước đây, hồi còn trẻ tuổi, cậu đã thích thú nhìn các pho tượng ấy mà vẫn không thấy hứng thú với chúng. Đối với cậu, dường như chúng đẹp và oai nghiêm nhưng hơi quá trang trọng, có phần cứng nhắc và mang tính gia trưởng. Tiếp sau đó, bước qua khỏi thời kỳ đầu có ý nghĩa to lớn của mình, cậu say mê pho tượng Đức Mẹ Đồng Trinh dịu hiền và u buồn của thầy Niklaus thì nay cậu nhận thấy các bộ mặt bằng đá hoa mỹ của các nghệ sĩ già xứ Franconie quá nặng nề, đông cứng và xa xôi, ở một khoảng cách quá xa. Cậu đánh giá các pho tượng kiểu ấy thấp, và nhận thấy trong phong cách của thầy Niklaus một nghệ thuật sống động và gần gũi hơn, dễ gây xúc động hơn nhiều: Nay trở về từ cuộc hành hương thứ hai, trải qua một thế giới đã cho cậu nhiều cách nhìn và in trong tâm hồn cậu những vết sẹo nóng bỏng cùng với các dấu ấn của bao cuộc phiêu lưu và từng trải, trong cơn khát xót xa được tĩnh tâm và có những sáng tạo mới, các hình ảnh cổ kính và khắc khổ ấy bỗng làm cho cậu xúc cảm với một sức mạnh không sao cưỡng lại được. Cậu trầm tư trước các pho tượng đáng tôn quí ấy, từ đó trung tâm của môt thời đại lâu rồi đã qua vẫn tiếp tục vang vọng, và ở đó các nỗi lo âu và niềm hứng khởi của các thế hệ xa xưa đã mất dạng, đông cứng trong đá vẫn còn lưu mãi sau bao thế kỷ chống chọi với tính bất ổn định của số phận con người. Nơi con tim cậu trở nên hoang dã, cảm nhận về một sự tôn trọng được đánh thức dậy trong một rung động nhún nhường, đồng thời với nỗi gớm ghiếc về cuộc đời mình đã bị hoài phí và suy mòn. Cậu quyết làm những gì mà trải qua một thời gian không cùng cậu đã không làm cậu tìm một phòng nghe xưng tội để thú nhận các lỗi lầm của mình và tự nhận lấy các hình phạt.
Trong nhà thờ có nhiều phòng nghe xưng tội nhưng không có một vị linh mục nào; họ đều đã chết hoặc đang nằm bệnh viện, hoặc nữa đã lẩn trốn vì sợ lây bệnh. Nhà thờ hoang vắng, các bước chân đi dội vang dưới các mái vòm. Cậu quì gối ở một phòng nghe xưng tội trống không, nhắm nghiền mắt và lẩm nhẩm trong miệng qua tấm lưới: “Chúa tôi! Con ra nông nỗi này! Nay con trở về từ một thế giới đã biến con thành một kẻ vô dụng và độc ác. Con đã hoài phí những năm tuổi trẻ của con như một kẻ hư đốn, những gì còn lại với con quả là chẳng được mấy. Con đã giết người, lấy cắp, phạm tội thông dâm, con đã sống vô tích sự và ăn bánh mì cướp của những người khác. Chúa tôi! Tại sao Người tạo ra chúng con như vậy, và tại sao Người dắt dân chúng con theo những con đường như thế? Chúng con không phải là con của Người sao? Con trai của Người chẳng đã chết vì chúng con? Không có các thiên thần và các vị thánh để hướng dẫn chúng con sao? Hay đó chỉ là những câu chuyện hoa mỹ bày đặt ra để kể cho trẻ con và khiến cho bản thân các vị linh mục cười thầm? Chúa tôi, Người làm cho con bối rối! Người làm hỏng sự sáng tạo của Người và không giữ cho thế giới của Người an bài trong trật tự. Con đã trông thấy những ngôi nha và những đường phố đầy rẫy người chết; con đã thấy những kẻ giàu có cố thủ trong nhà họ hoặc trốn đi, và những người nghèo thì bỏ mặc anh em họ chết không được chôn cất, ngờ vực lẫn nhau và giết hại người Do Thái người như những đàn súc vật. Con đã trông thấy bao nhiêu người vô tội bị hành hình và lắm kẻ độc ác tha hồ phè phỡn trong cảnh sung túc. Vậy có phải chúng con đã bị lãng quên và bỏ rơi không? Người hoàn toàn chán ngán chưa với công trình ấy của Người? Có phải Người muốn cho chúng con, tất cả đều chết không?
Sau đó, đi ra cổng, thở dài, cậu ngắm nhìn các pho tượng thầm lặng, các thiên thần và các vị thánh mảnh dẻ, trong các nếp áo cứng đờ, siêu nhân, không động lòng, không thể hiểu thấu được; tuy vậy là do bàn tay và khối óc của con người đã sáng tạo nên. Nghiêm khắc và nặng nề, các pho tượng ấy đứng trên cao, trong các hốc tường chật chội, không sao với đến được bằng bất cứ lời cầu nguyện, bất cứ câu hỏi nào; tuy vậy chúng vẫn tồn tại ở đó trong phẩm giá và vẻ đẹp của chúng, cứ thế trải qua bao thế hệ con người đã mất đi, như thể một niềm an ủi không cùng, một chiến thắng đối với cái chết và nỗi tuyệt vọng. A! Giá mà ít ra, Rébecca tội nghiệp, cô gái Do thái xinh đẹp, Lene khốn khổ chết cháy trong lều, nàng Lydia quyến rũ, và thầy Niklaus, họ cũng đứng đó! Nhưng rồi một ngày kia, họ sẽ được dựng lên vĩnh hằng; cậu, bản thân cậu sẽ làm tượng họ, và các hình dáng ấy nay có ý nghĩa đối với cậu là tình yêu và đau khổ, lo âu và say đắm, chúng sẽ trình diện với các thế hệ tương lai không tên và không lịch sử, là những biểu tượng âm thầm và câm lặng của cuộc sống con người.
CHƯƠNG XV
Cuối cùng, cậu tới đích. Goldmund bước vào thành phố hằng mong mỏi của mình, cũng qua chiếc cổng bao nhiêu năm trước đây cậu đã từng qua để đi tìm thầy Niklaus. Trên đường, càng gần đến khu nhà tòa giám mục, cậu đã nghe nhiều tin tức mới, biết rằng nạn dịch hạch cũng đã xục ở đây và có lẽ vẫn còn; người ta kể cho cậu hay các cuộc rối loạn và nổi dậy, rằng một khâm sai của nhà vua đã đến lập lại trật tự, thi hành các biện pháp cứu trợ chung, bảo hộ tài sản và cuộc sống của thị dân. Bởi lẽ từ khi bắt đầu nạn dịch, giám mục đã rời bỏ thành phố, đến ở rất xa tại một lâu đài của mình giữa vùng nông thôn. Người khách đi đường không mấy quan tâm đến các tin tức ấy. Miễn là thành phố còn đó, còn xưởng điêu khắc mà cậu muốn trở về làm việc, ngoại dư đối với cậu không quan trọng. Cậu đến nơi thì dịch hạch đã chấm dứt, người ta chờ đón vị giám mục trở lại, vui mừng với việc ngài khâm sai ra đi và vãn hồi cuộc sống yên bình ngày trước.
Gặp lại thành phố, lại trông thấy cảnh vật thân quen, Goldmund cảm thấy trong lòng ngập tràn một làn sóng xúc động mà cho đến nay cậu chưa hề trải qua; và để làm chủ bản thân, cậu ra vẻ trang nghiêm, một bộ mặt không tự nhiên đối với cậu. Ôi! Tất cả ở đây đều nguyên vẹn: Các cổng vào thành phố, bồn nước xinh đẹp, ngôi tháp to bè và thấp của nhà thờ lớn, và nhà thờ Sainte - Marie vẫn mới với kiến trúc nhẹ nhàng, hồi chuông lanh lảnh của Saint-Laurent và sân bãi lớn trước chợ đầy ánh sáng. Tất cả chờ đón cậu! Tốt lành làm sao! Trên đường đi, chẳng đã có lần cậu mơ màng nghĩ là đến nơi, mình sẽ húc phải những sự vật chưa quen biết và đã biến đổi trong một thành phố có phần bị tàn phá và đổ nát, có phần thay hình đổi dạng với những ngôi nhà mới kỳ quặc, trang trí không đẹp mắt. Đi qua các đường phố, cậu ứa nước mắt nhận ra hết ngôi nhà này đến ngôi nhà khác. Chung qui lại dù sao cũng chẳng đáng mong muốn những con người cứ quen ru rú này vẫn ở tại các ngôi nhà xinh xắn và yên ổn của họ, với cuộc sống thị dân khép kín, với cảm giác an bài và vững lòng dưới mái ấm gia đình, trong các phòng và các xưởng, giữa vợ con, các gia nhân và các bà con láng giềng của họ.
Đã xế chiều. Ở phía còn le lói ánh nắng trên đường phố, các ngôi nhà, biển hiệu các quán ăn và các nghiệp đoàn, các cửa ngõ chạm trổ và các chậu hoa tỏa sáng ấm áp; Không có gì khiến người ta nghĩ rằng cũng ở thành phố này, cái chết và nỗi âu lo điên dại đã từng ngự trị. Dòng sông trôi xuôi lấp lánh các sắc màu xanh nhạt dưới các vòm cầu ầm ĩ. Goldmund ngồi tựa bên hàng lan can trong chốc lát. Dưới nước, trong ánh pha lê lục diệp phơn phớt, các đàn cá sẫm màu lượn qua lại như những cái bóng, hoặc hầu như đứng yên đưa mũi cản lại dòng chảy; cũng như trước, trong bóng tối các độ sâu, luôn ánh lên đó đây các phản quang vàng chói và sức lôi cuốn người ta mơ mộng. Có thể đã say sưa ngắm nhìn cũng những dòng sông, cây cầu, các thành phố đẹp đẽ như vậy ở những nơi khác, vậy mà lâu lắm rồi, nay cậu có cảm tưởng chưa bao giờ mình được trông thấy những gì tuyệt vời và gợi cảm đến như thế.
Hai chàng trai nhà hàng thịt dắt một con dê, không ngớt liếc mắt và buông ra các lời chọc ghẹo với một cô đầy tớ gái đứng trên gác đang phơi áo quần. Tất cả đã diễn ra nhanh quá! Cách đây không lâu, nơi đây người ta đốt lửa để phòng dịch, và bọn lao công bỉ ổi ở các bệnh viện tha hồ làm mưa làm gió. Nay thì cuộc sống đã lấy lại nhịp điệu bình thường, người ta cười , người ta đùa cợt, về phần cậu đâu có khác gì? Cậu ngồi tựa nơi đây trong niềm vui trở về, mở rộng lòng mình tràn đầy hàm ân đối với các cư dân này quen sống tĩnh tại, như thể Lene hay nàng công chúa Do Thái chẳng có một ai chết. Mỉm cười và đứng lên, cậu tiếp tục đi, - cho đến khi gần tới phố nơi thầy Niklaus ở, lại bước chân trên nẻo đường những năm trước đây hằng ngày cậu đã đi làm việc, tim cậu thắt lại, càng xúc động. Cậu đi nhanh hơn. Ngay lúc này, cậu muốn trình diện với thầy và được biết nên thế nào. Không thể chờ đợi nữa, cậu thấy không thể lùi lại ngày hôm sau. “Thầy có còn giận mình không? Chắc là thầy già lắm, nhưng chẳng sao miễn thầy vẫn trụ được và còn đây. Mọi sự vẫn tốt lành nếu nhà điêu khắc và xưởng của thầy vẫn còn”. Trong những ý nghĩ hối hả ấy, vào lúc cuối cùng, cậu lo mình có thể đến quá muộn. Đứng trước cánh cửa quá quen thuộc và nắm tay vặn, cậu sợ cửa đóng im ỉm. Có điềm không lành? Trước đây, không khi nào ban ngày cửa đóng thế này. Gõ cửa, cậu chờ, trong lòng xao xuyến.
Cũng u già trước đây đã đón cậu khi cậu đến ngôi nhà này, ra mở cửa. Bà không xấu xí đi nhưng già hơn và quăn quạu hơn. Bà không nhận ra cậu.Với giọng lo âu, cậu hỏi tin tức về thầy. Ngờ vực, bà già nhìn cậu đờ đẫn.
- Thầy ư? Ở đây không có thầy nữa. Ông hãy đi đi. Người ta không để ông vào nhà đâu.
Bà ta muốn đẩy cậu ra. Nắm tay bà, cậu thét to:
- U Margrit, vì lòng kính yêu Chúa, u hãy nói cho tôi biết chứ! Tôi là Goldmund đây. U không nhận ra tôi sao? Tôi phải gặp thầy Niklaus!
Nhìn cậu với đôi mắt viễn thị gần tàn tạ, bà lão đáp lại, tỏ ý không mặn mà tiếp đón, thậm chí có vẻ chống đối:
- Thầy Niklaus không còn nữa. Ông ấy qua đời rồi. Anh hãy xéo đi, tôi không đứng đây lâu đâu.
Nhận thấy bao nhiêu ước mong của mình đã sụp đổ, trong khi bà già theo sau và không ngớt la lối, cậu chạy thẳng qua dãy hành lang mờ tối để đến xưởng. Cửa đóng chặt. Vẫn nghe đuổi theo ở sau lưng những lời rền rĩ và la mắng của bà già, cậu bước lên cầu thang. Trong căn tiền sảnh quen thuộc, trong bóng tối, các pho tượng vẫn đứng đó, do nhà nghệ sĩ đã tập hợp lại. cậu gọi Lisbeth với giọng vang như sấm.
Cửa phòng mở ra, Libeth bước đến. Ngay với cái nhìn đầu tiên nhận ra nàng, lòng cậu se lại. Từ lúc cậu thấy cửa đóng, thật hãi hùng, tất cả trong ngôi nhà này đối với cậu có vẻ hư ảo như trong một giấc mộng đè nặng lên tâm tư, nhưng khi trông thấy Lisbeth thì cậu rùng mình ớn lạnh ở sống lưng. Nàng Lisbeth xinh đẹp và kiêu hãnh đã trở thành một gái già dữ tợn, lưng còng, sắc mặt vàng võ và đau yếu, trong bộ trang phục màu đen tầm thường, mắt nhìn lẩn tránh, thái độ sợ sệt.
- Xin lỗi cô, u Margrit không muốn cho tôi vào. - Cậu nói! - Cô không nhận ra tôi sao? Tôi là Goldmund đây. Ôi! Hãy cho tôi biết, có đúng là ông thân sinh cô đã qua đời?
Qua đôi mắt nàng, cậu biết nàng nhận ra mình, đồng thời cảm nhận cậu đã không để lại nơi đây những kỷ niệm tốt lành.
- A! Ông là Goldmund. - Nàng thốt, trong giọng nói ấy cậu thấy còn hơi hướng của tính cao ngạo trước đây ở nàng. - Ông đến đây chẳng để làm gì nữa, bố tôi chết rồi.
- Còn xưởng điêu khắc? - Cậu không kìm được câu hỏi ấy, bật ra.
- Xưởng ư? Đã đóng cửa. Nếu ông muốn tìm việc, ông nên đi nơi khác.
Cậu cố trấn tĩnh lại.
- Cô Lisbeth, - cậu nói với giọng thân tình - tôi không đi tìm việc. Tôi chỉ muốn đến chào thầy và chào cô. Điều tôi vừa nghe khiến tôi rất đau lòng. Nếu một người học trò vốn biết ơn ông thân sinh của cô có thể giúp cô việc gì đó, mong cô hãy bảo, đối với tôi đó là một niềm vui. Ôi! Cô Lisbeth, thấy cô trong cảnh huống này, đau khổ như thế này, tôi rất xót xa!
Nàng lùi vào trong cửa.
- Cảm ơn, - nàng nói. - Ông không thể giúp gì cho cha tôi đâu, cũng như cho tôi. U Margrit sẽ đưa ông ra.
Giọng nói của nàng đanh, vẻ tức giận, pha chút sợ sệt. Nếu có can đảm, hẳn Lisbeth đã đuổi cậu ra khỏi nhà không thương tiếc.
Cậu bước ra, bà già đẩy cả hai chiếc chốt khóa chặt cửa sau lưng cậu. Cậu nghe tiếng lách cách như thể người ta đóng nắp một chiếc quan tài.
Đi chầm chậm, cậu trở lại chỗ hàng lan can bên bờ sông, ngồi tựa vào chỗ cũ, nhìn xuống dòng nước. Mặt trời đã lặn, một luồng gió lạnh thổi từ dưới sông lên, kè đá nơi cậu ngồi cũng lạnh.
Hàng kè lại rơi vào yên lặng; nước chảy qua các chân cầu ì ầm, dòng sông sâu u tối không còn lóe lên nữa các ánh phản chiếu vàng chói. “Ôi! - cậu tự nhủ - giá như ta rời khỏi hàng lan can và biến mất dưới dòng sông!”
Cái chết lại lởn vởn. Một giờ đồng hồ trôi qua; hoàng hôn buông xuống. Lúc này, cậu có thể khóc. Cau ngồi đó, những giọt nước mắt nóng ấm ứa tràn, rơi xuống bàn tay và đầu gối cậu. Cậu khóc cái chết của thầy, vẻ đẹp mai một của Lisbeth cậu khóc cho Lene, Robert và cô gái Do thái, cậu khóc cho tuổi trẻ của mình đã mất, đã hoài phí.
Đã khuya, cậu ghé vào một quán ăn, nơi trước đây cậu thường chè chén với bè bạn. Bà chủ quán nhận ra cậu. Theo yêu cầu, bà ta dọn cho cậu một suất bánh mì và có lòng mời cậu một cốc vang. Bánh mì cũng như rượu vang, cậu không nuốt trôi. Cậu ngủ qua đêm trên một chiếc ghế dài ở quán ăn. Sáng ra, bà chủ quán đánh thức cậu dậy. Cậu cảm ơn rồi ra đi, vừa đi vừa nhai mẩu bánh mì.
Cậu đi về phía chợ cá, nơi trước đây cậu có thuê một căn phòng làm chỗ tá túc. Gần bồn nước, mấy người bán cá bày hàng tươi sống của họ. Cậu nhìn những con vật xinh đẹp bơi trong các thùng nước. Trước đây cậu thường quan sát như thế, trong tâm tư cậu thường nẩy sinh chút lòng trắc ẩn đối với chúng và đâm ra nổi giận với những người bán cá và khách hàng. Cau nhớ lại trước đây mình đã dạo chơi ở đây, ngắm nhìn và thương tình các chú cá mà cảm thấy buồn. Từ ấy, bao ngày đã trôi qua, biết bao nước cũng đã tuôn chảy trong lòng sông. Cậu rất rầu lòng, cậu vẫn còn nhớ điều đó, nhưng vì đâu mà buồn thì cậu không biết. Cứ thế các cảm giác u sầu đau đớn, thất vọng, vui vẻ diễu qua; chúng nhạt đi tái xám, mất dần chiều sâu và ảnh hưởng, rồi cuối cùng một ngày kia đến, cậu không tìm thấy lại được nữa những gì trước đây ai đã làm cho cậu bao đau khổ. Các nỗi đau cũng vậy, như những chiếc lá lìa cành và héo đi. Nỗi đau hôm nay của cậu cũng sẽ tàn héo sao? Phải chăng có ngày rồi nỗi xót xa của cậu vì thầy đã qua đời, ra đi vẫn tức giận cậu sẽ trở nên vô bổ? Phải chăng không còn một nhà xưởng nào mở cửa nữa cho cậu để cậu có thể tận hưởng ở đó niềm khoái cảm sáng tạo và cất khỏi tâm tư mình gánh nặng về mọi hình ảnh ấy? Đúng, chắc chắn thế, nỗi buồn này, nỗi tuyệt vọng chua chát này rồi cũng qua đi, một ngày nào đó sẽ chỉ còn là ký ức xa xưa đang tan biến, và cậu không nhớ tới nó nữa. Không có gì vững bền, nỗi đau cũng vậy thôi.
Trong khi nhìn cá bơi và mải mê suy nghĩ, cậu nghe có ai kín đáo gọi tên mình.
“Goldmund !” - Tiếng gọi nghe dè dặt. Cậu quay lại, đó là một cô gái mảnh khảnh ốm o, có đôi mắt u buồn xinh đẹp. Cậu không biết cô ta.
- Goldmund! Anh đó ư? - Giọng nói có vẻ ngập ngừng. - Anh trở về thành phố này từ bao giờ? Anh không nhận ra em sao? Em là Marie.
Nhưng cậu vẫn không nhớ ra. Cô ta phải nhắc lại mình là con gái người chủ nhà trước đây cậu đã ở trọ và rằng bữa sớm cậu ra đi, cô đã nấu sữa mời cậu ở gian nhà bếp. Nhắc lại chuyện đó, cô đỏ mặt bẽn lẽn.
Phải rồi, đúng là Marie, cô gái bé nhỏ gầy gò, chân đi cà nhắc, bấy giờ đã quan tâm đến cậu, luôn trìu mến và dè dặt. Cậu liền nhớ lại tất cả: Cô gái chờ đón cậu từ sớm tinh mơ, tỏ ra buồn rầu về việc cậu ra đi; nấu sữa mời cậu ăn, cậu đã trao, và em đã nhận một nụ hôn với lòng ái mộ và ưu tư như trong một lễ cưới. Cậu chỉ nhớ một lần rồi thôi. Hồi ấy em còn là một cô bé. Nay em đã lớn, có đôi mắt đẹp nhưng vẫn đi khập khiễng, và có vẻ gầy. Cậu trao bàn tay cho em, sung sướng vì dù sao trong thành phố cũng còn có một người nhớ đến mình và vẫn giữ lòng thương mến.
Marie kéo cậu đi; cậu chỉ cưỡng lại yếu ớt. Trong căn phòng còn treo ở tường bức họa cậu đã vẽ, còn cả chiếc cốc màu đỏ hồng ngọc để trên bệ gần lò sưởi, cậu phải ở lại ăn sáng; người ta còn mời cậu ở lại chơi vài hôm, vui mừng vì đã gặp lại cậu. Tại đây, cậu được biết tin về những gì đã xảy ra ở nhà thầy. Niklaus không bị nạn dịch hạch mang đi mà chính là nàng Lisbeth xinh đẹp đã mắc bệnh, thậm chí rất nặng, ông thân sinh kiệt sức vì chăm sóc con gái, rồi qua đời trước khi cô lành hẳn bệnh. Nàng thoát khỏi hiểm nghèo nhưng mất đi vẻ đẹp vốn có.
- Xưởng điêu khắc nay bỏ trống - ông chủ nhà cho biết. - Đối với một nghệ sĩ có tài, đã sẵn ở đó một mái nhà tốt lành và khối tiền bạc. Goldmund, nên nghĩ đến chuyện ấy đi! Nàng không đáp lại “không” đâu. Nàng không có sự lựa chọn nào khác.
Cậu cũng biết các sự kiện đã xảy ra thời nạn dịch. Dân chúng đã đốt cháy một bệnh viện và dùng bạo lực chiếm các nhà giàu có để đốt phá rối loạn, đức giám mục chạy trốn. Bấy giờ Hoàng đế đang ngự giá ở những vùng lân cận, đã cử đến một khâm sai, bá tước Heinrich. Con người ấy quả là gan dạ, với một số kỵ sĩ và quân lính ông đã lập lại trật tự trong thành phố. Và người ta mong vị giám mục trở về. Ngài bá tước đã có những đòi hỏi quá ngặt nghèo đối với các thị dân, người ta cũng quá ớn mụ nhân tình của ông ta. Đáng đem mụ Agnés ấy ném vào vạc dầu ở địa ngục. Ôi, chẳng bao lâu nữa họ cũng ra đi thôi. Thay vì đức giám mục tốt bụng, hội đồng thành phố đã chán ngấy tay quan triều và kẻ võ biền ấy, vốn được Hoàng đế ân sủng, luôn tiếp các sứ thần và các đoàn đại biểu không khác gì một vị hoàng tử.
Đến lược vị khách kể lại những gì mình đã trải qua. Buồn rầu, cậu nói:
- Ôi! Đây là những chuyện người ta chẳng nói đâu. Tôi đã lê gót khắp chốn, nơi nào cũng bị nạn dịch, xác chết giăng đầy, người người hốt hoảng, suy sụp vì lo âu. Tôi may mắn còn sống sót. Có lẽ một ngày nào đó người ta sẽ quên hết. Tôi trở về thì thầy tôi đã qua đời. Xin cho tôi ở đây mấy hôm; lại sức, tôi lại lên đường.
Đâu phải vì muốn nghỉ dưỡng sức mà cậu nấn ná. Cậu còn ở vì cậu thất vọng và do dự, vì các kỷ niệm những thời được hạnh phúc làm cho thành phố đối với cậu trở nên thân thiết, và bởi vì tình yêu của em Marie đáng thương khiến cậu thấy tốt lành. Cậu không có gì đền đáp lại, chỉ có chút lòng nhân từ, chút lòng trắc ẩn; thái độ tôn thờ thầm lặng và khiêm nhường của cô gái sưởi ấm lòng cậu. Nhưng còn hơn tất cả điều giữ cậu lại chính là niềm khao khát được trở lại làm nghệ sĩ, cho dù không có xưởng, thậm chí với những phương tiện tạm bợ.
Mấy hôm liền, Goldmund chỉ vẽ không làm gì khác. Marie sắm cho cậu giấy và ngòi bút; cậu ở trong phòng nhiều giờ, trải rộng những tờ giấy khổ lớn, vẽ những khuôn mặt tinh tế, lúc thì phác họa vội, lúc thì nắn nót với bao yêu thương, thể hiện ra trên giấy các hình ảnh tuôn tràn từ tâm khảm mình. Nhiều bận cậu vẽ gương mặt Lene và nụ cười của em đầy hài lòng, tình yêu và tính hung dữ của em sau cái chết của kẻ du thủ du thực. Cậu ghi lại đúng nét mặt ấy trải qua đêm cuối cùng khi em đang lịm đi, sắp trở về nơi cát bụi. Cậu vẽ một bé trai nông dân cậu đã trông thấy nằm chết, nắm chặt hai bàn tay nhỏ nhắn trên ngưỡng cửa nhà bố mẹ nó. Cậu vẽ một chiếc xe chất đầy xác người chết do ba con ngựa gầy tha thưởng kéo, theo sau có mấy người phu tay cầm những chiếc sào dài, liếc nhìn qua các kẽ những chiếc mũ chụp đen chỉ để hở mắt. Nhiều lần, cậu lấy lại hình ảnh Rébecca, người con gái Do Thái dong dỏng cao với đôi mắt rầu rĩ, cái miệng hẹp và tự hào, gương mặt bị các nỗi đau và bất bình tàn phá vẫn lộ vẻ cao ngạo và chua chát, bóng hình trẻ trung và duyên dáng ấy lẽ ra chỉ để dâng hiến cho tình yêu. Cậu cũng tự họa hình ảnh bản thân mình, anh chàng đi lang thang, con người say đắm tình yêu, kẻ trốn chạy đã thoát khỏi lưỡi hái của tử thần, người vũ công đã tham gia vào các cuộc chè chén trác táng của bọn đàn ông khát thèm sự sống. Nghiêng mình trên tờ giấy, cậu say sưa vẽ lại gương mặt con người sống yên ổn và kiêu kỳ của Lisbeth đúng như cậu đã biết trước đây, bộ mặt nhăn nhó của u già Margrit, diện mạo đáng nể sợ và thân yêu của thầy Niklaus. Nhiều lần, cậu cũng phác họa với những nét bút thanh mảnh và mò mẫm một hình bóng phụ nữ cao lớn, Bà Mẹ của trái Đất, ngồi với hai tay ôm bầu vú và đôi mắt u buồn trên môi thoáng hiện một nụ cười. Trải mình với các cách nhìn, cảm nhận bàn tay mình tạo cho chúng một hình dáng, làm chủ sự thể hiện ấy đối với cậu là một điều tốt lành vô hạn. Trong mấy hôm, cậu vẽ tràn hết các tờ giấy Marie đã đem đến cho cậu. Từ tờ giấy cuối cùng, cậu cắt ra một mảnh với mấy nét bút cậu khắc họa lên đó gương mặt Marie, đôi mắt xinh đẹp của em và khuôn miệng như muốn từ bỏ mọi sự đời. Cậu tặng em bức vẽ ấy.
(còn tiếp)
Nguồn: Narcisse và Goldmund, nguyên tác tiếng Đức: Narziss und Goldmund. Tiểu thuyết của Hermann Hesse, Nobel 1946. Viễn Nguyên dịch từ bản dịch tiếng Pháp của Fernand Delmas: Narcisset Goldmund. NXB Calmann - Levy. Paris, 1993. NXB Lao động, 2001. Rút từ Hợp tuyển Văn học Đức, tập 4. Lương Văn Hồng và Triệu Xuân chủ biên. NXB Văn học sắp xuất bản.
www.trieuxuan.info
|