tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Tiểu thuyết
26.01.2010
Vũ Hạnh
Ngôi trường đi xuống

6


Qua năm thứ hai ông Tài rút được kinh nghiệm lớn: giáo sư mới là yếu tố quyết định cho sự tồn vong của một học đường. Theo như lý luận của ông, đa số trường học ngày nay đều nêu khẩu hiệu “Thương mãi trên hết”, vậy thì người giáo sư giỏi, đúng với thời thượng, có nghĩa là người rao hàng tài nhất mà thôi. Như thế, muốn tìm giáo sư lý tưởng phải theo một định lý đảo, tức là tìm những vị nào không được các trường hiện thời thừa nhận. Ông bèn nhờ các văn phòng những những tư thục lớn cho biết danh sách những vị giáo sư đã bị mời ra khỏi các lớp dạy. Lập tức ông được toại nguyện, bởi vì người ta không muốn che giấu làm gì địa chỉ của những giáo sư không có khách hàng. Cứ tính đổ đồng thì khoảng hai mươi giáo sư bị các trường lớn cho về coi nhà giữ con cho vợ, ông Tài chỉ chọn được có một người. Mười chín người kia đã bỏ nghề dạy mà theo đuổi những nghề nghiệp không có ăn nhằm gì đến học đường: có người đại lý bán dầu khuynh diệp và xi-rô nhau của bác sĩ Tín, có người làm lơ xe đò, có người mua xe gắn máy chở ra ngoài Trung. Một số đông khác chuyên về buôn lậu, theo ngã chợ trời, hoặc trữ các hàng từ Tân Sơn Nhất nhảy dù ra Lăng Cha Cả, hoặc mua các món đồ ở Khánh Hội lấy ngầm trên tàu hoặc được bốc hốt dọc đường trên một đôi xe vận tải. Nói chung, thì đa số sự giàu sang ở tại Sài Gòn đều có tính cách lậu thuế hoặc ít hoặc nhiều, và sự đoan chính, lương thiện là những món đồ trang sức đắt giá mà không phải ai cũng có thể xài một cách ngang nhiên.


Trong số gần sáu mươi vị có trong danh sách hạng loại giáo sư không được học trò trường lớn tín nhiệm, ông Tài chọn được ba vị mà ông lấy làm hài lòng đặc biệt. Kể theo thứ tự thời gian tìm gặp, thì trước hết là ông Trần Văn Cảnh, một giáo sư độ bốn mươi lăm tuổi, chuyên cỡi xe đạp cổ lỗ hiệu Xanh-tê-chiên gần ba mươi năm mà chỉ thay chuông có hai lần - vì rất khiêm tốn - thay dây thắng mới ba lần - vì rất ôn hòa - và thay yên có một lần - vì cơ thể rất nhẹ nhõm do chưa hề được bổ dưỡng bao giờ. Ông giáo sư Cảnh ít nói, dáng điệu lầm lì, nghiêm trang, nên những học sinh thuộc về dòng dõi họ Lưu nhìn thấy đã ngán ngẩm rồi. Để che đậy sự ngán ấy và tự trấn an lấy mình, chúng bèn đặt cho ông Cảnh một cái biệt hiệu: giáo sư cù lần. Cù lần là một danh từ hiện đang ám ảnh đa số người dân Sài Gòn.


Đối với ông Cảnh thì các trường tư hiện nay đang ở trong một tình trạng lộn ngược: nhiều người không hiểu gì về giáo dục lại làm chủ trường, giáo sư vào lớp phải làm việc thay cho học sinh, và người dạy học đồng thời là người thu tiền học phí quan trọng hơn cả. Ông Cảnh nhất định bắt buộc học sinh làm bài, học bài kỹ lưỡng chứ ông không chịu học thế cho chúng, bởi vậy học sinh ghét ông như là một loại phung hủi. Ông cũng không chịu thúc đẩy sự đóng học phí, vì quan niệm rằng không thể lẫn lộn giữa sự dạy dỗ và sự quản lý kinh doanh, cho nên chủ trường nhìn ông như là một loại phá hoại. Cuối cùng người ta tạo đủ điều kiện dễ dàng để ông có thể tự do về nhà. Giáo sư Cảnh rời các trường không chút mặc cảm, vì khi vào dạy ông đã vững tin rằng sẽ có một ngày nào, rất ư gần gũi, người ta sẽ đẩy ông ra khỏi chốn học đường như là món đồ không còn hợp thời. Quả nhiên, ông được lang thang qua nhiều trường sở trong một thời gian khá dài và đến phút cuối, khi chẳng còn có trường nào chịu đón tiếp nữa, ông mới về nhà với một tấm lòng thỏa mãn của kẻ thất bại. Nhưng ông tự nhủ: “Thế nào rồi cũng có ngày người ta sẽ đến tìm mình. Đến khi cái xấu mệt mỏi cả rồi, thì người ta phải sưu tầm cái tốt. Và cái tốt ấy cứ nên chờ đợi”.


Ông giáo thứ hai, ông Hoàng Như Ngà, một người có đôi lông mày khá rậm và một giọng nói sấm vang chỉ thấy trong các nhân vật tuồng Tàu. Đúng theo như những khám phá khoa học mới mẻ gần đây thì quả địa cầu càng già càng nóng hơn lên, ông Ngà càng có tuổi tác lại càng nóng nảy đặc biệt. Bởi vậy, trong các loại xe ở Sài Gòn này, ông chỉ thích đi có mỗi món xích lô máy mà ông cho là mát mẻ tột bực lại vừa có cái tác phong hùng hổ của kẻ hiên ngang. (Ngược lại, cô con gái rượu của ông, tức là cô Hoàng Như Ngọc, thì lại coi xích lô máy là một loại xe nguy hiểm bậc nhất. Hơn nữa, cô bảo, phụ nữ mà ngồi trên xích lô máy trông chẳng khác nào các “mụ” bán gà. Làm như bán gà là việc rất mất vệ sinh!). Ông giáo sư Ngà dạy dỗ tận tâm, có nhiều uy quyền, vì ông luôn giữ ưu thế về phần ông thầy. Ông quan niệm rằng học trò có dốt mới đến trường học, giáo sư có giỏi mới đến trường dạy, như vậy những lời ông thầy đã nói là một chân lý hiển nhiên. Học trò không nghe lời thầy, theo ông nhận định, là học trò hư, và thầy không bảo cho học trò nghe là ông thầy hỏng. Đi từ quan niệm cơ bản như vậy, ông hét lớn như sấm dậy và không thừa nhận cho học trò nào được tỏ nghi vấn với thầy. Theo ông, học trò ngày nay dở hơn ngày xưa, và tính nết cũng hư hỏng hơn xưa. Rõ ràng cuộc đời đang đi thụt lùi. Xã hội, theo ông, luôn luôn chuyển dịch theo lối tuần hoàn và bây giờ đang bắt đầu đi vào mùa thu, mùa đông, bỏ lại mùa xuân là cái thời ông đi học. Ông không ưa nổi cả cách ăn mặc, nói năng, đi lại của người học trò ngày nay, và ông nhất định rằng học trò thời bây giờ không có vẻ gì là học trò cả, dù có xuất trình biên lai đóng đủ học phí cũng chẳng thay đổi được ý kiến ông thêm một ly nào. Gần sáu mươi tuổi mà mặt ông Ngà bao giờ trông cũng đỏ gay vì men giận dữ và trong các loại từ ngữ mà ông quen dùng, học trò nhận thấy ông rất phong phú về các tiếng chửi. Ông Lê Thành Tài cho rằng một vị giáo sư cần phải giỏi chữ hơn là giỏi chửi, nhưng xét về mặt nào đó thì sự chửi bới có thể coi như là một phương diện lý tưởng, một thứ lý tưởng kiềm hãm, vì bởi kiềm hãm nên cần xổ nho, văng tục cho đỡ ấm ức. Điều mà ông Ngà làm cho ông hiệu trưởng Tài vui lòng là khi vào lớp ông gây được sự sợ hãi cho đam học trò. Đối với giáo dục hiện tại, chỉ bấy nhiêu đó cũng là đáng kể. Học sinh đã không tìm thấy hứng thú nào khác trong sự học hành, nên đành lấy sự sợ hãi làm một phương tiện dẫn về lẽ phải, cụ thể là chịu yên lặng ngồi nghe ở lớp và chịu học bài ở nhà. Như tất cả nhà độc tài, ông Hoàng Như Ngà tự hào về những thắng lợi một chiều đạt được do sự khủng bố, và một số đông phụ huynh chưa thấy lối sư phạm nào công hiệu hơn vậy, đã đồng ý rằng ông là giáo sư lý tưởng, biết cách dạy dỗ, dù ông chỉ dạy chứ không chịu dỗ.


Ông giáo thứ ba, ông Nguyễn Thế Tài, tuy trùng tên với ông chủ tiệm vàng nổi tiếng ở chợ Bến Thành, nhưng chắc hai ông chưa quen biết nhau bao giờ, là người gần như đối lập hẳn với ông Ngà. Tuy đã dạy học nhiều năm, nhưng khi vào lớp ông vẫn mắc cỡ một cách đầy đủ khiến đám học trò con gái cũng mắc cỡ lây. Ông không hề dám nhìn thẳng vào cái số đông xanh đỏ tím vàng ngồi lố nhố ở trước mình, và phải lựa một nữ sinh nào đó có vẻ hiền lành ngồi gần trước mặt để nhìn vào đấy, trước khi lấy đủ tinh thần nhìn xa hơn nữa. Ban đầu, cái cung cách ấy làm cho học sinh - đặc biệt là các nam sinh - khó chịu, khổ sở, rồi đâm giận dữ, một hai kháo nhau là thầy giáo đã phải lòng học trò. Nhưng nhờ nhiều ngày quan sát theo dõi, họ mới biết rằng cái nhìn của thầy quả không có ý tình gì lệch lạc, mà chỉ là một cánh tay gầy guộc đi tìm chiếc phao giữa biển học sinh nổi sóng đấy thôi. Giả thử ở vào chỗ đó có một nam sinh ngoan ngoãn, hay một bà cụ, ông cụ phúc hậu, thì giáo sư Tài cũng biến nhanh họ thành phao như thường. Hơn nữa một người mà dễ bối rối, luống cuống như vậy, nhất định không sao có đủ liều lĩnh làm điều xằng bậy, nên ta có thể yên tâm về món đạo đức của họ đã được giữ gìn như loại chai lọ, là thứ dễ vỡ. Sự mắc cỡ thường trực ấy cũng có ảnh hưởng đến phương pháp dạy của giáo sư Nguyễn Thế Tài và ông tỏ ra có một khuynh hướng dân chủ theo kiểu mị dân hết sức đặc biệt. Khác với ông Ngà, ông cho rằng người học sinh hễ đã đến lớp là muốn được học, và sở dĩ họ không chịu thuộc bài hay là làm bài chỉ vì họ bận việc gì đó thôi, nên họ cần được thông cảm. Do đó, ông luôn có sẵn số điểm thông cảm hết sức dồi dào ban phát rộng rãi cho các sĩ phu tân thời vào loại đại lười. Cả những câu trả lời chẳng ăn nhập gì đến câu hỏi của ông, cũng được ông thấy có lý, bởi lẽ theo ông, ít nhất học trò cũng thấy có lý mới đứng dậy để phát biểu. Tóm lại, đúng cũng có lý, sai cũng có lý, học giỏi phải được thông cảm, học dở cũng đáng cảm thông. Thế giới ông Nguyễn Thế Tài là một khu vực toàn hảo, trong đó cuối cùng chẳng ai còn muốn nỗ lực làm hơn cái mức tồi nhất đã thâu đạt được.


Ba giáo sư mới tuyển trạch gay go trong số giáo sư đông đảo của Sài Gòn này làm cho Chấn Hưng học đường có vẻ khởi sắc ít nhiều. Ông Cảnh mang lại cho sự giáo dục một vài tính chất mới mẻ, trong khi ông Ngà uy hiếp học sinh, lại có ông Tài dỗ dành. Thế quân bình đã giữ được và trường mạnh dạn tiến lên trong cái sứ mạng cao quí là tạo một lớp trẻ lý tưởng cho tiền đồ của dân tộc. Ông thư ký Huỳnh Văn Xu cùng ông giám học Trương Bảng đều thấy phấn khởi, tin rằng mình đã lựa chọn được con đường tốt nhất để mà xây dựng sự nghiệp tương lai. Về phần hiệu trưởng, ông thấm thía rằng những sự khó khăn, trắc trở mà trường trải qua là những trở lực tất nhiên trong buổi ban đầu không sao tránh khỏi, tương tự như chứng cảm sốt, mọc răng của một tuổi thơ cần chóng trưởng thành.


7


Mùa hè năm ấy, ông Lê Thành Tài cho phép mình được ra Cấp nghỉ mát một tuần và ngẫm nghĩ thêm về tương lai của giáo dục nước nhà. Ông mặc xi-líp, lội xuống bãi Sau nhúng kỹ nước mặn rồi lên bãi cát nắm dài, đeo kính râm vào nhìn ngắm trời cao để tin tưởng rằng đời thật đáng sống và Chấn Hưng học đường sẽ phát triển một cách huy hoàng. Sau bảy ngày nhúng ướt rồi lại phơi khô một cách đều đặn như vậy, ông tự thấy mình có đủ rắn chắc để mà cọ xát với đời, nên trả tiền phòng một cách hoan hỉ và lên bến xe, mua một chỗ ngồi băng trước để về Sài Gòn.


Vừa đến Sài Gòn, ông được một tin quan trọng: cách trường sở ông không xa, người ta đang xây một trường sở lớn, và những nền móng đầu tiên đã được hoàn thành. Ông Xu báo cái tin ấy kèm theo độ năm, sáu tiếng chửi thề tũc tĩu. Ông hiệu trưởng Tài khuyên bảo:


- Nên mừng vì người ta mở thêm trường để cho đủ chỗ con em học hỏi. Đừng nên vì sự cạnh tranh mà quên mục đích giáo dục. Còn trường trại mình, miễn là dạy hay, dạy đúng, là có người học. Đừng lo, đừng lo.


Một tuần sau nữa, lại một trường khác được xây cất lên, gần đấy. Và mười ngày sau lại một trường nữa đem cái bề thế quy mô án ngữ ngay đầu ngõ hẻm vào trường Chấn Hưng. Những trường sở này có vẻ nghênh ngang của kẻ nghĩ rằng ta-đây-vốn-có-nhiều-tiền, và cao lớn hẳn với nhiều tầng lầu sáng sủa, đầy những cửa sổ mở toang trông như những cặp mắt lớn soi mói nhìn xuống phố phường cố tìm cho hết học sinh để mà thâu nạp. Một điều ai cũng nhận thấy - kể cả ông hiệu trưởng Tài - là sau khi các trường ốc ấy hoàn thành rồi thì cái Chấn Hưng học đường trở thành bé nhỏ một cách thảm thương và khó lòng quan niệm được nó là một trường trung học. Ý chừng học sinh cũng nhận thấy thế, nên khi các trường đồ sộ kia treo bảng hiệu, trương các quảng cáo, giăng các biểu ngữ, dán các bích chương, đăng báo, lưu ý phụ huynh cùng với học sinh, đồng thời giới thiệu một khung giáo ban đặc sệt văn bằng, chức sắc, cùng các vai vế xã hội đáng nên kiêng nể thì các cô cậu học trò không một giây phút ngần ngại đồng ý thấy đó là những trường học lý tưởng. Đến ngày nhập học, sĩ số Chấn Hưng học đường vơi đi một nửa. Ông hiệu trường Tài tập họp giáo ban, phủ dụ như sau:


- Xin các bạn cứ yên lòng. Ở xã hội này, cái vỏ bề ngoài không chắc gì bảo đảm được cái ruột bề trong. Học sinh đến trường là để học tập, nhưng họ đang còn ở vào cái tuổi nông nổi nên dễ chạy theo hình thức. Một lúc nào đó, họ sẽ chán nản về lối dạy dỗ thương mãi, và sẽ quay lại với ta. Xin cứ hết lòng kiện toàn phương pháp, chỉnh đốn tổ chức, trau dồi sư phạm, chúng ta nhất định sẽ thành công lớn.


Ông Huỳnh Văn Xu và ông Trương Bảng cùng rầu thối ruột nhưng cũng làm ra tin tưởng lời ông hiệu trưởng. Sau một tháng đầu, học trò xuống thấp còn một phần ba. Trước kia vì là trường trại lý tưởng, nên các giáo sư đòi hỏi học phí phải được chia đều theo một tỉ lệ công sức hợp lý, sau khi đã trừ các khoản chi tiêu cần thiết cho trường và một đảm phụ cho ông hiệu trưởng. Bây giờ tiền dạy giờ trở nên bé mọn một cách ảm đạm và nhiều giáo sư bắt đầu so sánh với giá biểu các trường khác. Họ bỗng thấy mình dại dột một cách cụ thể và chợt hiểu mình không thật sự là người những người theo đuổi lý tưởng, nhưng buổi ban đầu đã đón bắt lý tưởng một cách hăm hở vì nó có vẻ hấp dẫn và hứa hẹn nhiều. Bây giờ rõ ràng là chuyện lý tưởng không còn hợp thời. Lập tức, họ mơ ước được làm các giáo sư trường khác. Người bỏ Chấn Hưng học đường ra đi trước hết là thi sĩ Hồng Hoa Phượng Điệp, một người thích nói nghệ thuật thuần túy nhưng lại mê tiền vào hạng siêu đẳng. Tiếp đến là giáo sư Lý văn Lăng, một người xem các trường học là những nhà ga, mà mình là một con tàu. Con tàu thường thích đỗ lâu tại các ga lớn, có lẽ vì ở nơi đấy có nhiều than củi, dầu nhớt, khách hàng. Suốt niên khóa ấy, ông hiệu trường Tài trở nên ít nói, ông Cảnh thấm thía nhiều hơn về sự đảo ngược ở trong trường tư hiện tại, ông Hoàng Như Ngà giận dữ thêm lên, ông Nguyễn Thế Tài lại càng mềm mỏng, hiền lành hơn nữa. Niên khóa trôi đi một cách u buồn và trường Chấn Hưng có vẻ đượm màu tang tác như bận hoài niệm lớp người quá cố là những học sinh và những thầy giáo ra đi. Nghỉ hè năm ấy, ông Lê Thành Tài không xuống nghỉ mát dưới Cấp. Theo ông, dưới ấy bây giờ dơ lắm, không tắm rửa được, hàng quán cũng mất vệ sinh và tuồng như là nước biển cũng không còn nhiều chất muối như xưa. Tốt hơn, cứ nên ông nhà xối bằng nước giếng, cắm cái quạt máy kề bên và tưởng tượng đang tắm suối Đà Lạt.


Vào niên khóa mới, cả trường hồi hộp chờ đợi học sinh như một tình nhân mới lớn chờ đợi người yêu ban đầu. Học trò xuất hiện như hoa mùa thu, lưa thưa, héo hắt. Một số vào trường đảo mắt nhìn quanh ra chiều thương hại rồi bước vội ra, hối hận đã tạo cho mình một dịp xúc động vô ích. Một số chăm chỉ đọc danh sách của giáo sư viết bằng phấn màu, có vẻ ngơ ngác không hiểu các nhân vật này là loại người nào mà lại bày chuyện hành nghề giáo dục ở nơi quá hẻo lánh này, rồi một đứa khác thừa dịp ông Huỳnh Văn Xu đang bận nghiên cứu bề dày ngoan cố của tập biên lai, bèn thò tay vào tấm bảng chùi bớt một số chữ trong tên họ giáo sư để cho đỡ buồn, do đó ông Cảnh trở thành ông Cản, ông Ngà thành ông Gà và hai ông Tài đều biến thành hai ông Tì. Cuối cùng, cũng có một số bằng lòng vào học, sau khi so sánh giá cả học phí, và thấy Chấn Hưng học đường rẻ hơn nơi khác độ gần vài chục. Buổi sáng của hôm khai giảng, ông hiệu trưởng vào các lớp đếm đi đếm lại đến lần thứ sáu và thấy không một lớp nào sĩ số quá năm học sinh. Trung bình mỗi người học trò, có thể ngồi bốn cái bàn và bốn cái ghế khá dài mà không sợ bị chen lấn, xô đẩy bất cứ từ phương hướng nào. Một sự rộng rãi như vậy có vẻ quá đáng, dễ khiến học trò, đặc biệt là các nữ sinh, cảm thấy cô độc, và những bài làm khó khăn trở thành một thứ tai nạn không ai cùng mình chia xẻ rủi ro. Về phần giáo sư, tuy có những người thích một sĩ số rất thấp như ông giáo Ngà, nhưng khi nhìn thấy tổng số học sinh mỗi lớp đều không vượt qua số lượng các ngón trên một bàn tay, thì ông choáng váng thật sự, rút vội ve dầu cù là Mac Phsu và bôi liên tiếp cho bớt lạnh lẽo, vừa biện hộ cho vẻ mặt rầu rĩ của mình.


Suốt một tháng đầu, mặc dầu có sự thêm bớt học sinh ở trong các lớp, nhưng xét tổng số thì không có gì thay đổi. Ông Tài kêu gọi giáo sư ai có con em nên đưa vào học khỏi cần học phí để cho nhà trường bớt sự hoang lạnh, tiêu điều. Ông Nguyễn Văn Hai là nhà toán học đại tài nên đã kiểm điểm mọi mặt chi tiêu và thấy món tiền thù lao nhận được hằng ngày không đủ cho ông ăn bát phở tái và đổ nửa lít xăng vào cái xô-lết. Ông bỗng bùi ngùi nhớ lại những ngày vàng son bên cạnh các kho nước mắm thơm phức ở ngoài Phan Thiết. Ông hiệu trưởng phải họp các giáo sư hằng tuần động viên tinh thần, nhưng ông thấy họ có vẻ nghiêm nghị hơn xưa như đang bận tâm suy tính việc gì lớn lao. “Có lẽ họ bận nghĩ về hiện trạng giáo dục”, ông Tài tự bảo như vậy, để cố chối bỏ ý nghĩ rằng họ đang lo về chuyện bạc tiền. Về phần ông Huỳnh Văn Xu và ông Trương Bảng thì sự thi hành kỷ luật có vẻ gắt gao hơn trước. Ông Xu tuyên bố:


- Mọi sự vi phạm nội qui của trường cần được thi hành kỷ luật tối đa.


Và cứ mỗi buổi ông lại vào lớp, sau khi lịch sự xin phép giáo sư, ông trừng cặp mắt gờm gờm nhìn từng học sinh để xem có đứa nào nuôi dự định trốn học hay không, rồi còn dặn đi dặn lại chúng nên chuyên cần học tập, bởi vì kỷ luật nhà trường là kỷ luật sắt, nhất định không chịu nhân nhượng một ai, cho dù học sinh là cháu đích tôn của ông tổng thống xứ Anh Cát Lợi! Ông Xu vừa ra, lập tức có ông Trương Bảng vào liền. Ông này trịnh trọng cám ơn giáo sư “trường ta” đã không nản lòng trong việc dạy dỗ con em, kêu gọi học sinh “trường ta” nỗ lực phi thường để làm rạng rỡ con cháu rồng tiên, nhất định tin tưởng rằng “trường ta” sẽ phát triển tột bực, bởi vì hiện nay trường đang gạt bỏ tất cả phần tử học sinh bất hảo qua các ngôi trường khốn nạn chung quanh để chỉ giữ lại một số “tinh hoa thế hệ”.


Nhưng có một số tinh hoa thế hệ không chịu đóng đủ các khoản học phí cho nên ông Huỳng Văn Xu bắt buộc phải mời ra khỏi trường sở. Ngoài ra, những số còn lại cũng gây lắm nỗi khó khăn cho trường, cụ thể là ít học bài, chuyên môn ngủ gục trong khi thầy giảng, vào lớp trễ giờ và đi cầu tiêu rất ư bừa bãi, không bao giờ chịu dội cầu mà còn thích viết đủ chuyện ái tình thời đại lên bốn bức vách chật hẹp của căn nhà xí hơn là chịu làm bài tập ở giữa lớp học thênh thang. Những sự kiện ấy chứng tỏ một cách hùng hồn rằng chí có những học trò bị các trường lớn đuổi ra, bây giờ mới đến Chấn Hưng học đường để tìm một chỗ hẻo lánh dung thân qua ngày. Ông Lê Thành Tài đón nhận tin ấy không chút thay đổi sắc mặt và bảo:


- Được rồi. Có thế mới thấy khả năng giáo hóa của trường chúng ta. Đó cũng là một thử thách thú vị, rồi xem ta sẽ biến đổi họ thành ra những người như thế nào.


Ông Xu thở dài:


- Nhưng nó sẽ là một quảng cáo xấu cho trường sở mình. Khác nào mình thú nhận rằng: “Ở đây chỉ chứa toàn đồ phế thải”, còn ai dám đưa con em đến học?


Ông Trần Văn Cảnh tiếp lời:


-          Chúng ta không mong gì cạnh tranh lại với các trường kia. Ngày nay người ta tìm sự giải trí nhiều hơn tìm sự mở trí, mà trường chúng ta có gì là vui vẻ đâu? Các ngài nghĩ xem…


(còn tiếp)


Nguồn: Ngôi trường đi xuống. Tiểu thuyết, rút từ Tuyển tập Vũ Hạnh. NXB Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info


 


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cõi mê - Triệu Xuân 25.03.2020
Giấy trắng - Triệu Xuân 25.03.2020
Anh em nhà Karamazov - FYODOR Mikhailovich Dostoyevsky 16.03.2020
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 15.03.2020
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 15.03.2020
Đêm Sài Gòn không ngủ - Trầm Hương 10.03.2020
Trong cơn lốc xoáy - Trầm Hương 10.03.2020
Ông cố vấn - Hữu Mai 26.02.2020
Đẻ sách - Đỗ Quyên 15.02.2020
Hòn đất - Anh Đức 13.02.2020
xem thêm »