Thì, ngay lúc Bội Ngọc đang mỉm cười để chào đón một ngày rạng rỡ ấy, cửa vườn hoa bỗng xịch mở, nhường lối cho một võ tướng giáp vàng.
Trời! Nàng thực tỉnh hay mơ? Có thể như vậy được chăng?... Nàng luống cuống, sắc mặt đỏ bừng, rồi khi Công Uẩn đã rất gần, nàng nét mặt như người quáng nắng...
Hai người đã nói gì với nhau?... Có lẽ không thì phải. Hay chàng đã nói, mà vì trái tim nàng đập mạnh quá nàng chẳng nghe thấy gì hết! Nàng chỉ cúi đầu, tay vân vê tà áo lụa, mặc dầu lúc ấy cả tâm hồn nàng muốn kêu lên những tiếng thiết tha... Nàng không dám hé răng vì nàng tin chắc rằng câu nói đầu tiên của nàng sẽ là một tiếng thổn thức. Mãi khi Công Uẩn cúi chào nàng để lui ra, Bội Ngọc mới khẽ nói được một câu, giọng đầy nước mắt:
- Chàng đi mau chóng mà về!...
Thế rồi, nàng gục xuống bàn khóc nức nở. Thế rồi, nghĩ lan man đến những hiểm nghèo trên trận địa, nàng lấy làm hối hận rằng đã nói rất ít với chàng và tần ngần tiếc những phút êm đềm có lẽ chẳng bao giờ trở lại.
Đã nhiều phen, không thể cùng ai cởi mở cõi lòng. Bội Ngọc toan biên thơ ra ngoài cửa ải để họa may chàng có thấu tình nhưng sau nàng lại đành gác bút. Nàng không muốn bận trí anh hùng giữa khi chàng cần phải đem hết can đảm và nghị lực ra trả nợ non sông.
Nghĩ đến viết, Bội Ngọc bỗng thấy cảm hứng dạt dào trong tâm khảm. Nàng với tập thơ... Phải rồi, nàng sẽ viết, nàng sẽ phơi bày hết tâm sự lên mặt giấy. Nàng viết không phải để gửi cho chàng, điều ấy nàng đã nhất định, nhưng là để một kia chàng về đeo quả ấn vàng, Công Uẩn:
Sẽ rót vơi lần lần từng chén
Sẽ ca dần ren rén từng câu
Câu vui lẫn với câu sầu
Rượu khà cùng kể trước sau một lời
Bội Ngọc lần giở tập thơ, mắt nàng bỗng dừng lại trong một bài vịnh xuân mà nàng đã viết đầu năm ngoái, khi lòng nàng còn như một nụ hoa mới nhú chưa biết những mơn trớn của đông phong...
Nắng ấm soi tán mộng khói sương
Đào phô vẻ thắm dưới xuân quang…
Lan xông hương ngát, hồng cười nụ
Oanh báo tin xuân, cúc bẽ bàng!...
Cây lộc nhởn nhơ mừng trẻ lại
Suối trong khúc khích giễu mơ màng
Bên song thiếu nữ, sầu chưa biết
Cười nhện đa tình khéo vấn vương
Hai câu sau cùng bỗng khiến Bội Ngọc thở dài, nàng nhắc bút đề:
Năm xa, em chửa biết sầu
Ngày xuân hớn hở lên lầu điểm trang
Bên mành, cười nhện vấn vương
Tiếng cười trong vắt tựa làn suối trong
Năm nay em đã biết sầu
Ngày xuân, chàng vắng, lên lầu vời trông
Liễu xanh tha thướt bên sông
Tuyệt mù nào thấy vân mòng chàng đâu
Dở dang tiếc khúc bạch đầu
Chàng ơi, tham ấn phong hầu làm chi!...
- Thơ hay nhưng phải cái nhu nhược!
Bỗng nghe tiếng cha nói sau lưng, Bội Ngọc đứng phắt dậy, sắc mặt như hoa đào...
- Con chớ thẹn, tình trai gái yêu nhau là một lẽ tự nhiên của trời đất. Có điều con không nên để sự nhu nhược xâm chiếm được cõi lòng. Người ta, trên tình trường phải nghĩ đến non sông đất nước. Chồng con, vì việc quân vương, hăng hái ra biên thùy, con ở nhà chớ nên buồn thảm, mà trái lại còn nên tỏ ra xứng đáng với khách anh hùng mới phải, vì Lý tướng quân chính là một bực anh hùng đệ nhất của đời nay đấy.
Bội Ngọc cúi đầu, hối hận. Mấy lời nghiêm huấn như ánh hào quang soi sáng cõi lòng u ám của thiếu nữ.
- Thưa cha, con thực có lỗi với cha và chồng con lắm!
Phạm Thái sư cười:
- Con đã biết hối thì sự nhầm lẫn của con đã có thể bỏ qua rồi. Con chỉ nên luôn nhớ rằng chí làm trai dặm nghìn da ngựa chứ phải đâu lần lữa chốn buồng the. Vừa rồi cha đã nói với con: Lý Công Uẩn là bực anh hùng cái thế thời bây giờ. Không những chỉ vậy mà thôi, chàng còn có khí tượng thiên tử nữa. Nhà Lê, hiện nay ân đức đã tuyệt, lòng trời đã muốn chuyển vần. Cứ xem như vừa rồi ở làng Cổ Pháp, là quê hương Lý Công Uẩn, một cây gạo, sống không biết đã mấy trăm năm, bị sét đánh tước lần vỏ ngoài, trên thân gỗ có một bài sấm bốn câu thì rõ...
- Cha có nhớ bốn câu sấm ấy chăng?
- Có, sấm rằng:
“Thụ căn liễu liễu
Mộc biếu thanh thanh
Hóa đao mộc lạc
Thập bát tử thành”
Miệng đọc, tay viết, cụ đã lấy mấy chữ hòa, đao, mộc chắp thành ra chữ Lê, và thập, bát, tử chắp ra chữ Lý.
- Cứ theo điềm này - Cụ nói tiếp - thì nhà Lê sắp mất, họ Lý sắp lên làm vua. Thiên hạ, nhiều người họ Lý nhưng xem ra thì không ai bằng Công Uẩn vì không những Công Uẩn có tài quán chúng, có dạ nhân từ mà thân thế chàng từ nhỏ lại rất khác thường.
“Ông thân sinh Công Uẩn vốn xưa rất nghèo, phải đi làm ruộng thuê ở chùa Tiêu Sơn để mưu sống. Một sư nữ trong chùa, thấy tình cảnh bác nông phu đem lòng thương hại rồi hai người yêu nhau. Mãi sau, sự vụng trộm của hai người bị sư cụ biết.
“Ngài nổi giận đuổi hai người đi nơi khác. Hai vợ chồng lạy tạ sư cụ rồi bước ra. Khi qua rừng Báng, hai vợ chồng dừng chân nghỉ cho đỡ mệt. Chồng khát nước, tìm ra cái giếng gần đấy để uống nước. Vợ ngồi chờ mãi không thấy chồng về, vội chạy ra giếng tìm thì mối đã đùn lấp thành một nấm mồ cao.
“Chị khóc thương chàng thảm thiết, đoạn vào xin ngủ nhờ trong chùa Ứng Tâm gần đấy.
“Thì, đêm trước hôm sư nữ đến chùa Ứng Tâm, sư cụ nằm mộng thấy Long Thần bảo rằng: Ngày mai, ngươi phải dọn chùa cho sạch vì có Thiên tử giáng lâm. Tỉnh dậy, sư cụ làm theo lời thần mộng nhưng ngồi đợi từ sớm tới chiều chỉ thấy một sư cô có mang vào xin ngủ nhờ.
“Sư cụ lấy làm lạ, hỏi thì người đàn bà kể ngay chuyện mình cho sư cụ nghe. Sư cụ đồng ý để chị ta trọ ở Tam quan chùa. Được vài tháng, một đêm kia, trời mưa to gió lớn, sư cụ trở dậy thì lạ quá! Hương đâu thơm ngào ngạt cả chùa. Nghĩ tình, sư cụ truyền bà hộ ra Tam quan xem. Một lát sau, bà hộ bế vào trình sư cụ một đứa con trai mới đẻ và bạch rằng sư nữ, mẹ đứa bé, đã chết sau khi ở cữ. Sư cụ ngắm nghía đứa bé, thấy ở trong lòng hai bàn tay nó in rõ bốn chữ son: Sơn hà xã tắc.
“Ngài hiểu rằng lời thần mộng đã ứng rồi, bèn hết sức nuôi dạy cậu nhỏ. Tháng, năm qua đứa bé vụt đã lên sáu tuổi. Một hôm, nhà sư truyền cậu bưng oản lên chùa cúng Phật, cậu ta tinh nghịch khoét hết lòng oản ăn trước.
“Sớm hôm sau, sư cụ gọi chú nhỏ mà mắng rằng:
- Mày hỗn lắm, dám ăn vụng oản cúng.
Chú bẻ mủm mỉm cười:
- Ai mách mà cụ rõ?
- Đức Long Thần đã báo mộng cho ta.
“Chú nhỏ tức lắm, định tâm báo thù người đã phản mình. Chờ lúc sư cụ ngủ rồi, chú nhỏ lẻn lên chùa, đánh vào cổ ông Long Thần ba cẳng tay đoạn lấy bút viết lên lưng pho tượng bốn chữ: Lưu tam thiên lý. Sáng sớm, nhà sư vừa thức giấc đã vội lên chùa xem, vì Long Thần có mộng cho nhà sư biết là có Thiên tử đày mình đi xa. Quả nhiên, sư cụ thấy chữ Công Uẩn viết trên lưng pho tượng. Sợ hãi, sư cụ lấy nước để rửa nhưng rửa thế nào cũng không sạch. Gọi Công Uẩn vào trách thì chú nhỏ lấy nước bọt lau sạch ngay.
“Năm Công Uẩn tám, chín tuổi, sư cụ cho sang chùa Tiêu Sơn để học nhà sư Vạn Hạnh. Công Uẩn rất thông minh nhưng học rất lười. Một hôm, cu cậu không thuộc bài, sư cụ bèn trói lại bắt nằm ngủ suốt đêm ở mặt đất. Công Uẩn vẫn trơ tráo như không, lại còn ngâm câu đối chơi là khác”.
Bội Ngọc nghe cha nói đến đây, vội cúi mặt để giấu một nụ cười.
Phạm thái sư cũng cười:
- Anh học trò biếng nhác ấy thế mà hay chữ đáo để! Anh ta ngâm:
“Canh khuya chẳng dám giang chân duỗi
Vì ngại non sông xã tắc xiêu!...”
Sư cụ Vạn Hạnh đã nghe sư cụ chùa Ứng Tâm kể chuyện Lý Công Uẩn, nay lại thấy chàng ngâm câu nọ, bỗng đem lòng kính sợ, vội nhảy xuống đất, cởi trói cho chàng...
Phạm thái sư lặng im một lát đoạn bảo con:
- Thân thế và khí phách Công Uẩn như vậy nên nhiều người tin chắc chàng sẽ làm vua. Ngọa Triều Hoàng đế cũng ngờ vực Công Uẩn, nên mới sai chàng vào Nam, cố ý mượn quân Chiêm Thành giết chàng. Bạo chúa lại cho rằng cha cũng đồng mưu với Công Uẩn...
Bội Ngọc giật mình nhìn cha, sắc mặt nàng biến hẳn...
Phạm thái sư thở dài:
- Bạo chúa đã ngờ thì kẻ bị ngờ phải chết. Cha con ta đã tới lúc phải lìa tan rồi đây! Nhưng, cha dù chết cũng không ân hận gì. Cha chỉ lo cho con. Hiện giờ, Công Uẩn đi xa, cha thì không biết sẽ phải hạ ngục lúc nào...
- Cha ơi!
- Cha định cho con lánh trước đi. Con hãy trốn về Cổ Pháp, vào chùa Tiên Sơn nhờ sư cụ Vạn Hạnh che chở cho. Cha có thư cho sư cụ rồi.
Bội Ngọc run run:
- Thưa cha, cả hai cha con cùng trốn đi có hơn không?
Thái sư lắc đầu:
- Không thể được! Cha đành cam chịu chết cho trọn nghĩa với nhà Lê. Cha không muốn hậu thế ngờ cha là một kẻ bầy tôi bất trung. Còn như con, con phải tạm lánh đi để chờ ngày khác...
- Con lòng nào bỏ cha ở lại mà đi cho đành?...
Bội Ngọc vừa nói vừa khóc nức nở...
- Con không nên câu nệ quá. Vả lại, chính cha đây truyền lệnh cho con phải ra đi, con không được cưỡng lời. Con ra đi và nên tỏ ra là một người con xứng đáng của cha, người vợ xứng đáng của chồng con. Con hãy chờ lúc chàng về...
- Nhưng đã chắc đâu chàng thoát tay bạo chúa?
- Điều ấy, con chớ ngại. Lòng Trời đã định, người ta dù là đấng vua chúa, không thể làm khác được. Lúc này, con nên tin ở Trời.
- Cha ơi!...
- Con không được nói gì thêm nữa! Con phải đi ngay bây giờ. Con hãy cải trang làm một gã thư sinh. Trong khi ấy, cha bảo nó gióng ngựa và dặn dò tên lão bộc Trọng Tín để nó theo hầu con...
Tưởng chàng trải nhiều bề nắng nỏ
Ba thước gươm một cỗ nhung yên
Xông pha gió bãi trăng ngàn
Tên reo đầu ngựa, pháo ran mặt thành...
VIII
Bỏ lại phía sau tất cả sự náo nhiệt của kinh thành, sự sùng bái của quần chúng, sự nhớ nhung của một tấm lòng. Công Uẩn kéo quân thẳng xuống phương Nam, qua những cánh đồng đất sỏi, cây mọc lưa thưa và cằn cỗi, những bãi dừa cao vút, gió đánh rì rào...
Dần dần, thảo mộc biến đâu hết cả, trơ ra những cồn cát mênh mông chạy tít đến chân trời.
Về tay trái, bể Nam hiện ra, xanh ngắt, với muôn làn sóng bạc kế tiếp nhau tung bọt lên những bờ đá lởm chởm... Xa xa về tay phải, dãy Trường Sơn hùng vĩ như một mảnh thành còn sót lại của một thời đại hoang đường nào, hiện sừng sững trong lớp bụi sương hồng mờ ảo...
Hơi nóng, tự vòm mây ngùn ngụt như lửa hun, gieo xuống, nặng nề, bức bối, và gió bể, đầy những bụi vàng lấp lánh và những khí vị lạ lùng nổi thành một tiếng vù vù sâu thẳm và liên tiếp không ngừng...
Gần xa tứ phía, chỗ nào cũng hiu quạnh chỗ nào cũng buồn tênh, một nỗi buồn thoảng nhẹ mà người ta chỉ thấy ở trên cõi đất Chiêm Thành, quê hương của ái tình, của máu và của những điệu hát rã rời, não ruột...
Mỗi khi gió tắt, bụi cát thôi bay, không khí lại trong suốt như pha lê thì trên đường chân trời, người ta lại thấy một xóm mạc nhỏ ẩn dưới bóng dừa... Những tiếng lá rung như vò lụa, những tiếng suối chảy như reo cười vẳng lại khiến cho voi ngựa dỏng tai, phỏng mũi và người ta, dù là các chiến sĩ hung hăng, phải ước ao một vài phút nghỉ ngơi, mơ mộng.
Nhưng Công Uẩn nhất định gấp đường, vừa để cho quân thù không kịp phòng bị vừa nóng lòng trở lại kinh thành, nơi mà bao nhiêu tai nạn đang lăm le xảy tới cho những người thân yêu của chàng như bão táp.
Bởi thế nên, không rẽ ngang rẽ tắt vào đâu hết, Công Uẩn truyền ba quân thẳng trước mặt tiến lên, gặp tối thì ngủ tạm ngay bên đường, khát thì uống nước ở ngay các vũng nhỏ.
Chẳng bao lâu, ngọn tháp đá thứ nhất đã lù lù hiện ra, in hình gở lạ lên nền trời xanh trong vắt... Địa thế cũng mỗi ngày một thêm hiểm trở, những gò đá khô khan cháy nắng, những thung lũng quanh co đầy bóng tối liên tiếp nhau, nom có vẻ hoang vu đáng sợ, hình như dấu vết của một trận hỏa tai khổng lồ nào còn để lại.
Cảnh đìu hiu vắng ngắt dấu người; ấy thế mà thực ra, chính đó là sào huyệt của giặc.
Công Uẩn cho một số lính tản ra các nơi do thám thì đều nhận được rất nhiều vết chân của bọn Chiêm Thành cùng những vật dùng hư hỏng mà chúng đã quăng bỏ...
Binh sĩ nước Nam cảm thấy rạo rực trong lòng: cuộc viễn chinh giờ đã tới đích, gươm đao sắp được mang ra thử. Mà trong khoảng đất trời hiu quạnh ấy, những cuộc xung phong ghê gớm không biết chừng sẽ nổ bung ra lúc nào!...
Lúc này, quân Nam tiến một cách dè dặt...
Cõi đất Chiêm Thành đồi núi trùng điệp chạy tít tắp đến chân mây... Hết thảy đều một vẻ chói lòa, man dã. Ánh nắng hoa mắt, cát trắng hoa mắt xào xạc dưới chân người và chân voi ngựa, cỏ cây cháy sém dưới mặt trời, vòm không vẩn những mây chì cau có...
Mấy nghìn linh hồn bị kích thích, giương mắt, dỏng tai như một đàn dã thú rình mồi, lắng nghe những tiếng âm thầm văng vẳng...
Đó là những tiếng động thảm thê và ai oán hình như tự lòng đất thoát lên. Khách lữ hành không ai là không từng đã chú ý đến sự lạ lùng đó nên thường bảo nhau rằng: xứ Chiêm Thành là cõi đất của những oan hồn...
Rồi một buổi kia, vừa qua một dải đồi lởm chởm, Nam quân bất thần rơi xuống đoàn binh của giặc.
Đêm tối như mực, lại thêm gió bể gào thét liên miên khiến quân Chiêm Thành không hay biết gì cả.
Mặt trăng hạ tuần đã mọc nhưng vẫn ỡm ờ lẩn lút trong mây đen.
Công Uẩn mỉm cười:
- Thực là Trời giúp ta!
Chàng ra lệnh cho kỵ binh và tượng binh bao vây tứ phía, không để một tên giặc nào chạy thoát rồi thân tự dẫn bộ quân lẻn vào giữa trại giặc...
Không ngờ sự xảy ra, lũ mọi Chiêm Thành yên chí ngủ lăn như chết. Những tên quân canh cũng thu hình trong những tấm da dê, lim dim gật gưỡng.
Binh sĩ nước Nam, im lặng như những cái bóng, bò dần vào. Mỗi người cầm một thanh đao cực sắc hoặc cầm một cái thuốn có ngạnh như lưỡi câu dùng để giật ra từng mảnh thịt mỗi khi đã đâm trúng bất cứ một chỗ nào trong thân thể kẻ thù. Họ nín tiếng bò trong đêm tối, chẳng khác một đàn rắn độc.
Khi đã vào hẳn bên trong rồi, họ bất thần hò reo inh ỏi. Những ánh binh khí lập lòe như muôn vàn ánh chớp cứ nhè ngực, cổ, gáy địch mà cắm vào phầm phập...
Một cảnh hỗn loạn ghê gớm diễn ra trong ánh trăng mờ...
Những tiếng thở rít qua những tấm ngực thủng, những tiếng rên hấp hối, những tiếng gào thét dã man, những tiếng sắt va nhau, những tiếng ngựa, dê, bò rống vỡ lở, tán loạn khiến cho đêm lạnh rùng mình!... Những luồng máu nóng dội ồng ộc trên các mảnh thân tan nát xông lên một mùi gây gây, nhạt nhẽo.
Bên trên cảnh chém giết tơi bời, gió bể vẫn kêu gào thảm thiết, hình như đó là một linh hồn đang hoảng hốt chạy về phía những cha già, vợ góa, con thơ để nhắn họ: Khóc đi! Hãy khóc cho những chinh phu, tử sĩ đang phơi thây trên mặt chiến trường!
Hồn tử sĩ gió ù ù thổi
Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi
Chinh phu, tử sĩ mấy người
Nào ai mạc mặt, nào ai gọi hồn?
Đoàn Thị Điểm
Hai bên đánh nhau suốt sáng. Dần dần, muôn tiếng sát phạt im bẵng... Trong khoảng mơ hồ hiu quạnh chỉ còn nghe một tiếng văng vẳng oán than... Bình minh rụt rè như kinh hãi phải trông thấy cảnh đầu rơi thịt nát. Vầng chiêu dương bạo hơn, ngạo nghễ soi nụ cười chói lọi trong những vũng máu đào...
Công Uẩn truyền gọi loa điểm lại sĩ tốt. Trừ vài chục tên bị thương xoàng, Nam quân không hao hụt mất người nào.
Về bên giặc, hết thảy đều nằm ngổn ngang trên mặt đất! Tám mươi thủ cấp lăn trong cát bụi chứng tỏ sự toàn thắng của Lý tướng quân. Chàng, áo bào nhuộm máu, đứng trước ba quân, oai dũng như một vị thần Phá Hoại.
Công Uẩn sai thu những thủ cấp giặc bỏ vào những chiếc túi da dê đem về kinh vì đó là món đồ giải trí sở thích của vua Ngọa Triều.
Chàng lại cho sục các hang đá xung quanh thì tóm được ngay vua Chiêm Thành cùng mấy viên quan hộ giá.
Công Uẩn thoạt đầu toan giết tất, nhưng sau chàng nghĩ lấy uy khiếp chúng sao bằng lấy đức phục nhân tâm, bắt chước Gia Cát Lượng đời Tam Quốc thất cầm thất phóng Mạch Hoạch, chàng gọi vua Chiêm lại gần mà bảo rằng:
“Hỡi Man Vương! Nước Nam tuy đủ binh hùng tướng dũng mà có bao giờ gây chuyện với lân bang? Là vì đức Hoàng đế ta nghĩ rằng binh đao là phúc lớn của quần sinh nên ngài không nỡ đất bằng gây cuộc phong ba khiến cho đống xương vô định những cao bằng đầu.
“Thế mà nhà vua tự dưng bỏ lễ triều cống, mang lòng phản trắc khiến cho rút lại biết mạng sĩ tốt phải tan tành trong cát bụi, như thế có phải rằng nhà vua đã cố tình phạm tội bất nhân, bất tín chăng?
“Hôm nay, ta vâng mệnh Thiên tử, cầm quân tinh nhuệ ra đây mới đánh một trận mà toán binh sĩ của nhà vua đã như ngói tan trúc chẻ. Không những thế thân ngàn vàng của nhà vua cũng sa vào cạm lưới nốt: cơ nghiệp bá vương từ nay chẳng qua một mớ tro tàn.
“Nhưng, ta không nỡ để cho như thế. Người đời ai cũng có thể nhầm, miễn biết hối quá thì thôi. Ta đây không phải như Bạch Khởi, Hạng Vũ giết kẻ đã bại, đã hàng.
(còn tiếp)
Nguồn: Cái hột mận. Tiểu thuyết lịch sử, rút từ Lan Khai tuyển tập, (hai tập, 1700 trang khổ 16 x 24 cm). Trần Mạnh Tiến sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học sắp phát hành. |