“Và, trước cảnh diệt vong đã sờ sờ trước mắt, nhà vua hẳn lấy làm hối hận. Ta mong sao sự hối hận ấy sẽ là bước đầu sự hòa hảo chân thành giữa hai nước từ nay về sau. Ta vui lòng tha cho nhà vua về nước, không những thế, ta còn sẵn sàng ủng hộ cho nhà vua giữ vững ngai vàng của tổ phụ mấy đời. Nhà vua nên mau mau dâng biểu sám hối lên Thiên tử, xin lại triều cống như mọi khi, dẹp hết lòng phản bội để cho bách tính được an cư lạc nghiệp.
“Nhược bằng khi được tha về, nhà vua lại vẫn cậy thành cao hồ rộng, lương thực nhiều, binh lính giỏi, cứ gây cuộc binh đao thì chỉ trong sớm tối ta sẽ kéo quân tới Chà Bàn hỏi tội. Lúc ấy, ngọc đá khôn phân, nhà vua có van nài cũng không ích gì nữa!”.
Nghe Công Uẩn vừa dứt lời, hắn vội thụp xuống đất lạy tạ:
- Tướng quân thực là người trời! Quả nhân biết mình tội lỗi đã nhiều xin cam đoan từ nay dốc lòng cải quá, quy thuận Thiên Triều để tạ cái ân đức tái sinh của tướng quân. Quả nhân không bao giờ để cho xảy ra việc can qua nữa. Tướng quân có thể về Kinh cho sĩ tốt nghỉ ngơi.
- Tôi xin tin lời hứa của nhà vua.
Ngập ngừng một lát, Man Vương khẽ nói:
- Nhưng, trước khi tướng quân về, quả nhân muốn rước tướng quân sang chơi Chà Bàn trong ít bữa để quả nhân được tỏ lòng kính mộ. Dám mong tướng quân thể tình mà nhận cho.
Công Uẩn không chút hoài nghi:
- Vâng, nhà vua đã có lòng, tôi không dám trái lệnh. Xin nhà vua lên đường trước. Tôi chuẩn bị tam quân thủng thẳng tiến theo sau.
Đóa lê ngon mắt Cửu Trùng
Tuy mày điểm nhạt nhưng lòng cũng xiêu
Vẻ vu vật trăm chiều chải chuốt
Lòng Quân Vương chi chút trên tay
Má hang không thuốc mà say
Nước kia muốn đổ, thành này muốn nghiêng...
Ôn Như Hầu
IX
Vua Ngọa Triều suốt ngày đêm mơ tưởng Bội Ngọc. Sự thèm thuồng của đấng vương giả, lần ấy là lần thứ nhất, không thực hiện được như lòng.
Ngài bực tức lắm, tuy trên mặt rồng, vẻ thờ ơ vẫn y nhiên như pho tượng đá. Sự căm hờn lặng lẽ đã khiến viên Cửu Môn đề đốc phải rơi đầu vì tội đã bắt được Phạm thái sư mà còn để Bội Ngọc trốn thoát. Ngài lại đã truyền lệnh tra tấn Phạm thái sư bằng mọi thứ cực hình nhưng vị lão thần vẫn nhất định cắn răng.
Trước thái độ gan góc ấy, vua Ngọa Triều cảm thấy nỗi mệt nhọc của những lớp sóng kình không lay chuyển hòn đá tảng. Đã tức giận, nhà vua càng tức giận không biết chừng nào! Ô hay, sự ham muốn của ông vua độc đoán, như mũi tên do tay thiện xạ bắn ra, lại có thể không trúng đích được sao?...
Đó là điều mà bạo chúa không ngờ. Ngạc nhiên, vua Ngọa Triều lúc ấy cảm thấy mình cũng chỉ là một người.
Ngài âm thầm suốt ngày trong cung cấm, không nói, không rằng, cũng không cho phép ai được tấu đối sự gì cả. Một tên cung nữ, cậy mình được vua sủng ái nhất, khẽ mon men lại gần bên ngự tọa. Nhưng, hắn vừa mở miệng thì cả một chiếc bình sứ cổ đã vỡ toang trên đầu hắn!... Đoàn thiếu nữ túc trực hai bên tả hữu đều kinh hồn nín thở. Chúng câm như thóc, đứng rõ im, tựa hồ muốn lẫn với các bức tượng đồng...
Rồi, đáng nhẽ cứ ngồi tót trên ngai như vị thần thiêng muốn gì được nấy mà không phải nhọc lòng cử động, vua Ngọa Triều đứng phắt dậy, đi quanh phòng. Ngài nóng lòng chờ tin của bọn nội giám sai đi lùng Bội Ngọc.
Vua qua chỗ nào, bọn thị vệ chỗ ấy lại một phen bở vía. Chúng dán mình vào vách, cố giữ mà toàn thân chúng vẫn như đám sậy gió rung...
Giữa lúc ấy, một tên nội giám ở ngoài chạy về để báo tin rằng Bội Ngọc có lẽ không có ở Kinh thành...
Vua Ngọa Triều vung chiếc dùi đồng cầm trong tay, tên nội giám lăn ra chết thẳng.
Một lát sau, một tên khác chạy về. Trông thấy xác bạn, hắn run như rẽ...
- Bội Ngọc đâu?
Ngã khụy xuống trước mặt vua, tên nội giám cố nói:
- Tâu... bệ hạ... thần đẳng không thấy dấu vết Phạm tiểu thư đâu cả!...
Chiếc dùi đồng lại giáng xuống như sét đánh, tên nội giám ngã quay xuống gần bên mình bạn.
Tên thứ ba cũng lại như hai tên kia.
Và, sự tức giận càng như lửa cháy trong lòng, vua Ngọa Triều bước thẳng lên lầu Ngọ môn...
... Mặt trời đã khuất sau dãy núi phương Tây màu tím thẫm; ánh nắng vàng ngùn ngụt trên các chỏm cây to và các ngọn tường rêu phủ, trong khi ở các nơi khuất bóng, sương chiều đã rây xuống cảnh vật một lớp bụi phấn mơ hồ.
Đứng trơ như một tảng đá, vua Ngọa Triều nhìn cảnh tàn mà uất cho cái uy quyền không tuyệt đối của mình...
Trong lúc ấy, muôn vàn tinh tú kế tiếp nhau hiện ra trong thẳm mù khơi. Những con dơi đêm bay vùn vụt quanh đầu như những ý nghĩ đen tối chợt hiện ra rồi tan mất...
Vua thở dài thất vọng:
- Cả một đất nước mở ra dưới chân ta gồm có bao sinh linh chưa thấy bóng ta đã vội gục đầu xuống cát bụi. Mỗi một câu ta nói là một cái mệnh lệnh thiên thần đối với chúng. Ta ngự qua chỗ nào là y như một cơn dịch lệ qua chỗ ấy. Một mũi tên của ta bắn ra đủ làm rung chuyển bốn phương trời. Ấy thế mà, đến nay sự ao ước nhất của ta không được thỏa!
Ngài nghiến răng ken két rồi truyền gọi Đinh Thọ.
Hoảng kinh như phải ra trước mắt Tử thần, Đinh Thọ quỳ mọp xuống sân gạch, khẽ bò dần lại bên vua. Hắn ngửa mặt trông lên, khẽ cất giọng van nài tha thiết:
- Tâu Thánh thượng, ngài sinh phúc cho hạ thần: tiểu thư Bội Ngọc, con Phạm thái sư, mà Thánh y đã muốn thâu dụng, hạ thần dám chắc không trốn đâu thoát khỏi. Hạ thần đã dò biết rằng nàng mặc giả trai chạy sang vùng Đình Bảng xứ Kinh Bắc rồi. Thần sẽ tìm cho kỳ được tiểu thư Bội Ngọc về dâng Thánh thượng. Một khi đã vào tới thâm cung, thấy cuộc đời vương giả cực kỳ tôn quý, nàng sẽ tự mình vui vẻ nhận vào hàng cung nữ được chầu chực mình rồng.
- Nhà ngươi đã biết đích xác Bội Ngọc trốn vậy nhà ngươi còn đợi gì mà chưa bắt nàng về đây?
Đinh Thọ cúi đầu, run như cầy sấy.
Vua Ngọa Triều nghĩ thầm: Bội Ngọc ẩn lánh ta như vậy có lẽ nàng đã dan díu cùng ai rồi chăng?... Hẳn lại chỉ Công Uẩn!...
Nghĩ vậy, vua Ngọa Triều bỗng nghiến hai hàm răng, sắc diện ngài đỏ bừng như lửa, lần thứ nhất bao nhiêu máu trong mình ngài dồn cả lên gương mặt thờ ơ... Nhưng lại xanh tái, lông mày ngài cau lại, mắt ngài quắc lên, dữ tợn đến nỗi Đinh Thọ ngất đi...
Ngài đá mạnh vào người tên Thái giám:
- Nhà ngươi mau đem quân ngự lâm ra thành, tiến thẳng sang Kinh Bắc khám hết các dinh thự, các đền đài, các tư gia, cho đến lều tranh vách đất cũng không từ, đem Bội Ngọc về đây, mặc dù nàng còn sống hay đã chết. Nếu không được thế, nhà ngươi sẽ phải đem thân làm mồi cho con mãnh hổ của trẫm!
Đinh Thọ lạy năm lạy đoạn xuống cổng thành để thực hành đế mệnh.
Vụt chốc toàn thành nổi lên tiếng động long trời, và nếu vòm trời không xanh thẫm, cỏ cây không im lặng, người ta có lẽ ngờ rằng nổi trận phong ba: đó là đoàn Ngự lâm quân, ngồi trên các chiến xa lớn sơn đen rầm rộ kéo ra thành...
Nước doanh Hán, Việt đồng rửa sạch
Khúc nhạc từ, réo rắt lừng khen
Tài so Tần, Hoắc vẹn tuyền
Tên ghi gác Khói, tượng truyền đài Lân.
Đoàn Thị Điểm
X
Qua một cõi mênh mông những núi đá, những cồn cát, những tháp dị hình, những làng mạc lẻ loi ẩn dưới bóng dừa, Công Uẩn và đoàn dũng sĩ tiến thẳng tới kinh thành Đồ Bàn, quê hương của các vũ nữ mà chàng vẫn nghe đồn như các tiên nga trong cổ tích.
Nhô lên từ các bí mật nên thơ của vườn Ngự Uyển và rực rỡ trong ánh sáng rực rỡ của mặt trời dội lênh láng xuống muôn khóm hoa tươi mơn mởn trên nền lá bóng xanh như ngọc, những cung điện bằng cẩm thạch màu vàng tím, theo một lối kiến trúc lạ lùng, đột nhiên hiện trước mặt Lý Công Uẩn như một cảnh rỡ ràng trong mộng ảo...
Chàng dừng ngựa, mở to mắt ngắm miên man hằng trống canh, chẳng khác nhà thi sĩ đắm say một bài thơ đẹp.
Mãi sau, chàng mới truyền lệnh cho nhạc binh cử khúc Quân thiều để báo tin vào Kinh thành. Quả nhiên cổng thành mở rộng, một đám đông sặc sỡ hiện ra với muôn tiếng ồn ào của nhã nhạc, của người reo, vật rống...
Vua Chiêm Thành ngự trên mình con voi trận thắng đủ bành khấu thêu vàng dát ngọc, tiến lên trước để mừng đón ân nhân, theo ngài là các võ tướng, giáp trụ đầy mình, cưỡi trên lưng những con ngựa tuyệt đẹp, sau cùng là cả một bể người ồ ạt...
Khi chỉ còn cách Lý Công Uẩn độ chừng mười thước, vua Chiêm Thành ra hiệu để quản tượng bắt voi quỳ xuống, đoạn nhà vua chắp tay vái Công Uẩn mà nói rằng:
- Hỡi Người, tôi xin kính chào Người, tôi để lên miệng và lên ngực tôi vì từ nay miệng tôi sẽ chỉ nói với Người những câu thành thực, lòng tôi sẽ chỉ rung động bởi sự biết ơn.
Dứt lời, nhà vua phất tay áo ngự một cái.
Đoàn võ tướng, từ nãy im lặng như tượng đất, vụt phóng ngựa chạy vòng quanh trước mặt Công Uẩn và hò reo ầm ĩ. Thực là một cảnh tượng phi thường, một cơn lốc ngũ sắc, trong đó, ánh gươm lấp lánh dưới chiều như muôn nghìn tia chớp điện...
Khung cảnh chung quanh tựa hồ giúp thêm vẻ tráng lệ cho cuộc biểu diễn oai hùng; mặt trời giống hệt quả cầu bằng máu đang từ từ chìm mất, trong vũng lửa hoàng hoàn. Những dải núi xa hiện trên nền da cam từng đám máu, thẫm tím vĩ đại. Một vài dải mây xám viền lửa đỏ, lơ lửng giữa vòm không trong biếc. Từng đám hơi nóng từ mặt đất bốc lên ngùn ngụt. Sương lam bắt đầu lan trên những đồng ruộng mênh mông...
Lý Công Uẩn, sau khi tấm tắc khen thầm bọn vũ tướng Chiêm Thành, cũng muốn tỏ cho họ biết tài các tướng tá của mình. Chàng vẫy tay một cái, tức thì các tướng Nam sóng nhau từng đôi một, bắt đầu biểu diễn. Họ cắp chặt lấy yên, thúc cho ngựa phi sát đất, tay múa siêu đao loang loáng hoặc tung bổng lên không rồi lại bắt lấy một cách dễ dàng.
Đám đông dân chúng Chiêm Thành vỗ tay khen ngợi và hoan hô như sấm.
Nhìn theo đoàn tướng tá của mình. Công Uẩn thích chí cười khanh khách.
Máu trong người chàng sôi lên. Hồn thượng vũ rạo rực, chàng quát một tiếng to, con ngựa bạch nhảy chồm lên một cái đoạn lao thẳng xuống đồi như một mũi tên bắn, Công Uẩn đứng phắt lên yên ngựa. Chiếc áo bào chàng mặc bay tung trước gió chẳng khác một lá cờ hồng...
- U ha!... U ha!...
Khán giả say sưa, cùng gào lên như bão rống...
Công Uẩn nhào đầu ra phía trước, chân quắp lấy cổ ngựa, chỏm mũ chỉ cách mặt đất chừng một gang tay. Vụt cái, chàng lại ngồi thẳng trên yên, rẽ cương cho ngựa quay đầu lại rồi, như chớp loáng chàng nhảy tới trước mặt vua Chàm. Bỗng, con ngựa chàng cưỡi choãi thẳng bốn chân, đứng sững lại rồi cả người cả ngựa im phăng phắc nom chẳng khác một pho tượng bằng đồng hun của một nhà điêu khắc đại tài.
Cả cái bể người ầm ầm nổi sóng...
Công Uẩn vẫn điềm nhiên, chàng thủng thỉnh cùng vua Chàm tiến thẳng vào cổng thành...
Trong nội điện, yến diện đã chực sẵn. Vua Chàm mời Công Uẩn ngồi vào ghế thượng tân, đoạn truyền cử nhạc. Tức thì những tiếng tơ đồng, tiếng sênh phách, tiếng tiêu quyển nổi lên, nhịp theo một điệu hát lạ lùng ngây ngất!...
Tiếng đàn tiếng hát mới buồn làm sao! Nó gợi ra trong lòng tráng sĩ tất cả nhớ nhung u ẩn, những sầu muộn mênh mông. Nó đem cho cơ thể một nỗi chán chường tê tái...
Bọn vũ nữ, quỳ hai hàng trên những thảm thêu ngũ sắc và đương mơ màng xa vắng, bắt đầu rung động, thổn thức đoạn từ từ đứng dậy...
Một chiếc mũ đầu mâu nhọn hoắt bằng vàng đính ngọc cho kín mái tóc mây, như cả một trời sao lấp lánh; những vòng vàng rung rinh trên ngực; bộ áo giáp ken bằng vàng vẩy bạc chẽn lấy cái mình dẻo như một đoạn song non; một đôi vòng nhạc đeo quanh hai cổ chân; y phục của bọn vũ nữ một loạt như nhau cả.
Bị ảnh hưởng của âm nhạc, họ bắt đầu uốn éo, ngả nghiêng, vặn mình như đàn rắn, quỳ xuống, đứng lên, chắp hai bàn tay về trước ngực hoặc dang thẳng hai bên, chờn vờn như đàn chim sắp cất cánh... Họ theo đúng từng nhịp của đàn hát, diễn ra một cảnh tượng huyền ảo, dưới ánh ngũ sắc huyền ảo của những chiếc đèn lồng...
Công Uẩn ngây ra nhìn, chàng bâng khuâng tưởng đâu mình lạc tới một cuộc dạ hội thần tiên. Thực chưa bao giờ những thanh sắc trên thế gian đã não nùng, xúc động lòng chàng đến thế. Bao nhiêu chí khí ngang tàng nhiệt liệt, bao nhiêu năng lực phấn đấu oai hùng của chàng đều đi đâu mất. Trong giây phút ấy chàng cảm thấy tâm hồn dào dạt như muốn tan ra thành muôn vạn nỗi nhớ niềm thương...
Chàng không phải là một chiến sĩ nữa, chàng cũng không phải là một thi nhân. Chàng đã trở nên một khách si tình, yêu vơ vẩn.
Mà không yêu sao được!
Quanh mình chàng, biết bao là gái đẹp lượn lờ trong một bầu ánh sáng của mộng mị, biết bao nhiêu làn sóng mắt làm đắm đuối tim chàng, biết bao nhiêu nụ cười đốt cháy da thịt chàng, biết bao nhiêu tấm thân mềm dẻo bỡn cợt chàng bằng những vẻ đẹp thấp thoáng quanh mình chàng lúc ấy đều thuộc về một thế giới khác, một thế giới gần như của tưởng tượng... Chàng thấy ở mỗi vũ nữ Chiêm Thành một bài thơ tuyệt diệu nhưng tối nghĩa mà chàng muốn hiểu!...
Vua Chiêm Thành cười ngất. Nâng chiếc chén ngọc, ngài vui vẻ uống một hớp rượu thơm nồng đoạn bảo Công Uẩn:
- Tướng quân! Một người anh hùng như tướng quân mà không được làm vua một nước, nghĩ thực cũng uổng một đời!
Công Uẩn giật mình ngồi thẳng dậy. Chàng vừa ở cung trăng rơi xuống cõi hồng trần. Bao nhiêu nghĩa vụ đối với nước nhà, bao nhiêu trách nhiệm của một viên chủ tướng cầm sinh mệnh toàn thể sĩ tốt trong tay vụt lại trở về với trí nhớ của chàng. Hình ảnh vua Ngọa Triều độc dữ, hình ảnh Phạm thái sư già nua, hình ảnh Bội Ngọc buồn rầu kế tiếp nhau hiện ra trước chàng loang loáng...
Chàng vụt nhớ tới những nỗi lo sợ khi cầm quân ra đi, những tai vạ tày đình treo lơ lửng trên đầu những người mà chàng yêu dấu. Tấm lòng chàng đương ngây ngất, vụt trở nên hăng hái lạ thường. Chàng phải lo đương đầu với may, rủi. Ngoảnh trông về Tổ quốc xa xôi, Công Uẩn bồn chồn, tim gan như lửa đốt. Chàng giận không có đôi cánh bay về cho nhanh.
Giũ áo đứng lên, Công Uẩn tạ từ:
- Nhà vua có lòng hậu đãi, bổn soái thực thâm cảm thịnh tình. Chỉ tiếc cuộc vui ngắn ngủi, đêm đã hồ tàn, vậy xin bái từ.
- Vâng, tướng quân đã muốn nghỉ ngơi, trẫm cũng không dám nài ép. Nhưng, trước khi tướng quân lui về hổ trướng, trẫm xin tướng quân hãy tin ở sự thành thực của trẫm. Trẫm xin thề trước Đức Thích Ca Mầu Ni Phật rằng nếu trẫm có lòng nào phản bạn xin Đức Phật ngài tuyệt diệt trẫm, và cả hoàng tộc Chiêm Thành.
XI
Vẫn chưa có tin gì về Bội Ngọc!... Trong cung cấm vẫn một bầu không khí nặng nề, những khủng hoảng và bực dọc... Vua Ngọa Triều vẫn ngồi không yên ổn, đứng không vững vàng...
Bạo chúa là một vị quân chủ độc dữ ngang với Hoàng đế Néron nước La Mã hoặc Trụ Vương đời nhà Ân bên Trung Hoa, tính nóng như lửa mỗi cơn lôi đình của nhà vua là cả một phong ba. Vả lại, chữ nghĩa ít, kiến thức nông nổi tuy tính rất kiêu ngạo, nhà vua, bởi thế, thường tỏ ra là một người mê tín như đàn bà. Sự mê tín ngu dốt ấy càng khiến bạo chúa lắm khi coi rất rẻ mạng người, cái mạng của bất cứ kẻ nào mà bạo chúa ngờ có thể hại cho ngài, hoặc chỉ là vô ích cho ngài.
Một nhân cách như thế thường biểu lộ ra trên nét mặt đầy sát khí; bạo chúa mang trong lòng biết bao nhiêu tội ác nó hiện rõ trong cặp mắt vô cùng nham hiểm. Ngài thực là hiện thân của thần Tam Bành.
Tuy vậy, vua Ngọa Triều cũng run sợ cho tính mệnh của mình lắm.
Trong những phút hiếm hoi mà cái oai quyền tuyệt đối của nhà vua bị lung lay, trong những phút mà những cơn say máu người đã nhạt, bạo chúa cũng ngầm hiểu rằng quanh mình ngài, sự oán hờn như nước thủy triều càng ngày càng lên mạnh và có thể ngập lỉm ngài đi lúc nào không biết. Chính những lúc ấy bạo chúa tỏ ra mê tín nhất, hay cầu đảo thần minh, hay hỏi dò bói toán nhất, lại hay thi hành những hình phạt thảm thê nhất mục đích như đem máu người để làm ngạt những âm mưu tưởng tượng do trí ngài sảng sốt bày đặt ra.
Bầy tôi của ngài bị đè nén đều cúi rạp mình dưới sự đe dọa của mã tấu.
Cái cực hình mà hai tên cung nữ sủng ái vừa phải chịu khiến cho những kẻ tự đắc nhất cũng phải tiêu hồn. Hai kẻ khốn nạn ấy bị tình nghi là đã dùng lời bất kính để nguyền rủa quân vương. Bạo chúa nổi giận lôi đình, truyền gọi hai phạm nhân đến trước ngự tọa rồi chính ngài thân tự cầm bảo kiếm xả chúng ra làm muôn mảnh.
Ngài muốn rằng sự trừng phạt ấy sẽ làm cho kẻ khác muốn theo gương hai đứa bầy tôi bất trung kia phải khiếp vía. Cái ý định ấy quả nhiên hiệu quả: những ai oán thù vua nhất cũng chỉ đành cắn răng chờ đợi cái phút mà phàm người ta ai cũng đều phải qua...
Sống giữa sự khủng khiếp và sự thâm thù. Nhà vua tuy vậy vẫn đường hoàng hưởng những khoái lạc dâm cuồng do ba nghìn mỹ nữ, cung tần hiến hàng ngày.
Một người như thế, ai tưởng còn có thể yêu được nữa! Ấy thế mà vua Ngọa Triều đã yêu say đắm, yêu như cậu thư sinh mười chín tuổi.
Mối tình đột ngột và thiết tha nung nấu ấy khiến vua Ngọa Triều đã chán chường nhục dục, bỗng như một cây cằn cỗi gặp trận mưa xuân.
Thực thế, nhà vua từ lúc thoáng nom thiếu nữ trên sông, thấy mình như đổi mới, hơn nữa, thấy mình trở nên một người khác hẳn, nhà vua cũng bắt đầu hy vọng điên rồ, cũng nhớ nhung vơ vẩn, cũng ghen tuông một cách vô nghĩa lý như một anh chàng si chưa biết đời.
Mối tình khẩn thiết ấy, thêm có một oai quyền nhất thống, một tâm tính hiếu sắc, càng trở nên mạnh mẽ và ghê biết chừng nào!
Nó là cả một lớp sóng ngất trời bị cái thái độ kiêu hãnh của Phạm thái sư và sự lẩn tránh ngạo mạn của Bội Ngọc ngăn cản.
Làn sóng khi nào chịu lui trước khúc đê mỏng mảnh. Lẽ tất nhiên là khúc đê phải vỡ nát. Lẽ tất nhiên, vua Ngọa Triều phải làm cho cha con Phạm thái sư đến cúi đầu khuất phục mới nghe.
Buổi sớm ngày hôm ấy, bạo chúa cũng đang nóng lòng chờ tin của Thái giám Đinh Thọ như mọi khi thì bọn Ngự trù bưng cơm lên.
Lính ngự trù ăn mặc sặc sỡ, rón rén đi lại quanh ngự tọa. Chúng lẳng lặng bày lên long án những món ăn mà vua thích.
(còn tiếp)
Nguồn: Cái hột mận. Tiểu thuyết lịch sử, rút từ Lan Khai tuyển tập, (hai tập, 1700 trang khổ 16 x 24 cm). Trần Mạnh Tiến sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học sắp phát hành.
|