Về đến phòng làm việc, Đôrôkhốp bật quạt bàn, bỏ hết rèm cửa xuống và hối hận là đã không làm thế trước khi đi. Trời đã bắt đầu đổ lửa mà phòng làm việc của anh lại hướng mặt về hướng mặt trời thành ra bị đốt nóng không khác gì một cái lò.
Anh bất chợt muốn được vào rừng. Không súng, không chó... tay không đi lang thang. Giá lúc này mà lại được xuống sông Vônga, đến cái làng mà năm ngoái anh đã thuê được một ngôi nhà, ở đấy khi nào cũng có gió thổi. Lần ấy vợ anh đã nói rằng ở trong ngôi nhà bên bờ sông cũng chẳng khác gì ở trong một cái ống khí động học. Giá phải ở trong phòng này thì vợ anh hẳn sẽ quý cái “ống” ấy biết bao nhiêu! Đôrôkhốp thở dài, rút quyển sổ ghi chép đã viết gần hết một nửa ra. Sau mỗi chuyến công tác, anh lại có một quyển sổ như thế nhưng phải ghi chép đến trang cuối cùng. Như vậy là công việc không được tiến hành nhanh chóng cho lắm, có lẽ mới được nửa mà có khi ít hơn. Cũng có những chuyến công tác mà thành công đến thật nhanh chóng.
Thả mình xuống ghế, đại tá rũ mấy mảnh giấy gói kẹo mà anh đã nhặt được đêm qua từ hộp thuốc lá rồi trầm ngâm suy tưởng. Và thế, Xlavin không có loại kẹo này trong người cũng như ở nhà. Ít ra thì không có trong tủ buýp phê. Hay là có một người nào đó đã mời anh ta ăn? Hay anh ta đã mua chúng ở một quầy nào đó? Mọi cái đều có thể lắm. Không biết trên những mẩu giấy này có còn giữ được dấu vân tay không nhỉ?
Kixêlép bước vào, tò mò nhìn mấy mẩu giấy cuộn tròn thành những quả cầu nhỏ trên bàn.
- Dakha Yakôlêvích này, tôi muốn yêu cầu anh một việc. Anh có thể gọi một chuyên viên về dấu vân tay đến đây không?
- Được chứ! – Đại úy trả lời và đi ra cửa.
Nhưng Đôrôkhốp đã nhấc điện thoại và trao nó cho Kixêlép.
- Anh dùng điện thoại mà gọi. Trong lúc chờ đợi người ấy đến tôi và anh hút thuốc.
Kixêlép quay số điện thoại yêu cầu chuyên viên dấu vân tay đến phòng và ngồi xuống bên cạnh Đôrôkhốp.
- Đại úy này, ở chỗ các anh có nhiều vụ chưa phá được không? – Đại tá hỏi.
- Cũng không nhiều lắm. Trong năm nay chúng tôi có hai vụ trộm và một vụ lường gạt ở vườn hoa chưa tìm ra được. Ngoài ra còn một vụ hành hung cạnh nhà vòm, nói đúng hơn là một vụ đánh nhau gây chấn thương. Hai người bị đánh phải nằm nhà thương. Cả hai đều biết người đánh nhưng không dám nói ra. Đấy, chỉ có từng ấy vụ chưa làm ra thôi. Từ năm ngoái chúng tôi còn một vụ lấy trộm ở một cửa hàng dệt kim. Kẻ trộm đã chở đi gần nửa xe toàn đồ len, dạ. Vụ này chúng tôi đã điều tra nhưng vô hiệu. Trên tỉnh cũng đã cử người xuống giúp nhưng cũng chẳng được tích sự gì. Qua điều tra, chúng tôi xác minh được bọn trộm có xe nhưng xe gì thì chúng tôi không xác minh được. Có thể là một chiếc Micrôbuýt “UAZ” hoặc một chiếc “RAF”. Chúng tôi đã cho kiểm tra tất cả những người có xe riêng ở đây. Có lẽ là một bọn từ nơi khác đến. Thực ra, chính Aphanaxép đã đích thân đi điều tra vụ này.
- Còn ở các quận lân cận thì sao?
- Các quận lân cận thì mỗi nơi mỗi khác. Ở quận Thảo Nguyên thì lúc nào cũng yên ổn, bình lặng, chỉ có đầu hè vừa rồi một cửa hàng bị lấy trộm, cũng bằng xe.
- Đã khám phá ra rồi chứ?
- Chưa. Cách đây không lâu tôi có nói chuyện với trưởng công an quận, anh ta nói không tài nào tìm ra được. Còn một quận khác, cũng ngay cạnh chúng tôi, quận Đường Sắt thì lộn xộn lắm. Đó là quận trung tâm lại có ga xe lửa, thành ra ở đó cũng như cái vườn không, nhiều vụ lắm và cũng có nhiều vụ chưa làm ra. Mới đây, cửa hàng “Vải sợi” bị lấy cắp, bọn trộm đã chở đi nhiều súc vải đắt tiền. Một đồng chí công an phát hiện thấy bọn trộm, định bắt giữ nhưng chúng đã lái xe hất anh ta ngã và trốn thoát. Anh ta bị gãy xương chậu, hiện đang nằm trong bệnh viện. Trước khi lấy trộm cửa hàng, bọn chúng đã lấy cắp một chiếc “Mốtxcơvích” sau đó đem ném ra phố.
Nghe Kixêlép kể, chốc chốc Đôrôkhốp lại cúi xuống ghi chép. Mải nói chuyện, hai người không để ý thấy một phụ nữ đứng tuổi bước vào.
- Đồng chí cho gọi tôi đấy à?
- Có, tôi có yêu cầu chị đến – Nói rồi đại úy quay sang nói với đại tá – Đồng chí đại tá, cho phép tôi được giới thiệu một đại diện của nền khoa học hình luật của chúng tôi – giám định trưởng- Anna Xécgâyépna Xmianôva cũng là đại úy công an, một chuyên gia lớn về dấu vân tay.
- Chà, đã chuyên gia “lớn” rồi cơ đấy!- Xmianôva mỉm cười chìa tay cho Đôrôkhốp bắt.
Kixêlép kéo ghế mời người phụ nữ ngồi và Đôrôkhốp liền đẩy mấy mẩu giấy gói kẹo bị vo tròn thành những quả cầu nhỏ mà anh đã tìm thấy được cạnh bụi nhài về phía chị. Xmianôva lấy một tờ giấy trắng, trải mấy mẩu giấy lên đó, rút từ trong túi ra một cái pin xết và một kính lúp, rồi lật lật từng mẩu giấy, bắt đầu chăm chú xem xét.
- Đồng chí đại tá, thế đồng chí muốn biết những gì về mấy mẩu giấy này?
- Tất cả, mà cái chính là ai đã ăn chúng? – Đôrôkhốp cười mát đáp.
- Cái đó thì khoa học hình luật không biết được đâu – Người phụ nữ trả lời.- Tôi chỉ có thể nói cho đồng chí một điều: đây là những chiếc kẹo cùng một lô và nơi sản xuất.
- Anna Xécgâyépna, liệu có thể lấy được dấu vân tay trên những mẩu giấy ấy không nhỉ?
- Tôi nghĩ là không. Không, vân tay rõ ràng là có, tôi sẽ lấy và hiện lên ảnh, nhưng còn cái điều đồng chí muốn làm tiếp, dùng những vân tay ấy để tìm ra thủ phạm thì chúng ta sẽ không làm được. Thứ nhất, là mặt giấy quá nhỏ và hai nữa các mẩu giấy bị vò nát đến nỗi chắc hẳn các vân tay đã bị nhòa hết khó mà nhìn ra.
- Không được thì không được chứ biết làm sao – Đại tá thở dài – Thế nhưng cũng tiếc. Tôi nghĩ, người đã ăn những chiếc kẹo ấy đang làm cho tôi và đại úy Kixêlép đây rất quan tâm. Còn chị, chị Anna Xécgâyépna, chị có thích kẹo không?
- Không thích lắm – Người phụ nữ mỉm cười đáp.
- Theo chị thì trong vòng bao nhiêu phút một người có thể ăn hết ba hoặc bốn chiếc kẹo “Khôlôđóc”?
- Cái đó cũng khó nói. Còn tùy thuộc vào ý thích.
- Đồng chí đại tá – không kìm nổi Kixêlép hỏi – Những chiếc kẹo “Khôlôđóc” ấy thì có can hệ gì đến chuyện này?
- Thú thật là cho đến lúc này tôi cũng chưa biết có can hệ gì hay không – Đại tá cười mát và nói – Nhân thể, anh cử một cậu nào đi điều tra xem trong các cửa hàng có bán loại kẹo này không. Nếu như không thì phải điều tra xem chúng đã được bán ra lúc nào và nếu tìm mua được vài chục chiếc thì càng tốt. Đại tá nói rồi lục ví lấy ba rúp đưa cho Kixêlép.
- Tôi sẽ yêu cầu Nicôlai Kôzơlencô người đang làm báo cáo về hai cậu nhân chứng cho anh làm việc này.
- Thế thì tốt.
***
Kixêlép vừa đi xong thì có tiếng gõ cửa, thận trọng và dè dặt.
- Vào đi, vào đi! – Đôrôkhốp lên tiếng hai lần.
Một cô gái rón rén bước vào. Đại tá không nhận ra đó là Đina Manxêva. Cô hoàn toàn không còn như hôm qua, lúc ở ban chỉ huy tự vệ. Rõ ràng là sự quả quyết đã không còn ở cô. Cô mặc chiếc váy đen là phẳng với mái tóc chải đơn sơ. Trông cô có dáng dấp của một cô học sinh trung học, chỉ có điều thiếu cái tạp dề trắng trước ngực. Khuôn mặt hoàn toàn trẻ thơ, chỉ có ánh mắt đau buồn là làm cho cô có dáng vẻ người lớn.
Đôrôkhốp gần như bàng hoàng “giống con bé nhà mình, già hơn một tuổi là cùng. Không, con bé nhà mình trông chững chạc hơn, có dáng dấp của con gái thủ đô hơn. Cầu trời cho nó đừng bao giờ phải rơi vào một câu chuyện thế này” – Đại tá tự nhủ với một vẻ đầy mê tín.
- Đinachenka, vào đi cháu – Đại tá nói rồi đứng dậy ra đón cô gái, kéo ghế cho cô và ngồi xuống bên cạnh – Cháu đừng ngượng, cứ tự nhiên – Anh muốn đưa tay vuốt mái tóc cô gái và nói hai tiếng “con gái” nhưng kịp kìm lại được.- Cứ tự nhiên, cứ đặt cái cặp sang trọng của cháu xuống bàn đi ở đây không có gì đâu mà cháu sợ.
Đại tá rất muốn gợi lên một nụ cười trên khuôn mặt của cô gái. Song đôi mắt cô vẫn có vẻ buồn rầu và thậm chí còn pha chút trách móc.
Đôrôkhốp cầm lấy chiếc cặp khá lớn nhàu nát trên tay cô gái, ngạc nhiên vì sức nặng của nó và thận trọng đặt xuống sàn...
- Nào cháu nói đi – Anh nói vẻ cương quyết.
- Cháu cũng không biết nói gì...- Cô gái nói giọng nhỏ nhẹ gần như thì thầm.
- Không biết là thế nào? – Đôrôkhốp sẵng giọng và nhận thấy môi cô gái run run. Anh biết rằng phương pháp trấn an tồi nhất trong những trường hợp như thế là lòng thương hại và sự thông cảm. – Sắp sửa làm vợ đến nơi mà lại nói không biết người chồng sắp cưới của mình thế nào. Cháu yêu cậu ấy chứ?
- Yêu – Cô gái ném một tiếng cộc lốc gần như thách thức.
- Thế thì cháu cứ yêu thả sức tất nhiên là nếu cậu ta xứng đáng.
- Sao chú lại có thể nói như thế, nếu như... Chẳng lẽ chú không biết anh ấy! Không ai như anh ấy đâu! Một con người tuyệt vời! Chính vì anh ấy mà cháu đã không thi vào đại học.
- Không có thời gian để ôn thi chứ gì?
- Không phải thế. Chú hoàn toàn không hiểu ý cháu. Nếu như Ôlếch đã nói, cũng như tình yêu, ngành nghề chỉ có một và nó cũng sẽ đem lại một hạnh phúc như thế thì làm sao cháu có thể không tin anh ấy cho được.
- Cháu nói phải. Nếu yêu thích công việc của mình thì đó là cả một hạnh phúc lớn lao. Cho dù chúng ta đã dùng hỏng những từ đó... – Đôrôkhốp nói vẻ trầm.
- Anh ấy đã nói với cháu rằng không nên chọn lựa ngành nghề theo nguyên lý: trường nào ít thí sinh và gần nhà nhất thì thi vào. Anh ấy còn nói rằng cần phải cảm nhận, thăm dò cái nghề mà mình sẽ chọn – Đina đỏ mặt, đôi mắt mà mới đây đang là màu xám bỗng trở thành màu xanh biếc – Chú tưởng là Ôlếch không thể thi vào đại học ngay được chứ gì? – Không đâu, anh ấy là học sinh xuất sắc nhất của trường nhưng lại xin vào làm việc ở nhà máy. Anh ấy nói rằng nếu không làm thế thì sẽ cảm thấy xấu hổ không dám nhìn thẳng vào mặt những công nhân, nếu từ ghế sinh viên ra lãnh đạo họ mà không biết cầm cái búa trong tay. Anh ấy có thể thi vào Đại học hơn nhiều người khác. Anh ấy đã không ngại bất kỳ công việc gì.
- Đina, sao cháu lại nói về Ôlếch ở thời quá khứ thế? Anh ấy còn sống và sẽ sống.
Đina nghe nói mỉm cười rồi đưa mắt nhìn đại tá.
- Anh ấy ngạc nhiên không hiểu tại sao có nhiều người trong bọn cháu lại sợ làm những công việc “lao động chân tay”. Ôi nếu chú biết anh ấy đã bêu riếu bọn cháu như thế nào! Anh ấy nói rằng trong chúng cháu, ở nơi sâu xa của tâm tưởng vẫn còn lúc nhúc những thói phách lối và kênh kiệu tiểu tư sản.
Đina bắt gặp cái nhìn tinh nghịch của đại tá.
***
Đại tá Đôrôkhốp mở quyển vở mà Ôlếch vừa đặt ra bàn định đọc thì Đina, như một mũi tên lao vào phòng. Thoạt tiên, cô chạy tới ôm chầm lấy Ôlếch nhưng rồi cô thấy ngượng buông ra và bắt đầu kể chuyện cô đã tìm được Kriutrôcốp và anh ta đã cuống cuồng bỏ chạy đi đâu đó, chỉ nói là đi lấy con dao như thế nào.
Đôrôkhốp nghe cô nói, đứng bật dậy yêu cầu cô nhắc lại câu cuối cùng Kriutrôcốp đã nói với cô.
- Kriutrôcốp nói rằng anh ta biết con dao đó hiện đang ở đâu và sẽ đi lấy mang đến đây cho chú.
- Chà thế là hỏng bét! – Đại tá đến bên điện thoại vội vàng quay số.
Nhìn thấy đồng chí trực ban chỉ huy, anh bỏ điện thoại xuống nói nhanh:
- Tôi vừa gọi điện cho đồng chí xong.
- Tôi mang bức điện vừa nhận được của Mátxcơva đến cho đồng chí đây.
Bức điện viết:
“Để trả lời yêu cầu của đồng chí chúng tôi xin báo cho đồng chí biết rằng con người mà đồng chí quan tâm đã từng bị kết án bốn lần vì tội chuyên ăn trộm các cửa hàng và được xem như một kẻ tái phạm nguy hiểm. Hắn được thả lần cuối cùng cách đây sáu năm. Sau một năm sống ở quê, hắn bỏ đi nhưng không biết đi đâu. Có vết xăm. Trên cánh tay trái có xăm hình ngọn dáo với một con rắn quấn quanh”.
Đại tá yêu cầu người trực ban chỉ huy ra lệnh chuẩn bị tất cả các xe cộ hiện có của ban, và cán bộ, chiến sĩ các phòng ban không được đi đâu. Đại úy Kixêlép bước vào, nghe những chỉ thị ấy, ngơ ngác hỏi:
- Có chuyện gì xảy ra à, đại tá?
Đôrôkhốp trao bức điện cho đại úy, Kixêlép đọc qua định hỏi điều gì đó nhưng đại tá đã nói trước.
- Các đồng chí mà tôi mời đến họp về hết rồi à?
- Đâu có, họ đang ngồi cả ở phòng tôi.
- Nếu thế thì cứ bảo họ ở lại, sẽ có việc cho họ làm. Tôi yêu cầu anh một điều: anh hãy kiếm một căn phòng trống nào đó, tạm thời cho Ôlếch ở lại đấy và để cho cậu ta khỏi buồn cứ để cho cô Đina ở lại với cậu ta. Tôi nghĩ Ôlếch chưa nên đi ra phố trong lúc này. Còn anh thì đi gọi thiếu tá Vaxili và Grigôlép rồi đến đây gặp tôi.
***
Kriutrôcốp hộc tốc chạy. Anh sẵn sàng, cãi vã, gây gổ và thậm chí quật nhau. Anh đã quyết định là sẽ tóm lấy cổ, bắt hắn phải đưa con dao cho anh. Vì vậy mà anh đã xồng xộc lao vào và ngay từ cửa đã chửi bới quát tháo ầm lên.
- Xtêphan, cậu làm sao thế? Điên à? – Bócđanốp đón anh bằng một câu hỏi lạnh lùng. – Cái gì mà làm ầm cả hành lang lên thế, đồ ngu! Vào đây, ta nói chuyện.
- Không có chuyện trò gì với mày! – Kriutrôcốp tiếp tục quát tháo – Khôn hồn thì đưa con dao của Xlavin ra đây. Cái con dao mà tao đã tự tay làm cho Xlavin ấy...
- Con dao của Xécgây ư? Cậu cần nó làm gì vậy?
- Để tao mang nó đến cho công an, để họ hết nghi ngờ một người bạn tốt của tao.
Bócđanốp vẫn bình tĩnh. Hắn lẳng lặng đi vào bếp xách một chai cô nhắc và hai cái li nhỏ ra đặt lên bàn. Hắn rót hai li rượu đầy và Kriutrôcốp nhận thấy tay hắn không hề run rẩy tí nào, và không hiểu sao anh cũng cảm thấy bình tĩnh hơn.
- Cậu định mang dao đến cho công an và nói là đã lấy nó ở chỗ tớ chứ gì? – Bócđanốp nói rồi tợp một ngụm rượu – Định làm chó săn à?
- Nếu tao có không nói đi nữa thì cũng thế thôi. Ông bạn láng giềng của tao, người mà mày hăm dọa sẽ giết nếu tiết lộ chuyện con dao, hiện đang ngồi ở phòng ông đại tá người Mátxcơva và đã khai báo cả giờ rồi. Thực ra ông ta có nhầm lẫn chút ít về vết xăm nhưng tao nghĩ là thế nào họ cũng tìm ra – Kriutrôcốp cố trấn tĩnh, nói năng điềm đạm bởi lẽ anh hiểu rằng có quát tháo cũng chẳng được tích sự gì.
Bócđanốp nốc cạn li rượu, rót thêm li nữa, đứng dậy nhìn Xtêphan vẻ thương hại.
- Thôi được, tớ đề nghị phương án này. Đi theo tớ. Tớ để con dao đó trong gara, đi theo tớ đến đó tớ sẽ đưa cho.
- Vì chuyện gì mà anh tính giết Lavrốp?
- Chuyện đó dài lắm mà cũng không phải việc của cậu.
Bócđanốp nhìn Xtêphan chằm chằm, như đang cố cân nhắc một điều gì đó. Cuối cùng như đã tìm được giải pháp, hắn nhếch mép cười đểu cáng, nói:
- Tuy vậy, nếu cậu quan tâm thì tớ kể cho cậu nghe vậy. Hôm ấy tớ và Xlavin làm được một mẻ ở cửa hàng. Đang đánh xe về thì gặp thằng cha công an. Tớ nói: “quay lại” nhưng Xlavin cứ lái xe vào và làm thằng cha đó ngã lăn kềnh. Bọn tớ nghĩ, thằng cha công an ấy chắc là hết đời. Bọn tớ đánh xe về tới nơi an toàn rồi bắt tay vào dỡ hàng xuống đi giấu. Xlavin thì vác, còn tớ thì đứng trong xe chuyền, mà hàng thì đầy ắp như trong kho vậy. Đang làm thì một đội viên tự vệ đi qua. Tớ liền dở nắp xe, cúi xuống giả vờ hí hoáy sửa. Thằng cha tự vệ ấy dừng lại, đến bên hỏi tớ có diêm không, thì ra hắn muốn châm thuốc. Tớ nói: “Không có!”, thế mà thằng cha ấy cứ sấn lại hỏi: “Sao, mất lửa à? Để tớ giúp một tay nhé?” – “Không sao đâu” – Tớ nói “Cám ơn cậu, tớ tìm ra chỗ hỏng hóc khốn nạn ấy rồi”. Hắn đứng một lúc, nhòm ngó, nhìn thấy bao kiện, hắn hỏi: “Sao, cậu chuẩn bị đi nghỉ đấy à?” – Tớ định xuống miền Nam” – tớ đáp- “đến với biển cả mấy hôm”. Thằng cha đó không hỏi gì thêm bỏ đi. Rất may là Xlavin không có mặt trong gara. Thế rồi sau đó một hôm, bọn tớ nhìn thấy hắn ta cõng cậu say mèm trên phố. Chắc cậu đã đi mách lẻo với thằng cha đó về những chuyện làm ăn của bọn tớ chứ gì? Không biết chuyện gì ư? Lạ thật!
Bócđanốp mở tủ, thong thả khoác chiếc áo vét màu xám vào người, nhét cái khắn mùi xoa sạch bóng vào túi và nói:
- Ta đi thôi.
Xtêphan bỏ ly rượu mà anh chưa hề nhấp môi xuống rồi đi theo Bócđanốp. Hai người bước nhanh. Họ đi qua mấy con phố, ra vườn hoa, đi qua ngôi nhà vòm mà lúc này hãy còn vắng tanh chưa có ai, rồi đến dãy nhà dùng làm gara. Căn ngoài cùng bên trái là gara của Kriutrôcốp. Nói chính xác hơn, đó là gara của bố anh ta để lại. Sau khi bố mẹ anh ta chết vì tai nạn ô tô trong một chuyến đi nghỉ, cái gara đã bỏ trống trong suốt một thời gian dài. Sau đó, nghe lời dụ dỗ ngon ngọt của Bócđanốp, Xtêphan đã chịu cho hắn gửi chiếc “Môtxcơvích”
Bócđanốp và Xtêphan bước ra cái rãnh trước cửa gara. Bócđanốp mở khóa và phải khó khăn lắm mới kéo được cái cửa trật bản lề ra. Cả hai bước vào.
Không thấy chiếc “Môtxcơvích” của Bócđanốp trong gara.
- Chiếc “Môtxcơvích” của cậu đâu?
- Xtêphan, cậu tò mò quá đấy. Tớ đã nói với cậu là tớ biết thế nào cái lão đại tá ấy cũng muốn gặp tớ một lần nữa nên tớ đã đề phòng chuẩn bị trước.
Trong gara tối om, Kriutrôcốp phải sờ soạng hồi lâu mới tìm được công tắc. Đèn bật sáng.
Bócđanốp đứng cạnh suy tính một điều gì đó rất mông lung.
- Xtêphan này, thử hỏi cậu cần tất cả những thứ đó làm gì nhỉ? Chính cậu đang dính vào một câu chuyện xấu xa. Tớ và Xlavin là những tên chuyên đi ăn trộm đã đành rồi. Nhưng nếu vỡ chuyện ra thì cậu cũng chẳng hay ho gì. Thử hỏi ai người ta tin cậu đã cho tớ mượn gara mà không mưu lợi nào? Nếu cậu nhìn vào cái hố kia kìa, cậu sẽ thấy các thứ hàng hóa ăn trộm. Cậu nghĩ là người ta sẽ tin cậu không hề hay biết gì và số hàng hóa này sao? Cậu còn nhớ tớ đã tặng cho Irka- vợ cậu một chiếc áo chứ, đấy cũng là đồ ăn trộm đấy? Còn chiếc áo len tớ đã đưa cho cậu mặc nữa, nó cũng là đồ ăn trộm nốt. Còn đôi giày mũi tù nữa? Thế nào? Hả?
- Nhưng tớ đã trả tiền cho cậu rồi mà.
- Đâu có ma nào biết chuyện ấy đâu. Cậu cứ tin đi nếu bị hỏi cung, tớ sẽ không nhớ đến chuyện cậu đã trả tiền cho tớ đâu. Xtêphan, hay là cậu cần vài xu? Gì chứ cái đó thì tớ có. Chúng ta sẽ chia tay nhau một cách êm thắm, đẹp đẽ.
- Đưa con dao đây.
- Dao à? Thôi được thì đi mà lấy. Nó đằng kia kìa, sau cái bàn thợ ấy.
Xtêphan đẩy cái bàn thợ ra và nhìn thấy cái cán dao trắng. Anh cúi xuống định lấy nhưng cùng lúc ấy chiếc cờ lê lớn, cái cờ lê mà không hiểu sao người ta vẫn quen gọi cờ lê Pháp, đã giáng xuống đầu anh. Bócđanốp nhắm đúng nhưng Xtêphan nghe có tiếng động phía sau, theo bản năng đã quay lại nên cái cờ lê chỉ sượt đầu. Xtêphan ngã gục sau cái bàn thợ. Trước khi ngã xuống anh còn kịp nghe Bócđanốp rít qua kẽ răng:
- Thằng khốn kiếp, đi mà báo đi, nếu mày còn đi được! – Hắn nói, nhảy ra khỏi gara và đóng cửa.
Cánh cửa rít lên không chịu đóng lại! Trong lúc đó Xtêphan đã bắt đầu hồi tỉnh dần. Đột nhiên bàn tay anh tình cờ đụng vào cán dao. Anh loạng choạng bò dậy. Một dòng máu nóng hổi chạy xuống mặt. Bằng tất cả sức nặng của cơ thể, Xtêphan nằm đè lên cánh cửa. Cửa mở. Bóng Bócđanốp lấp loáng đằng trước. Cố kìm để không thét lên vì cơn đau đang nhói lên ở đầu, Xtêphan đuổi theo. Anh chạy một cách khó nhọc, một tay ôm đầu, một tay cầm chặt con dao.
Ngôi nhà vòm đã hiện ra trước mặt. Đã có mấy thanh niên tụ tập ở đó. Trong số đó có cả Giyuzia. Họ xúm quanh bàn và không để ý tới Bócđanốp và Kriutrôcốp đang đến gần, Xtêphan kêu:
- Ê, Giyuzia, bắt lấy hắn! Cậu nhìn xem thằng khốn kiếp ấy đã làm gì tớ đây này!
Mấy thanh niên ngơ ngác nhìn Xtêphan mặt mày đầy máu. Sau đó họ xông vào Bócđanốp. Tên này chạy hết ngõ này sang ngõ khác nhưng mọi người đã tỏa ra mọi phía. Bỗng Bócđanốp dừng lại, thọc tay vào túi quần, quát:
- Không được đến gần! Thằng nào đến gần tao bắn vỡ sọ!
Mấy thanh nên khựng lại, chỉ có một mình Giyuzia là vẫn bước tới... Nhưng Xtêphan đã xông vào trước anh. Chui qua một bụi cây, anh lao thẳng về phía Bócđanốp.
- Đừng sợ! Hắn không có gì trong túi đâu. Hắn đã mặc đồ trước mặt tớ mà.
Giyuzia xông vào ôm lấy Bócđanốp, sờ soạng các túi.
Xtêphan chạy đến, nắm thắt lưng cái quần rất “mốt” của Bócđanốp giật mạnh làm cho mấy chiếc cúc đứt văng tung tóe xuống đám cỏ.
- Bây giờ thì mày đừng hòng mà chạy thoát!
- Vì cái gì mà hắn đập anh đến nông nỗi này? – Giyuzia hỏi và cởi phăng áo sơ mi ra – Để im tớ băng cho, chứ để thế nhìn mà khiếp!
Trong lúc Giyuzia vụng về, luống cuống băng bó, Xtêphan thuật lại:
- Hắn là một thằng kẻ trộm và là tên khốn nạn có cỡ. Hắn muốn chuồn và bắt tớ ngồi tù thay cho hắn. Tớ không chịu và thế là hắn liền quyết định thủ tiêu cả tớ. Hắn đã giết một mạng nhưng vẫn thấy còn ít. Thôi đi...
- Đi đâu? – Một thanh niên hỏi vẻ sợ hãi.
- Đi đâu là thế nào? Đến đồn công an ở đấy hiện có một đại tá đang chờ hắn.
- À, cái ông đại tá từ Mátxcơva đến chứ gì? Hôm qua ông ta có đến chỗ bọn tớ. Một người khá dễ chịu.
Mọi người kéo nhau đến ban hình sự thành phố. Ngôi nhà vòm trở nên trống vắng.
Bócđanốp lặng lẽ bước, hai tay không dám rời khỏi cái lưng chiếc quần đã bị đứt hết cúc chỉ chực tụt xuống. Những người khác cũng im lặng. Chỉ có Xtêphan là chốc chốc lại rên rỉ, chửi bới. Đám người mỗi lúc một đông. Người quen, những người tò mò chạy theo mỗi lúc một nhiều. Đến ngang nhà văn hóa, một người đề nghị:
- Hay là ta ghé vào ban chỉ huy tự vệ? Chứ tớ thấy Xtêphan, chắc không thể lê nổi nữa rồi.
Rôgốp, Giơviagin, Kuđriaxép vội vàng đứng dậy khi cái đám ngưới “nhà vòm” ùa vào. Căn phòng trở nên chật chội. Xtêphan đặt con dao xuống mặt bàn truớc mặt, buông mình xuống ghế, đưa tấm ngực nở nang che lấp con dao. Anh dồn sức nói được mấy tiếng, bằng cái giọng yếu dần:
- Gọi... gọi công an và... và xe cấp cứu...
***
Một khi ở phòng trực ban có ấm pha trà là hay rồi. Đường, kẹo và trà thì khi nào cũng có thể mua được. Cùng lắm thì xin. Đó là hồi chiến tranh mới phải uống nước sôi. Nói thế chứ người ta cũng đã không chịu uống nước sôi không. Người pha cà rốt, kẻ thì pha một thứ cỏ gì gì đó. Hồi đó Đôrôkhốp rất thích pha nước bằng phúc bồn tử. Chồi, là hoặc cành thì cũng thế cả. Lúc này đây, khi mọi việc đã kết thúc, Đôrôkhốp chuẩn bị uống trà đường. Anh còn phải làm gì nữa nhỉ? Hỏi cung Bócđanốp ư? Còn sớm. Với Xtêphan anh đã nói chuyện thả cửa khi vào thăm anh ta ở bệnh viện. Vết thương của Xtêphan đã được khâu lại và bác sĩ đã cho anh nói chuyện. Trở về khách sạn thì không được, không lịch sự. Cần phải chờ người đi khám xét trở về. Anh đã muốn lên xe đi khám xét với mọi người nhưng nghĩ là: thôi mình sẽ không quấy người khác và không có mình họ cũng làm được, nên lại thôi.
Anh ngồi nhà uống trà. Người ta có nói gì cũng mặc. Anh có thể làm gì được nếu anh đã quen với cái khoái nhâm nhi thứ nước đó. Anh quen rồi, chỉ có thế thôi. Anh đã uống hồi còn ở Giabaikan. Đã uống mấy ấm một ngày hồi ở Trung Á. Ở nhà anh vẫn khoái với cái thú đó và bực bội khi cậu con trai uống cũng chẳng kém gì bố. Cậu bé mới hai mươi tuổi thế mà đã theo cái thú của ông già. “Cậu bé!” Đôrôkhốp mỉm cười mỉa mai. Hồi anh hai mươi mốt anh đã ba năm trong nghề cảnh sát hình sự. Người ta đã tin tưởng giao cho anh truy lùng những băng cướp, thế mà con anh thì anh lại gọi là “cậu bé”. Phải chăng chúng ta đã quá nuông chiều con cái? Bảo trợ chúng quá mức?
Uống hết ly trà đặc, đại tá ngồi nghỉ.
Có tiếng gõ cửa và tiếng người xin phép vào phòng. Đôrôkhốp nhìn đồng hồ –đã mười một giờ đêm rồi.- Giờ này mà ma quỷ còn xui ai đến không biết?- Lại có tiếng gõ cửa, đại tá kêu to:
- Vào đi!
Đội trưởng đội tự vệ Rôgốp bước vào. Cùng đi với anh là một thanh niên khoảng chừng hai mươi lăm tuổi, có thể nhỏ hơn. Cả hai dừng lại ở ngưỡng cửa, nhìn thấy đại tá chân không giày, ly trà uống dở, họ không biết có nên vào không.
Đại tá cúi người chui xuống gầm bàn, làu bàu:
- Chiếc giày khốn kiếp! Thì ra mày ở đây? Các cậu vào đi. Giênia. Cứ tự nhiên ngồi xuống. Tôi ăn mặc thế này các cậu thông cảm. Các cậu uống trà nhé?
- Alếchxanđrơ Đmitriêvích, đồng chí bí thư đoàn thanh niên nhà máy muốn được làm quen với anh.
- Đồng chí Giơvêrép. Tôi có biết tên đồng chí, có biết. Tôi cũng có ý định đến gặp đồng chí nhưng chưa được.
Anh siết chặt bàn tay rắn chắc của người bí thư đoàn, thầm nhắc bức chân dung bằng lời của anh ta cùng với bao nhiêu nhận xét và kết luận của mình: tóc đen, khuôn mặt cởi mở, dễ thương, một vết sẹo trên trán, hồi niên thiếu chắc là nghịch ngợm lắm, nước da rám nắng chắc ít khi ngồi bàn giấy. Ăn mặc giản dị, có nghĩa là không kiêu kỳ. Hoạt bát, tự nhiên.
- Đồng chí Giơvêrép, chuyện Lavrốp kết thúc ra sao thì đồng chí đã biết. Nhưng tôi có một việc muốn nói với đồng chí. Đồng chí đã đến ngôi nhà vòm lần nào chưa? Cái ngôi nhà vòm ở vườn hoa ấy mà.
- Tôi có đến đó một, hai lần nhưng không vào. Nhưng Rôgốp đã nói cho tôi nghe về nó.
- Không, mọi chuyện không phải là ở chỗ cái nhà vòm. Tôi được biết Rôgốp và các đội viên tự vệ đang muốn đuổi các thanh niên hay tụ họp ở đó và phá cái nhà đó đi. Tôi nghĩ làm như thế là không đúng. Ở đấy cần phải có một người phụ trách thanh niên thông minh, hấp dẫn – một vận động viên thể thao, một tay ham mê du lịch hoặc một người nào đó đại khái như thế. Nói chung là một người hấp dẫn. Một người không phải chỉ biết lên lớp, đọc moral mà phải biết làm cho họ say mê một cái gì đó để dần dần đưa họ vào câu lạc bộ. Ở đấy, trong cái nhà vòm ấy tôi thấy đã có sẵn một ban nhạc, có cả những diễn viên ngâm thơ. Tuy nhiên, chương trình biểu diễn chưa được phù hợp cho lắm – Đại tá mỉm cười – song sẽ vô cùng tệ hại nếu đạo diễn lại là những người như Xlavin và Bócđanốp. Mà hình như họ cũng định làm rồi đấy.
Cuộc trao đổi kéo dài đến quá nửa đêm. Đại tá đã kể lại cho hai cán bộ đoàn những điều anh đã nhìn thấy ở các thành phố khác. Anh nói về các tổ chức đoàn trong công tác hướng thanh niên vào những công việc có ích. Giơvêrép và Rôgốp cũng đã nêu lên nhiều ý kiến quý báu. Tiễn hai cán bộ đoàn ra về, đại tá cảm thấy thỏa mãn – thế từ nay đoàn thanh niên nhà máy sẽ đặt vấn đề quan tâm đến những người thường xuyên tụ họp ở ngôi nhà vòm.
Trời đã sáng rõ. Đó là lúc cán bộ, chiến sĩ tập trung đông đủ ở phòng làm việc của đại tá. Mặc dù phải một đêm thức trắng, mọi người vẫn tỏ ra vui vẻ hân hoan như một ngày hội lớn. Đại úy báo cáo kết quả chiến dịch, anh nói:
- Công việc khám xét nhà Bócđanốp đã không đưa lại kết quả gì đáng kể. Không một thứ gì đáng nghi nếu như không nói đến gần một kilô kẹo “Khôlôđóc”. Đã tìm thấy mấy bức thư đáng chú ý, thiết nghĩ nhờ đó mà chúng ta sẽ tìm ra những kẻ đã tiêu thụ các thứ hàng hóa ăn trộm. Tại gara của Kriutrôcốp, chúng tôi đã tìm thấy ba mươi hai đôi giày, nhiều quần áo len, vải vóc và toàn bộ số hàng hóa mà chúng đã cuỗm được trong vụ trộm mới đây. Cái đáng quan tâm và lý thú nhất là những thứ chúng tôi đã phát hiện thấy trong chiếc xe “Môtxcơvích” đậu trong khoảng sân cạnh nhà Vôrônin.
Vôrônin sống trong một ngôi nhà riêng biệt có vườn cây ăn quả và Bócđanốp đã giấu xe ở đó. Mới nhìn qua chiếc xe chúng tôi tưởng không có gì. Bắt tay lục soát, trong một ngăn kéo bí mật cạnh vôlăng chúng tôi đã tìm thấy một khẩu súng ngắn đã nạp đạn. Đằng sau lưng ghế lại một là một chỗ cất giấu bí mật, trong đó có một số tiền khá lớn, gần ba ngàn rúp và các giấy tờ tùy thân, bằng lái dán ảnh Bócđanốp nhưng lại mang tên họ khác. Tôi cho rằng, tên lưu manh này đã bị đánh động nên đã chuẩn bị mọi thứ để chuồn. Tại nhà Xlavin – đại úy đưa mắt nhìn đại tá, rõ ràng là anh đang nhớ lại cuộc nói chuyện mới đây giữa anh và đại tá về quy luật khám xét – thiếu úy Kôzơlenkô của chúng tôi và Grigôréc đã tìm thấy nhiều áo len, bảy đôi giày mới tinh, trong một ngăn bí mật ngay dưới sàn nhà các đồng chí ấy đã tìm thấy mấy quyển sổ công phiếu cho vay lãi ba phần trăm với tổng số tiền hai ngàn ba trăm rúp – Kixêlép im lặng, rồi đột ngột hỏi:- Đồng chí đại tá, có lẽ bây giờ đồng chí có thể nói cho chúng tôi biết những suy diễn của đồng chí được rồi chứ? Trong các kết luận của đồng chí có những điểm cho đến lúc này tôi vẫn thấy chưa rõ.
Đina bắt gặp cái nhìn tinh nghịch của đại tá.
- Chắc chú không tin cháu. Song anh ấy là một người như thế đấy, cháu không thêm thắt điều gì đâu. Chú muốn tin thì tin mà không muốn tin thì cũng được. Đây, lúc này đây cháu đang hồi tưởng lại và cố tìm xem trong bản tính và hành động của anh ấy có gì xấu không, nhưng cháu không làm sao có thể tìm được một cái gì cả.
Chuông điện thoại réo vang, cắt ngang câu chuyện. Đôrôkhốp cầm máy.
- Đồng chí đại tá! Kôzơlenkô báo cáo. Cho phép đến gặp đồng chí chứ?
Đại tá nháy mắt với cô gái hỏi:
- Thế nào, Kôzơlenkô sẽ không làm phiền chúng ta chứ? Thế thì hay lắm – Rồi nói vào máy! – Xin mời.
Kôzơlenkô xuất hiện ngay. Rõ ràng là anh đã gọi điện từ phòng bên cạnh. Đặt một cặp giấy dày lên bàn, nhận thấy đại tá ra hiệu mời ngồi, anh ngồi xuống ghế.
- Đina đang kể về Ôlếch cho tôi nghe. Anh để biên bản lời khai của hai cậu ấy ở đâu? Trong cặp à? – Đôrôkhốp lấy hai tập biên bản hỏi cung trao cho Đina, bảo cô đọc.
Cô gái ngồi đọc những lời khai mà trong đó nói rằng, những người trong đội tự vệ, trong đó có Ôlếch, bắt giữ trái phép, đánh đập và phịa ra những lời buộc tội về sự càn quấy của Kapuxtin và Vôrônin. Thậm chí cô ngẹt thở vì tức giận.
- Bọn khốn nạn!... Alếchxanđrơ Dmitrierich xin lỗi chú, cháu không bao giờ chửi, thế mà…
- Cháu yên tâm. Sao, cháu cũng biết mấy cậu ấy à?
- Cháu không những biết, mà còn có mặt ở đấy, gần rạp chiếu bóng, khi đội tự vệ của chúng cháu bắt giữ hai người. Bọn họ đã phá hoại buổi chiếu. Chòng ghẹo các cô gái, chửi bới om sòm và gây sự đánh nhau ngay trước cửa rạp. Bọn họ đứng dậy, quờ tay vồ bắt các cô gái. Họ la hét, chen lấn. Chúng cháu đã không sao đến được. Phải khó khăn lắm Đviagin mới chen đến nắm được cổ áo bọn họ. Kapuxtin đã đánh vào mặt Đviagin rồi vùng bỏ chạy… Anh ta liền bị Ôlếch tóm được, song Ôlếch bị trượt chân và cả hai cùng ngã. Đến lúc này cháu và Kácpốp cũng vừa đến kịp. Chúng cháu đã cầm tay anh chàng được đỡ đầu của mình đưa về ban chỉ huy, còn Vôrônin thì Đviagin và hai cô gái nữa dẫn đi. Ôlếch về sau. Anh ấy phải ra vòi nước để rửa ráy bởi lẽ gần rạp có một vũng nước mưa và khi đuổi bắt Kapuxtin anh ấy đã trượt chân ngã xuống đó.
- Tại sao lại gọi là người được đỡ đầu? – Đôrôkhốp ngừng đọc, hỏi.
- Kapuxtin mới được thả từ trại cải tạo ra, cậu ấy đã phải ngồi ở đấy vì tội ăn trộm. Thế rồi ban chấp hành quận đoàn liền chỉ thị cho đội tự vệ chúng cháu tổ chức đỡ đầu cậu ấy. Hôm qua, lúc ở ban chỉ huy chú có nhìn thấy người thanh niên to cao – Xêmen Kuđriaxép chứ? Đấy chúng cháu chỉ định anh ấy đỡ đầu Kapuxtin và vào đội anh ấy làm việc. Thoạt đầu Kuđriaxép chỉ còn thiếu khóc với Kapuxtin. Nhưng sau đó quan hệ giữa hai người có vẻ cũng khá lên và Kapuxtin cũng có chiều hướng thay đổi tốt, thế rồi anh ta gặp Bôrix Vôrônin. Cả hai vừa thi vào trường công nhân kỹ thuật, sung sướng kéo nhau đi uống rượu rồi vào rạp chiếu bóng giải trí. Điều phức tạp nhất là sau đó khi chúng cháu lập biên bản. Chúng cháu đã suy đi tính lại và cuối cùng quyết định không ghi tất cả những hành động lỗ mãng của hai cậu ấy vào biên bản. Chúng cháu đã không ghi cả chuyện Kapuxtin đã đánh vào mặt Đviagin.
- Tại sao thế?
- Tại vì Kuđriaxép yêu cầu. Mà chúng cháu cũng đồng ý với ý kiến của anh ấy. Giá chúng cháu ghi hết vào biên bản thì Kapuxtin đừng hòng nhìn thấy trường công nhân kỹ thuật và không phải chỉ phải ngồi tù mười lăm ngày mà ít ra cũng phải ngồi một năm.
- Có nghĩa là các cháu đã mở lượng khoan hồng, nhân từ đấy…
Lúc Đina sửa soạn ra về, đại tá bắt gặp ánh mắt e lệ của cô hết nhìn chiếc cặp rồi lại nhìn anh.
- Chú biết, chú biết. Quà thăm nuôi chứ gì? Phải không?
Đina gật đầu.
- Được chứ, chú?
- Cái gì ở trong ấy?
- Dạ một quyển sách, vài thứ lặt vặt và ít bánh cháu tự làm.
- Thôi thì cứ để đấy, đã liều thì ba bảy cũng liều.
Cô gái đi rồi, đại tá Đôrôkhốp liền hỏi Kôzơlenkô xem anh ta nghĩ gì về những lời khai của Kapuxtin và Vôrônin. Kôzơlenkô so vai nói:
- Chắc hẳn hai cậu này dù sao cũng đã trúng số.
- Sao! Trúng số? – Đại tá ngạc nhiên.
- Lavrốp đã đối xử với hai cậu ấy thế nào thì tôi không biết, chứ còn Kuđriaxép đã cho Kapuxtin một trận, cái đó tôi quá rõ. Kôzơlenkô nói với vẻ điềm nhiên như không.
Đôrôkhốp nổi giận. Vẻ điềm nhiên của Kôzơlenkô đã làm cho anh nổi cáu đến nỗi anh phải đứng bật dậy, đi đi lại lại trong phòng, thế nhưng Kôzơlenkô vẫn tiếp tục:
- Đồng chí đại tá, về hai cậu này đồng chí cứ đi hỏi Kuđriaxép và Rôgốp thì rõ hơn.
- Tôi sẽ nói. Nhất thiết tôi sẽ nói chuyện với họ. Với cả hai. Còn vấn đề kẹo “Khôlôđóc” đồng chí đã xác minh được điều gì chưa?
Kôzơlenkô đặt ba rúp lên bàn đáp:
- Trong các cửa hàng của chúng tôi hiện không bán loại kẹo ấy. Đồng chí muốn bỏ thuốc à?
- Đâu có. Tôi không định bỏ thuốc. Từ lâu vợ tôi cứ đi theo nói: anh bỏ thuốc đi, thế mà tôi lại không muốn. Đã lỡ nghiện rồi bây giờ bỏ thấy cũng tiếc cái khoái đó. Nhiều khi chán ngán chẳng thiết trời đất gì nữa thế mà cứ rít vào mấy hơi thuốc là thấy nhẹ nhõm hẳn đi. Không, đồng chí Kôzơlenkô thân mến ạ, hiện tôi chưa có ý định bỏ thuốc đâu, chẳng qua tôi muốn kiểm tra lại một vài điều. Tôi có một giả thuyết.
Kôzơlenkô giở sổ ghi chép của mình, lật lật mấy trang rồi đọc.
“Cách đây hai tháng chúng tôi có bán loại kẹo “Khôlôđóc”. Ngày mồng ba tháng 7 năm 1970 thương nghiệp có nhận được 100 kilô kẹo ấy. Chúng tôi phân về cho hai cửa hàng và chỉ hai, ba ngày sau là bán hết”.
Đôrôkhốp nhìn đồng hồ. Đã ba giờ chiều.
- Khi nào thì có thể đến thăm Aphanaép được
- Tốt nhất là vào giờ này- Kôzơlenkô trả lời ngay không chút suy nghĩ.
- Nếu thế thì chúng ta đi thôi.
Đôrôkhốp và Kôzơlenkô tìm thấy Aphanaép- đội trưởng đội hình sự – trong khu vườn của bệnh viện thành phố. Ông bị các bác sĩ cấm ngủ sau khi ăn trưa thành thử lúc này ông đang ngồi trong một cái nhà vòm với một chồng báo. Aphanaép cao to, mập mạp, trạc tuổi đại tá, rõ ràng là đang chờ họ. Sau khi giới thiệu làm quen và nói mấy câu chào hỏi, thiếu tá Aphanaép bắt đầu câu chuyện:
- Alếchxanđrơ Đmitriêvích ạ, tôi rất sung sướng vì anh đã đến. Tôi biết là các thám tử của tôi không xoay xở nổi vụ này, thế mà tôi lại không thể làm được gì. Trước ngày lễ cách mạng tháng Mười định tránh bệnh cúm không để ý nên lại bị cảm lạnh và cho đến bây giờ vẫn chưa khỏi. Xuất viện, đến sở làm việc được vài ba hôm thì bệnh tim và áp huyết lại tái phát. Vừa rồi các bác sĩ hứa là sau mươi, mười lăm ngày nữa sẽ cho xuất viện – Aphanaép đùa cợt nhổ một bãi nước bọt, mỉm cười nói:- Giá họ đừng hứa sai thì... Còn chuyện. Bây giờ đến chuyện Lavrốp. Tôi biết cả hai cậu đó. Ôlếch tôi biết ít hơn còn Xlavin thì tôi biết từ hồi còn nhỏ xíu. Trước kia chúng tôi sống trong cùng một nhà. Năm 1941, tôi và bố cậu ấy cùng lên đường ra mặt trận một đợt. Năm 1944, tôi trở về với một tấm thẻ trắng. Xlavin lúc đó đã được ba tuổi còn bố cậu thì đã hy sinh mà thậm chí không biết là vợ mình đã sinh con trai. Cậu nhóc ấy lớn lên và đã làm cho bà mẹ khổ sở. Tôi cũng chẳng vui sướng gì. Sau khi xuất ngũ tôi xin vào làm việc ở ban hình sự. Mỗi lần Xlavin bỏ nhà đi hoang là mẹ cậu ấy lại khóc chạy đến tìm tôi. Và chúng tôi lại phải đi tìm. Khi thì tìm được cậu ta tận Lêningrát lúc thì mãi Bạch Nga, mang về. Lúc đầu cậu ấy bỏ nhà đi tìm bố nhưng sau đó thì sinh chuyện ăn trộm. Hai lần chúng tôi phải đưa cậu ta đi trại cải tạo. Vì buồn phiền và khổ sở nên tóc bà mẹ bạc trắng. Cuối cùng tôi phải thuyết phục hội đồng quân sự quận cho cậu ta vào quân đội mặc dù còn thiếu nửa năm nữa mới đủ tuổi. Xuất ngũ, Xlavin trở về và trở thành một con người hoàn toàn khác. Nghiêm chỉnh hẳn ra. Lại còn học được nghề hớt tóc, cạo mặt. Thế là mọi việc đâu vào đấy. Xlavin trở thành một thợ cắt tóc giỏi. Thực ra tôi cũng có kiểm tra cậu ấy mấy lần xem có còn tơ vương đến chuyện xưa nữa không. Nhưng không hề nhận thấy điều gì đáng nghi cả. Đôi khi cậu ta cũng có uống rượu và cũng có đánh bạc nhưng thường là đánh nhỏ chơi vui. Cách đây không lâu tôi có nói thẳng với cậu ấy về những chuyện ấy, cậu ấy nói: “Bác Bôria, bác cứ yên tâm đi, cháu sẽ không bao giờ ngồi tù nữa đâu, đó là chuyện hồi cháu còn nhỏ dại thôi”. Còn bà Xtêpanốpna, mẹ Xlavin thì cứ gặp tôi ở đâu là nắm lại nói khen con trai, khoe khi thì con trai mua cho thứ này, lúc mua cho cái khác. Tiền lương và tiền làm thêm được cậu đều đem về cho mẹ cất, thế mà chuyện gì đã xảy ra thì tôi không làm sao hiểu nổi.
Aphanaép im lặng, đưa tay với bao thuốc mà Đôrôkhốp đã rút ra để trên ghế đá nhưng không hiểu sao ông rụt tay lại rồi kể tiếp:
- Ở đội hình sự của chúng tôi, cán bộ, nhân viên tính trên đầu ngón tay. Tôi, Kixêlép và ba người nữa. Một trong ba người đó anh đã biết – ông nói và hất hàm về phía Kôzơlenkô người thứ hai hiện đang nghỉ phép còn người thứ ba thì đang đi thi vào trường luật. Kixêlép phụ trách khâu tìm kiếm bọn tội phạm đang lẩn tránh và những người mất tích. Hai người chịu trách nhiệm điều tra các sự vụ mới xảy ra còn tôi và Kôzơlenkô thì chịu trách nhiệm giáo dục lớp trẻ. Không biết anh nghĩ sao chứ tôi thì tôi nghĩ là không thể có công việc nào quan trọng hơn cái đó. Không có những kẻ vi phạm pháp luật trong giới thanh niên và vị thành niên thì số tội phạm chuyên nghiệp sẽ ít đi. Bởi lẽ người ta không phải một sớm một chiều mà trở thành những tên ăn trộm hay ăn cắp ngay được. Thường thì mọi cái bắt đầu từ lúc còn là trẻ con. Bắt đầu từ những cái vặt vãnh, lớn lên, làm ăn to hơn. Ngoảnh qua ngoảnh lại đã trở thành một kẻ tội phạm. Lúc đó uốn nắn cho được là một chuyện vô cùng khó. Xin lỗi là tôi đã nói ra những chân lý cũ nhưng mọi người không phải ai cũng hiểu những điều đó.
Aphanaép nói giọng xúc động.
- Bôrix Vaxilêvích ạ, tôi hoàn toàn đồng ý với ý kiến của đồng chí. –Để cổ vũ, Đôrôkhốp nói.
- Thế thì tốt. Thế mà nhiều người lại nghĩ khác, họ nói: không việc gì mà phải đi buông tuồng với cái bọn đó, rằng chúng ta quá nhân đạo, rằng cứ tống ngay chúng vào nhà tù cho chúng sáng mắt ra! Thế nhưng trong số đó vẫn còn có nhiều người tốt chỉ có điều là cuộc đời của họ không được suôn sẻ cho lắm. Thế thì anh cứ thử đừng để cho người đó sa ngã, thử ngăn chặn đúng lúc xem! Đấy tôi và Kôzơlenkô đang “buông tuồng” bọn chúng – Thiếu tá cười mát và nói tiếp bằng giọng điềm tĩnh hơn – Song có thể không phải lúc nào cũng thành công. Còn những gì có liên quan đến tổ tự vệ thì đó chính là những người giúp việc đắc lực của chúng tôi. Ai chứ Lavrốp thì tôi biết. Một thanh niên chính trực và vô tư. Đã mấy lần tôi giao cho cậu ấy những việc quan trọng.
- Hay là chính vì những việc hệ trọng ấy mà có người muốn thanh toán cậu ấy?- Đôrôkhốp hỏi.
- Alếchxanđrơ Đmitriêvích ạ, mọi cái đều có thể, nhưng tại sao lại là Xlavin? Cậu ấy chưa hề có tên trong các hồ sơ của tôi thậm chí chỉ là gián tiếp. Nếu Xlavin thật sự định thanh toán Lavrốp thì nhất thiết phải có những nguyên do… Anh đã tìm được Kriutrôcốp chưa? – Thiếu tá quay sang hỏi Kôzơlenkô.
- Chưa, Bôrix Vaxilêvích ạ. Phải ba, bốn ngày nữa anh ta mới hết phép. Anh ấy về, tôi sẽ gặp nói chuyện ngay.
- Alếchxanđrơ Đmitriêvích ạ, anh biết không, theo tôi thì Xtêphan Kriutrôcốp rất có thể sẽ soi sáng cho toàn bộ vụ này. Đó là một anh chàng có cuộc đời tan nát nhưng rất cởi mở và sống có tâm hồn. Người ta đã nói về cái nhà vòm ở vườn hoa cho anh nghe rồi chứ? Đấy, cậu ta là một trong số năm người thường xuyên có mặt ở đấy. Thích uống rượu, gây sự đánh nhau mặc dù cậu ấy không còn ở cái lứa tuổi đi gây gổ nữa. Cậu ấy là bạn Lavrốp, mặc dù tôi cũng không hình dung được là vì sao hai người ấy lại chơi thân với nhau được. Xtêphan đã từng bị kết án vì tội du côn nhưng không bao giờ trộm cắp, tôi đã điều tra kỹ. Cách đây ba năm, ở chỗ chúng tôi có một ổ trộm cắp, có lần bọn đó đã rủ Kriutrôcốp đi, nhưng cậu ấy không những từ chối không đi mà còn khuyên can bọn nó đừng làm việc ấy. Sau này, khi bị bắt, một tên trong bọn đó đã kể cho tôi biết chuyện này. Tôi cũng đã cho gọi Kriutrôcốp lên hỏi. Cậu ta lúng túng, nói là không nhớ. À, Kôzơlenkô có nói với tôi là hôm ấy tại hiện trường có một cặp vợ chồng nữa, nhưng tôi quên mất tên. Anh đã nói chuyện với họ chưa?
- Chưa.
- Có lẽ đại tá nên nói chuyện với họ chăng? Biết đâu họ còn nhớ những chi tiết gì đó thì sao?
- Vâng, thế nào tôi cũng sẽ nói chuyện với họ.
- Và còn điều này nữa, Alếchxanđrơ Đmitriêvích, tôi muốn yêu cầu anh một việc: hiện còn một vụ trộm cửa hàng chưa làm ra, nếu còn thời gian, anh xem xét hộ cho… Chứ không nó chẳng để cho tôi yên.
- Hôm nay tôi đã yêu cầu Kixêlép giao hồ sơ vụ đó cho tôi. Nhất thiết tôi sẽ xem xét.
- Nhân thể, tôi muốn hỏi anh, anh thấy đại úy Kixêlép của chúng tôi thế nào?
- Anh ta quá cứng nhắc và khô khan thế nào ấy.
- Không đến nỗi khô khan nhưng cứng nhắc thì đúng song cậu ta là một cán bộ hình sự giỏi và là người tốt. Tôi đã làm việc với cậu ấy từ lâu. Đôi khi cũng phải sửa.
Thiếu tá nhìn đồng hồ, đứng dậy nói:
- Đồng chí đại tá, xin lỗi đồng chí, nhưng ở đây cô hộ lý còn nghiêm khắc hơn cả một anh chàng chuẩn úy trong quân đội. Chỉ cần chậm một phút là cô ta đã kêu với các bác sỹ rồi thành thử...
Đôrôkhốp và Kôzơlenkô tiễn thiếu tá đến trước dãy nhà bốn tầng đồ sộ của bệnh viện, bắt tay từ biệt rồi ra về.
***
Chiều. Gần bảy giờ, các đội viên tự vệ kéo đến phòng Đôrôkhốp. Họ được anh đội trưởng dẫn đến. Cùng đi với mấy thanh niên còn có hai cô gái – Đina Manxêva và một cô nữa, cái cô mà hôm qua ở Ban chỉ huy đã đứng riêng một nơi. Đôrôkhốp để ý và nhận thấy rằng đa số đội viên tự vệ là những người anh đã gặp hôm qua nhưng cũng có một số người lạ. Rôgốp trao cho đại tá một danh sách trong đó ghi tên hai mươi bốn người, nói:
- Đội tự vệ cử những đội viên nòng cốt đến giúp đồng chí.
Đôrôkhốp đưa mắt nhìn mọi người một lần nữa. Tất cả đều ngồi yên, nghiêm khắc như đã hiểu được nhiệm vụ quan trọng đang chờ đợi trước mắt họ.
- Các bạn, thế này nhé, tôi đang cần sự giúp đỡ của các bạn. Cần phải đi khắp lượt các căn hộ trong cả ba khu nhà xung quanh khoảng sân nơi đã xảy ra vụ án, và nói chuyện với từng người một. Những ai không gặp được hôm nay thì ngày mai nhất thiết phải tìm gặp cho bằng được. Song cái quan trọng là không được bỏ sót người nào. Cần phải tìm tất cả những người đã về nhà sau mười một giờ đêm và nói chuyện với họ. Có thể, có một người nào đó đã nhìn thấy Lavrốp hoặc Xlavin ở sân, hay cũng có thể họ đã nhìn thấy một người khác. Cần phải tìm hiểu xem có ai đến chỗ Xlavin bị giết không. Phải cố xác minh xem hôm ấy có ai là khách không và nếu có thì họ đã ra về lúc mấy giờ, sống ở đâu. Về chuyện con dao cần phải hỏi một cách thận trọng, tốt nhất là để gần cuối câu chuyện. Nếu tôi mà ở cương vị các bạn thì tôi sẽ hỏi một cách thản nhiên và lịch sự. Tôi nghĩ là các bạn nên đi hai người một. Bây giờ tôi sẽ phân phát danh sách các căn hộ cho các bạn. Tôi nhắc lại, cần phải đến từng căn hộ một. Bây giờ nếu bạn nào muốn hỏi gì thì cứ tự nhiên.
- Có ạ – Kuđriaxép vươn cả thân hình cường tráng của mình đứng dậy, hỏi- Cần phải làm gì với những người nói cho chúng tôi biết một điều gì đó về con dao, hoặc về vụ đánh nhau ạ? Phải mời họ đến gặp anh phải không?
- Đồng chí Kuđriaxép ạ, không cần mời ai đi đâu cả. Các bạn cứ nói chuyện với họ, nếu sợ không nhớ được thì ghi lại những gì các bạn cho là quan trọng nhất rồi báo cáo cho tôi.
- Nếu người ta không cho chúng tôi vào nhà thì phải làm thế nào ạ?- Êlêna Páplốpna hỏi.
- Nếu thế thì các bạn cứ mời trưởng nhà gặp cán bộ công an khu vực, người mà trong thời gian các bạn đến các căn hộ sẽ được lệnh phải thường xuyên có mặt ở sân, đi cùng.
- Giả sử chúng tôi được biết một căn hộ nào đó, tối hôm ấy có khách và những người khách đó lại ở mãi cuối thành phố thì sao ạ?
- Nhất thiết phải tìm cho được những người đó và hỏi chuyện. Nếu có gì không giải quyết được thì cứ về đây trao đổi với tôi. Tôi sẽ túc trực ở phòng làm việc trong suốt thời gian các bạn đến các căn hộ. Có ai hỏi gì nữa không? Tốt lắm. Nếu thế thì chúc các bạn thành công.
Các đội viên tự vệ đi ra. Họ ra đi để tìm nhân chứng và con dao tai quái. “Liệu họ có tìm thấy không nhỉ?” – Đôrôkhốp tự hỏi. Anh kéo hai tập hồ sơ dày cộp lại trước mặt, rồi mở tấm bìa có ghi một dòng chữ lớn: “Vụ mất trộm ở cửa hàng dệt kim”.
Vừa xem xét hồ sơ, đại tá vừa ghi chép những điều gì đó vào quyển sổ của mình. Ở một vài chỗ, anh dùng giấy gấp lại, đánh dấu.
Anh bắt gặp một bản danh sách, và thích thú đọc: “Những người thường đến nhà vòm trong công viên”. Bên cạnh mỗi người họ đều có ghi rõ tuổi, chỗ ở, và những tài liệu sơ bộ khác. Về một số người, tài liệu nói rằng, họ thường đánh bài ăn tiền, những người khác thì say sưa, còn những người thứ ba thì hay sinh sự đánh nhau. Đôrôkhốp chăm chú nghiên cứu từng người một. Người đứng thứ sáu trong bản danh sách là Xtêphan Kriutrôcốp, hai mươi sáu tuổi, thợ kỹ thuật xưởng cơ khí, uống rượu bất tử và là người thích đánh bạc. Đứng thứ mười bốn trong bản danh sách- Xécgây Xlavin là người mà trong bản danh sách có ghi rằng, hay chuốc rượu trẻ con, đánh bạc và rất có uy ở nhà vòm. Một trong những người đứng hàng cuối cùng là Kapuxtin. Đôrôkhốp lục tìm biên bản ghi lời khai các nhân chứng về vụ Lavrốp mà Kixêlép vừa mang đến, nhìn vào bản danh sách và hiểu rằng chính anh chàng Kapuxtin này là người đã mấy lần bị bắt vì tội ăn trộm, đã từng ở trại cải tạo, sau đó được thả trước thời hạn, thường xuyên có mặt ở nhà vòm và là kẻ thích gây sự đánh nhau.
Đại tá quay điện thoại trực ban, hỏi:
- Đại úy Kixêlép ở đâu?... Cùng đi với các đội viên tự vệ rồi à? Thế còn Kôzơlenkô? Cũng đi luôn à? Nếu thế thì anh làm ơn giải phạm nhân Kapuxtin lên phòng tôi nhé.
***
Đina Manxêva và Pitơ Đviagin đã đi khắp lượt các căn hộ của một ngõ nhưng không tìm hiểu thêm được một điều gì mới và bây giờ đang buồn bực đi vào ngõ khác, nơi có căn hộ của Kriutrôcốp. Trước khi rời khỏi ban hình sự thành phố, hai người được đại tá giữ lại yêu cầu hỏi trưởng nhà, bác gác cổng hay những người hàng xóm xem Kriutrôcốp đi đâu và nói chung xác minh xem người bà con của anh ta ở đâu. Đến lúc này Đina đề nghị:
- Chúng ta đến tìm gặp mấy người ở cạnh nhà Kriutrôcốp đi. Hơn ai hết họ là những người biết anh ta đi đâu.
- Vào thì vào – Đviagin đồng ý.
Họ leo lên tầng ba và bấm chuông. Phải chờ một hồi lâu cửa nhà mới mở. Một phụ nữ đứng vặn vẹo hỏi họ cần gì và mãi đến lúc người đàn ông xuất hiện, người phụ nữ mới dẫn họ vào một căn phòng không lớn lắm nhưng sạch sẽ. Chủ nhà – một phụ nữ đã luống tuổi, trong chiếc áo khalát rộng thùng thình với một chiếc khăn trên tay mà chốc chốc lại đưa lên lau khuôn mặt ướt đẫm mồ hôi. Người đàn ông gầy, dáng người thấp đậm trong bộ pizama sọc đã lỗi thời từ lâu. Có lẽ đã mấy ngày liền ông ta không cạo mặt nên bộ râu quai nón trông đã lởm chởm hai bên má nhập vào với những sợi tóc bạc bù xù hai bên thái dương. Bằng một động tác xem ra rất quen thuộc và chính xác, người phụ nữ đẩy người đàn ông sang một bên và nhanh nhảu lên tiếng nói lẫn lộn tiếng Nga và tiếng Ukrain:
- Cớ gì mà các người cứ đến khảo mãi thế? Tôi và ông Êgo nhà tôi không biết gì cả. Những gì chúng tôi nhìn thấy chúng tôi đã nói hết. Ông nhà tôi sau vụ đó lại bị bệnh cao huyết áp. Còn tôi thì cứ nằm xuống, nhắm mắt lại là y như rằng nằm mơ thấy người chết. Không lẽ các người không biết người già chúng tôi dễ bị xúc động? Chúng tôi là những người già hưu trí, các bác sĩ khuyên chúng tôi nên đi dạo trong vườn, ngồi chơi, hóng mát. Thế mà người ta sinh sự giết nhau ngay trước mặt chúng tôi. Trước kia, chúng tôi vẫn nghĩ, các anh các chị đội viên tự vệ là những người bảo vệ trật tự, an ninh, còn bây giờ thì mới biết các anh chị toàn gây chuyện rắc rối. Hôm ấy lúc hai vợ chồng tôi đang dạo chơi thì một anh chàng cao, to đeo kính chạy đến nói rằng người quen của anh ta bị mệt và nhờ chúng tôi trông giùm trong lúc anh ta đi gọi xe cấp cứu. Chúng tôi đồng ý, thế rồi được cái gì? Được toàn chuyện rắc rối. Chúng tôi đến, nhìn thấy anh thợ cắt tóc Xécgây nằm thẳng đờ. Trước kia, khi ông Êgo nhà tôi còn đi làm, cứ hai ngày một ông ấy lại đến nhờ anh ta cạo mặt. Ông nhà tôi nói: “Ôlétxa, bà mày xem, cậu ấy khổ chưa”. Tôi xem xét, đưa tay tìm mạch, không thấy mạch miệt đâu cả tôi mới nói với ông nhà tôi: “Không, cậu ấy thế là sướng rồi đấy. Chỉ có tôi với ông mới sẽ khổ. Chúng ta đi dạo bị mưa ướt không nói làm gì mà lại còn phải đi làm chứng!”. Lúc ấy người ta bắt đầu xúm đến. Trong số đó có một người đàn ông, ăn mặc sang trọng, trông đẹp mã. Người này đến, cũng bắt mạch Xécgây rồi nói rằng, không còn cách gì cứu sống cậu ấy.
Người đàn ông rướn người nhìn qua vai bà vợ hộ pháp của mình như muốn nói một điều gì đó, song liền bị bà ta đẩy ra và cao giọng nói liến thoắng. Bà nói rằng, ngoài ra hai vợ chồng bà không còn biết gì hết và rất hối hận là đã ở lại chờ cho đến khi xe cấp cứu đến mà không bỏ đi như người đàn ông ăn mặc sang trọng kia, cho rảnh chuyện.
Đviagin ngắt lời người phụ nữ:
- Thế hóa ra không phải công an đã hỏi hai vợ chồng bác cùng với người đàn ông ăn mặc sang trọng kia à?
- Không. Công an chỉ hỏi hai vợ chồng tôi, còn người đàn ông kia thì đã bỏ đi. Anh ta nói với chúng tôi là đang vội.
Đina cũng định hỏi một điều gì đó, nhưng Đviagin đã ra hiệu ngăn cô lại.
- Nói chung bọn cháu đến gặp hai bác vì một chuyện khác. Hai bác có biết anh Kriutrôcốp nhà bên cạnh đi đâu không ạ?
- Anh ấy đi đâu ấy à? Tất nhiên là tôi biết. Đi về làng đến nhà người dì. Anh ấy bế con Ôlếttrôca về làng gửi bà ấy. Tôi đã nói với anh ta: “Anh Xtêphan này, tội gì anh phải bế nó đi đâu, cứ để nó ở với hai vợ chồng tôi. Tôi với ông Êgo nhà tôi không có con, chúng tôi sẽ nuôi nấng nó cho anh”. Nhưng anh ấy nói rằng, con gái anh sẽ sướng hơn khi được bà dì chăm sóc. Anh chị không tin thì cứ đi mà hỏi anh Xtêphan ấy… Khi nào anh ấy về ấy à? Chắc chỉ ba, bốn hôm nữa.
Với tâm hồn nhẹ nhõm, và Đviagin bước ra khỏi căn hộ. Đina thở phào mấy cái rồi hỏi:
- Anh Đviagin này, theo anh thì chúng ta có nên nói chuyện này cho đại tá biết không nhỉ?
- Chưa nên đâu Đina, không nên nói vội. Có thể chúng ta sẽ biết được cả tên họ người đàn ông đẹp mã ấy. Chúng ta còn cả một lô những căn hộ chưa đến, đấy cậu xem- Đviagin nói rồi chìa tờ giấy ghi những căn hộ mà họ phải đến cho Đina xem.
- Thế cũng được – Đina đồng ý.
***
Kapuxtin đảo mắt nhìn Đôrôkhốp, nhìn căn phòng rồi ngồi xuống ghế, im lặng chờ đợi đại tá hỏi. Đến lượt mình đại tá cũng nhìn Kapuxtin chằm chằm mà không thèm giấu sự tò mò. Trước khi bắt đầu cuộc nói chuyện, đại tá muốn có những khái niệm về con người đang ngồi trước mặt. “Chàng trai ra dáng chàng trai – anh nghĩ – cao một mét bảy mươi, dáng người cân đối, ăn mặc không đến nỗi, đôi mắt sống động có pha chút láu lỉnh, rõ ràng là từng quen nhìn bao quát mọi việc. Nhưng cậu ta đào đâu ra lòng tự tin như vậy nhỉ? À, đúng rồi. Cậu ta quen xem mình là một cậu bé “khó” quen được nâng đỡ. Không biết anh chàng đội trưởng đội sản xuất Kuđriaxép làm sao tiếp xúc với cậu ta được nhỉ? Và chắc gì mọi cái của họ đã trôi đi phẳng lặng? E rằng đến một lúc nào đó vì không chịu nổi, anh chàng Kuđriaxép hộ pháp ấy sẽ cho cậu ta một trận ốm đòn. Có thể lắm. Chẳng biết đâu. Nhưng thôi, cái đó còn để kiểm tra lại, còn bây giờ, đầu tiên mình sẽ vờn với cậu nhóc một chút đã”. Nghĩ thế, đại tá lấy tập biên bản hỏi cung ra, xoay xoay trên tay rồi đưa cho Kapuxtin, nói:
- Đây là những lời khai của anh phải không?
Kapuxtin tì tay vào bàn, liếc nhìn chữ ký của mình, trả lời lỗ mãng:
- Của tôi. Từ lâu tôi đã có ý định thu thập những tệ lậu của các đội viên tự vệ để báo lên cấp trên. Bọn họ hống hách lắm, quá lắm ông công dân đại tá ạ.
- “Chà, cũng gọi mình là “ông công dân” – Đại tá nhủ thầm – và lại còn biết cả chức vụ. Ai đã nói cho cậu ta biết nhỉ? Kixêlép hay là anh chàng chuẩn úy, người đã giải cậu ta lên đây? Có nghĩa là mặc dù thừa biết là bị giải lên cho đại tá, một người gấp ba lần tuổi cậu ta, để hỏi cung thế mà vẫn cứ dám xấc láo? Thôi được thế thì tớ sẽ hết sức lịch sự với cậu!”.
- Kapuxtin, anh hãy nói cho tôi biết, trong số các đội viên tự vệ ai là người hống hách nhất? Về Ôlếch anh đã nói, thế còn những người khác thì thế nào?
Trước khi trả lời, Kapuxtin ngồi lại cho thoải mái, thọc tay vào túi, rút ra một bao thuốc rồi xin phép hút một điếu. Đôrôkhốp đồng ý song để giấu nụ cười mỉa mai, anh quay mặt về phía máy điện thoại, sau đó mới quay nhìn Kapuxtin.
- Bọn họ thì ai cũng như ai, đều cùng một duộc cả! Tôi đã nói về Lavrốp nhưng với những người khác cũng cần phải xem xét, vì họ cũng chẳng hơn gì. Động tí gì không vừa lòng là lập tức sử dụng quả đấm. Họ không để cho bọn tôi sống yên. Đấy anh cứ nói chuyện với Vôrônin, anh ta sẽ nói cho anh rõ.
Kapuxtin vẫn tiếp tục nói, còn Đôrôkhốp thì nghĩ rằng không thể không cho anh chàng này một bài học, phải cho một bài ngay lúc này chứ không được nấn ná! Để cho cậu nhóc ấy hiểu rằng, tính lố lăng của cậu không thể không bị trừng trị, để cho bài học ấy phải làm cho cậu nhớ suốt đời, bắt cậu phải hiểu rằng thái độ xấc láo đối với những người xung quanh đó hoàn toàn chưa phải là thái độ đúng đắn nhất ngay cả đối với những phần tử “khó”. Phải chăng bọn đó đã trở thành những phần tử “khó” chỉ vì chúng ta quá dễ dãi?
Đại tá lo lắng nhìn động hồ, đã khá muộn – gần bảy giờ tối rồi. Bằng một giọng xin lỗi, anh nói với Kapuxtin:
- Rất tiếc là tôi phải tạm dừng cuộc nói chuyện lý thú của chúng ta lại một lúc và nếu anh không phản đối thì sau hai mươi, hai lăm phút nữa chúng ta lại tiếp tục còn bây giờ tôi sẽ lệnh cho trực ban giải anh ra phòng đợi.
- Đại tá nên lệnh cho người ta giải tôi về nhà giam thì tốt hơn bởi vì giờ này ở đấy người ta đang phân phát bữa tối.
- Được thôi. – Đại tá bằng lòng và lệnh cho trực ban giải Kapuxtin về phòng giam.
Hai mươi phút sau, Kapuxtin với vẻ mặt thỏa mãn, hân hoan của một người quen cũ bước vào phòng Đôrôkhốp. Vừa nhìn qua, mặt cậu bỗng thuỗn ra vì ngạc nhiên. Cậu nghĩ là chỉ có một mình ông đại tá “dở hơi” người Mátxcơva, người mà như cậu đã kịp báo cho cậu bạn Vôrônin của mình, là đã bị cậu “chơi xỏ” thế mà không ngờ trong phòng lại còn có Rôgốp, Kácpốp và người đỡ đầu của cậu là Kuđriaxép. Giữa ba người còn có một cái ghế để trống và đại tá đã mời Kapuxtin ngồi vào chỗ đó. Kapuxtin rón rén đến ngồi xuống góc ghế, lo lắng nhìn mấy người ngồi cạnh.
- Thế nào anh Kapuxtin- Đôrôkhốp đề nghị – anh nói những tệ lậu của các đội viên tự vệ cho tôi nghe tiếp đi chứ. Nói chung cũng không cần nói về tất cả đâu. Đầu tiên anh cứ nói xem Kuđriaxép đã làm những gì đi đã. Hình như anh làm việc trong tổ anh ấy mà, phải không?
Song Kapuxtin như một người bị người ta hút hồn. Lúc này anh chàng không còn cái vẻ của một người tự tin nữa, mà chỉ còn là một cậu nhóc chỉ biết im lặng ngồi trên ghế.
- Các đồng chí, nếu Kapuxtin thấy ngượng không dám nói thì tôi sẽ cố gắng để truyền đạt lại cho các bạn biết những điều anh ta vừa nói với tôi. Về những việc làm tệ lậu của của Lavrốp thì Kapuxtin đã khai báo, chốc nữa tôi sẽ đọc cho các bạn nghe, song anh ta còn hối hận là đã không viết đơn khiếu nại về các đội viên tự vệ khác, những người vẫn thường dùng vũ lực. Nhân thể, anh Kuđriaxép ạ, anh ta cũng không hài lòng với anh đâu. Thế nào, anh đã đánh Kapuxtin à?
Mặt đỏ gay như cua luộc, Kuđriaxép đứng dậy, thú nhận ngay:
- Vâng, tôi có đánh hai lần. Chỉ có một điều, đồng chí đại tá ạ, thế nào tôi cũng sẽ nện cho cậu ấy một trận nữa. Cứ để cho cậu ấy mãn hạn mười lăm ngày tù và trở về ký túc xá cái đã. Người ta đã phân cậu ấy vào tổ tôi, còn tôi thì được chỉ định làm người đỡ đầu của cậu ấy. Tôi đã khổ sở khuyên bảo đủ điều thế mà cậu ấy vẫn không muốn làm việc. Chỉ cần tôi rời mắt một phút là y như rằng cậu ta đã lẩn vào một xó xỉnh nào đó nằm ngủ khoèo. Đã mấy lần cả tổ họp lại thảo luận phê bình, góp ý kiến và khuyên răn cậu ta nhưng cũng chẳng giúp ích gì. Tôi hỏi cậu ta: “Cậu có muốn làm việc không?”. Thế mà cậu ta trả lời tôi rằng cậu ta là một tên trộm trong vòng pháp luật mà những tên trộm như thế thì không việc gì phải làm việc! Cậu ta còn vênh váo đọc cho tôi câu ngạn ngữ: “Một đêm ăn trộm bằng ba năm làm!”. Thế là tôi bực mình nổi tiết bắt cậu ta tụt quần ra rồi dùng thắt lưng cứ thế mà nện. Tôi đã tự kiểm nghiệm phương pháp ấy và thấy khá hay. Ngày xưa, bố tôi vẫn sửa tôi bằng cách đó. Tôi nghĩ đã là người đỡ đầu thì có khác gì ông bố nuôi, mà đã là bố thì tôi có quyền nện – Kuđriaxép quay sang nói với Kapuxtin:- Thế nào Lépka, nói tiếp chuyện tớ đã nện cậu lần thứ hai vì chuyện gì được chứ?
- Thôi, không cần.
Kapuxtin cụt hứng, lúc này cậu ta không còn cái vẻ khinh khỉnh, bơ đời và càn rỡ như mới rồi nữa.
Nhìn Kapuxtin, Đôrôkhốp quyết định tiếp tục câu chuyện nói dở cho đến đoạn kết thúc. Anh yêu cầu đội phó đội tự vệ Kuđriaxép nói cho anh nghe chuyện họ đã lập biên bản tội càn quấy của Vôrônin và Kapuxtin như thế nào.
- Chuyện thế nào – Kácpốp bắt đầu – thì, Lépka cậu cũng biết rồi đấy. Cậu cứ nhớ lại xem tớ và Kuđriaxép đã bao nhiêu đêm ngồi kèm cặp toán cho cậu. Còn Lêna Pavlốpna- cô ấy bỏ công ra giúp cậu học ngữ pháp và cách đặt câu, thế mà không những cậu không thèm học mà còn kể ra những chuyện tiếu lâm tếu, tục tĩu. Đồng chí đại tá, đồng chí có biết không, Giôra dạy cậu ta môn văn học, thế mà cậu ta lại đi nói với tôi là đêm nào cậu ta cũng nằm mơ thấy các bậc kinh điển Nga.
Kácpốp quay sang nói với Kapuxtin:
- Cậu biết tại sao bọn tớ phải kèm cặp, nâng đỡ cậu không? Cậu nghĩ là để có thành tích báo cáo lên thành đoàn chứ gì? Không đâu, ông anh ạ. Chúng tôi nghĩ trong ông anh vẫn còn một cái gì đó mang tính người vì vậy mà chúng tôi không muốn cho ông anh lại phải vào tù. Đấy, ông anh đi thi vào trường trung cấp kỹ thuật thế mà tôi và Kuđriaxép còn đến tận nơi đứng nhấp nha nhấp nhỏm bên cửa phòng thi để động viên. Còn với cái câu chuyện càn quấy trước cửa rạp chiếu bóng nếu bọn tôi ghi hết mọi chuyện như ông anh đã chửi bới thế nào, đã đánh Đviagin ra sao, vào biên bản, thì ít nhất người ta cũng cho ông anh ngồi một năm ăn bánh mì khô uống nước lã. Mà như thế thì cả trường trung cấp kỹ thuật lẫn sự giúp đỡ, công lao của bọn tôi coi như đi đời nhà ma.
Kuđriaxép ngồi im tập trung tư tưởng, sau đó bỗng nhiên đưa tay búng búng những vết bụi trên quần Kapuxtin lắc đầu nói:
- Ôi Lépka ơi là Lépka! Cậu bôi xấu các đội viên trong đội tự vệ thế mà chính họ là những người đã từng lo đi mua cho cậu từng cái quần, từng bộ vét, còn như với đồng lương của cậu thì có mà ở trần! Thế mà cậu lại còn chê bai, nói xấu tự vệ với chẳng tự viếc! Như Lavrốp chẳng hạn, đáng lẽ ra cậu phải đội ơn anh ta vì chuyện lập biên bản hôm cậu càn quấy, phá rối trước cửa rạp, thế mà cậu lại đi chửi bới, nói xấu. Rồi khi biết người ta bị nạn cậu lại còn đi đặt điều nói thêm.
Lépka cúi đầu im lặng và để giấu những giọt nước mắt, cậu cố cúi đầu thấp hơn. Ngồi trước mặt Đôrôkhốp lúc này không phải là anh chàng Kapuxtin bơ đời hống hách nữa mà chỉ còn một cậu nhóc bất hạnh, lầm đường.
Các đội viên tự vệ đi rồi và họ chỉ còn lại hai người. Đại tá đẩy bình nước lại gần Kapuxtin rồi rót cho cậu một cốc.
Kapuxtin liếm đôi môi khô, uống ừng ực mấy ngụm rồi như một đứa trẻ, cậu đưa tay dụi mắt.
- Kapuxtin, ngồi dịch lại đây, chúng ta nói chuyện. Lépka, làm sao cậu vẫn chưa học được cách nhìn người vậy? Chẳng lẽ cậu lại không biết ai là bạn mình? Cậu tưởng những người vẫn chuốc rượu cho cậu ở nhà vòm là bạn chăng? Không đâu, anh bạn ạ. Lần trước cậu đã phải ngồi tù một mình vì tội ăn trộm, có phải thế không nào?
- Dạ… ngồi một mình – Kapuxtin trả lời, giọng kéo dài.
- Anh hùng đấy! Cậu đã không khai người nào. Đã nhận hết tội lỗi về phần mình.
- Nếu không thế thì tòa án còn bắt ngồi tù lâu hơn vì đã ăn trộm có tổ chức.
- Thế thì đã sao? Thế khi cậu phải ngồi tù, bọn bạn cậu- những kẻ mà cậu đã không khai ra nên đã được tự do phây phây ở ngoài- có đi thăm nuôi cậu không? Và khi cậu được thả ra bọn họ mang bành tô, áo vét đến cho cậu chứ? Họ xin cho cậu vào học trường trung cấp kỹ thuật à?
- Bọn đó chẳng thèm thăm nuôi cũng chẳng mang gì đến cả. Không những thế bọn họ còn đánh tôi vì tôi đã... quan hệ với các đội viên tự vệ. Chưa vừa, bọn họ còn muốn nện tôi một trận nữa nhưng còn may là có Xécgây can thiệp.
- Xécgây nào?
- Anh thợ cắt tóc Xlavin ấy.
- Thế bọn đó cũng sợ anh ta lắm à?
- Sợ quá đi chứ!
Kapuxtin bắt đầu nói chuyện cởi mở. Đại tá Đôrôkhốp hiểu rằng anh đã xác lập được mối giao cảm tâm lý với Kapuxtin và tỏ ra tiếc rẻ vì phải buộc lòng bỏ dở cuộc nói chuyện mà không xác minh mọi việc đến cùng. Mặc dù tiếc rẻ, song anh không còn cách khác, các đội viên tự vệ được giao đi làm nhiệm vụ đã lần lượt trở về mà anh thì đã hứa với họ là anh sẽ làm việc với từng nhóm một.
(Còn tiếp)
Nguồn: Đằng sau một vụ án mạng. Anh Côi dịch. Tủ sách Trinh thám, Tình báo, Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học sắp xuất bản.
|