tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Tiểu thuyết
02.06.2010
Nguyễn Hồng Cẩn
Minh bạch

Xin dành tặng những trang viết này


cho những người thân, những đồng chí,


đồng đội mà tôi đã gắn bó trong đời,


đặc biệt là vợ và các con, cháu của tôi! Nguyễn Hồng Cẩn


 


THƯ TÂM SỰ CỦA MỘT ĐỒNG ĐỘI


Anh Hồng Cẩn quý mến!


Tôi rất xúc động khi biết tin chị Việt - vợ anh - đã qua đời. Gia đình tôi xin gửi đến anh cùng gia quyến lời chia buồn thống thiết nhất.


Trong đời người không thiếu những việc làm chúng ta xúc động rồi từ đó phải suy ngẫm, suy ngẫm đến những con người cụ thể gắn liền sự nghiệp của người đó. Anh Cẩn ạ, người mà tôi suy ngẫm nhiều nhất chính là anh! Tôi muốn tâm sự chia sẻ với anh, cũng là tự nhủ mình phải biết vượt qua nỗi đau buồn, vượt qua chính mình để tiếp tục sống vui, sống khỏe và làm những điều có ích cho đời, cho nghề cá và cho ngư dân nước ta.


Tôi coi anh thật sự là một người anh, một người đồng nghiệp, một đồng chí để nói lên ba mối quan hệ sâu sắc về tình cảm, về nghề nghiệp và về chí hướng. Không phải ai cũng rõ là hai anh em mình đã hiểu biết nhau hơn 50 năm trời. Qua hơn 50 năm ấy, tôi cảm nhận cuộc đời anh nổi lên ba đặc điểm mà tôi thường tâm sự với bạn bè đồng nghiệp. Một là con người có tầm nhìn, tư duy sáng tạo. Hai là con người có những cống hiến lớn đối với nghề cá. Ba là con người tốt bụng nhưng lại gặp phải nhiều nỗi đắng cay mà vẫn vượt qua mọi thách thức, vượt qua chính mình, tiếp tục đi tới vì nghề cá dù tuổi đã gần cửu tuần. Điều đó thật đáng tự hào!


Những điều tôi suy ngẫm về anh là sự thật, đã thể hiện trong suốt quãng đường trên 50 năm hiểu biết anh với cùng chí hướng suốt đời phục vụ nghề cá nhân dân. Suy ngẫm của tôi cũng rất trùng hợp với nhiều người, từ người anh ruột của tôi, từ một số người bạn thân đến các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, thậm chí đến ngư dân, cán bộ cơ sở ở các tỉnh ven biển. Có thể nói anh em mình đã cùng đồng đội đi trên từng cây số của quãng đường dài phục vụ nghề cá mà ít người chưa biết mối quan hệ gắn bó giữa hai anh em suốt hơn 50 năm qua.


Dưới đây tôi chỉ nêu lại vài cây số trên quãng đường dài để anh thấy được những điều tôi suy ngẫm về anh là có cơ sở, khách quan và cũng để anh nén nỗi đau buồn, tự hào về mình, vượt lên chính mình và tiến bước đến cùng.


 Anh là con người có tầm nhìn, có tư duy sáng tạo và đầy nhiệt huyết. Nhớ lại thời điểm tháng 7 năm 1957, khi kết thúc năm thứ 3 Trường Đại học Thủy sản Thượng Hải (Trung Quốc), tôi về nước tìm hiểu nghề cá. Tôi cùng với anh ruột tôi là Võ Văn Sung (nguyên Đại sứ ở Pháp và Nhật) đi thăm vùng biển Hải Phòng và tỉnh Kiến An, nơi anh đã từng làm phó bí thư tỉnh ủy, được nghe nhiều người kể về anh. Về sau, anh Sung cũng nhiều lần làm việc với anh. Anh Sung nói với tôi rằng: “Anh Cẩn là người lãnh đạo tài năng, nhất là tầm nhìn, đổi mới tư duy về kinh tế và xuất nhập khẩu. Em cần học hỏi anh ấy”.


Một người bạn thân của tôi từ thời kháng chiến, năm1950, là anh Nguyễn Ba Dư, nguyên Phó Chủ tịch thành phố Hải Phòng, người từng làm việc dưới quyền anh nhiều năm, đã kể cho tôi nhiều chuyện về anh, nhất là tư duy chiến lược về xây dựng ngành công nghiệp địa phương và mạng lưới hậu cần dịch vụ phục vụ nghề cá nhân dân vùng biển. Thời kỳ đó, thành phố gặp rất nhiều khó khăn, nhưng dưới sự lãnh đạo trực tiếp của anh và các đồng chí lãnh đạo địa phương, Hải Phòng đã trở thành lá cờ đầu xây dựng và phát triển công nghiệp ở miền Bắc. Anh Dư học hỏi ở anh rất nhiều điều, không những về năng lực lãnh đạo và nhiệt huyết làm việc, mà cả khí phách đấu tranh cho lẽ phải.


Năm 1969, tôi được sang Cuba khảo sát nghề cá. Khi về, tôi được một số lãnh đạo gọi đến nói chuyện về nghề cá của bạn. Trong một buổi báo cáo với anh Tự - Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, anh có tham dự và đây là lần đầu tiên tôi trực tiếp gặp anh. Anh có hai nhận xét mang tầm chiến lược là tôm xuất khẩu và hậu cần dịch vụ cho nghề cá nhân dân. Những điều anh phát biểu đã gây cho tôi ấn tượng sâu sắc và về sau đã trở thành những ý tưởng và hành động mà anh em mình cố gắng phục vụ để phát triển nghề cá. Sau đó anh Tự cũng nói nhiều chuyện về anh - con người rất năng động, sáng tạo và cả về tư duy cải cách kinh tế ở địa phương của anh.


Các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước cũng có những ý kiến tốt đẹp về anh. Tôi biết được điều này là do những lần được trực tiếp làm việc với các đồng chí lãnh đao, nhất là những lần đi nước ngoài nghiên cứu khảo sát và đàm phán hợp tác về kinh tế - kỹ thuật, trong đó có nghề cá; chẳng hạn chuyến đi Ba Lan với đồng chí Võ Chí Công năm 1977, đi Cuba với đồng chí Đỗ Mười năm 1978, đi Nga và một số nước SNG với đồng chí Võ Văn Kiệt năm 1994… Các đồng chí ấy đều có ý kiến chung về anh là người có năng lực tư duy và làm việc hết mình, dám nghĩ, dám nói, dám làm.


Những ý kiến của nhiều ngư dân và cán bộ ở các tỉnh ven biển cũng khẳng định anh là một cán bộ lãnh đạo ngành thủy sản có tầm nhìn xa, chịu khó tìm tòi hướng đi để phát triển nghề cá nhân dân, đẩy mạnh mũi nhọn tôm xuất khẩu.


Từ năm 1978, anh, anh Trịnh, anh Hòa và tôi cùng được đề bạt làm thứ trưởng, cùng trong Ban Cán sự Đảng bộ Thủy sản, rồi từ năm 1995 đến năm1999, tôi làm chủ tịch Hội đồng Quản trị Tổng công ty Thủy sản Việt Nam. Đó cũng là giai đoạn tôi trực tiếp làm việc và hiểu sâu sắc về anh nhiều nhất. Thời kỳ sôi động đó, tôi lại càng thấy rõ năng lực tư duy sáng tạo, tầm nhìn, nhiệt huyết và sự cống hiến lớn của anh đối với nghề cá nói chung và ngành xuất nhập khẩu nói riêng. Trong đó nổi bật nhất là cơ chế “Tự cân đối, tự trang trải”, nối liền các khâu từ khai thác, nuôi trồng đến chế biến tiêu thụ và xuất nhập khẩu; quan điểm lấy nghề cá nhân dân làm gốc, lấy xuất nhập khẩu làm mũi nhọn, xây dựng hệ thống hậu cần dịch vụ phục vụ nghề cá nhân dân. Cơ chế Tự cân đối tự trang trải được nhóm lên khá sớm, từ đầu thập niên 1980 đầy khó khăn trở ngại, trong vòng vây của cơ chế bao cấp, kế hoạch hóa và khi nghề cá đã tụt dốc xuống tận đáy. Cơ chế mới đã giúp nghề cá chặn được đà tụt dốc và mở đường từng bước vươn lên một cách bền vững. Điều quan trọng là cơ chế mới đã đột phá, mở đường thoát khỏi cơ chế bao cấp, chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường. Trong nhiều cuộc họp Ban Cán sự Đảng và lãnh đạo Bộ từ 1978, anh đã là một trong những người đi đầu đề xuất ý tưởng và là người trực tiếp thưc hiện chủ trương của Bộ, làm giám đốc Seaprodex, mà sau này tôi là người kế tục công việc của anh sau khi đã thực hiện nghị định 388/HĐBT (năm 1992). Lúc đó, Seaprodex gần như tan rã, khó hình thành một tập đoàn kinh tế - kỹ thuật mạnh phục vụ nghề cá nhân dân như định hướng của anh. Mặc dù chúng tôi cố tìm cách khắc phục, nhưng cũng chỉ đủ sức tập hợp các đơn vị lại, cùng nhau cố giữ cho con đê Seaprodex không bị tan vỡ nhanh, củng cố, phát triển có mức độ và tạo thời cơ thực hiện định hướng chiến lược hình thành tập đoàn kinh tế mạnh để phục vụ nghề cá nhân dân. Rất tiếc là ý tưởng đúng đắn đó đến nay vẫn chưa thực hiện được!


Một con người đầy tài năng, có cống hiến lớn cho nghề cá và tốt bụng như anh nhưng lại gặp nhiều nỗi đắng cay mà vẫn kiên cường tiến bước, vẫn nhiệt huyết, vẫn đổi mới tư duy và làm việc vì sự nghiệp phát triển nghề cá của đất nước quả là rất hiếm hoi, rất đáng khâm phục. Tôi tiếp tục nhớ lại mấy chuyện rất xúc động và suy ngẫm về sức chịu đựng của anh trước những nỗi đắng cay của cuộc đời.


Vào những năm 1991-1993, do những sự việc xảy ra ở Seaprodex, hai con trai anh đang rất sung sức và đầy triển vọng bị bắt giam khiến anh lâm vào tình cảnh phải cùng chị Việt ra Đà Nẵng để tịnh tâm. Được tin, tôi vào tìm thăm anh chị với ý định muốn để anh chị thấy bên cạnh luôn có nhiều anh em, đồng nghiệp, đồng chí thấu hiểu anh, yêu thương, quý trọng anh, luôn sẵn sàng tiếp sức cho anh vượt qua nỗi cay đắng của cuộc đời. Thế nhưng anh ở đâu mà tôi không sao tìm thấy. Rất may là có anh Nguyễn Chước biết chỗ anh chị ở, đã dẫn tôi đi tìm anh chị vào một buổi tối trời. Anh Chước dẫn tôi đến ngôi nhà nhỏ hai tầng ở con đường vắng vẻ, cửa ngõ đóng kín. Tôi gọi mãi không có ai ra mở, mặc dù ở phòng trong cùng vẫn còn ánh đèn le lói. Sau gần nửa giờ chờ đợi, tôi đành phải quay trở về và suy ngẫm mãi về anh. Không biết lúc ấy anh có hiểu rằng có người bạn tin cậy đang suy nghĩ nhiều về nỗi đau của đời anh mà không thể chia sẻ cùng anh được, dù đã cố gắng đi tìm anh.


Mấy năm sau, vào buổi sáng giữa năm 1997, tôi vào trại giam ở Xuân Lộc tìm thăm hai cháu con trai anh và khó khăn lắm mới tìm gặp được. Thật đau lòng nhìn thấy cháu Thắng ngày nào tràn đầy sức lực, mà lúc đó chân đi khập khiễng, nước da bủng, mắt lờ đờ do những ngày bị cùm hai chân ở xà lim vì bị kết án tù chung thân. Tôi chỉ ôm các cháu và thủ thỉ rằng chắc chắn các cháu sẽ được sớm ra khỏi tù.


Rồi 12 năm trôi qua, vào những tháng cuối năm 2009, chị Việt - người bạn đời, người đồng chí của anh suốt hơn 60 năm trời, người đã cùng với anh hưởng nhiều niềm vui và cũng cùng chịu nhiều nỗi đắng cay, sau khi lâm bệnh nặng, dù được anh và gia đình đã hết lòng chăm sóc, cứu chữa, vẫn phải về với ông bà, tổ tiên. Anh tâm sự với tôi rằng nếu chị ra đi, chắc chắn anh không thể nào sống được bao lâu vì không thể nào quên được hình bóng chị. Nhưng sự việc phũ phàng vẫn cứ xảy ra. Vợ chồng tôi quen biết chị từ lâu, thường hay tâm sự với nhau và rất xúc động, rất thương tiếc chị. Tôi viết lá thư dài tâm sự với anh vì rất quý mến anh chị, rất tin anh sẽ vượt qua được nỗi đau buồn và tiếp tục tiến bước.


Anh Cẩn quý mến! Hai anh em mình đều đã vào tuổi xế chiều của cuộc đời, nhưng vẫn tràn đầy niềm tin và hy vọng vào tương lai của đất nước, vào nghề cá nhân dân, vào thế hệ trẻ tràn đầy sức lực, có trí tuệ và tình người. Để kết thúc bức thư tâm sự này, dù không phải là thi sĩ, tôi vẫn muốn viết tặng anh đôi câu thơ để anh em mình cùng lạc quan trong những năm tháng còn lại của cuộc đời:


Hoàng hôn bóng đã xế tà


Mà ta vẫn thấy như là bình minh.


PGS-TS Võ Văn Trác


Nguyên Thứ trưởng thường trực Bộ Thủy sản


 


MỞ ĐẦU


Một bạn đồng nghiệp, trước đây cùng giữ chức thứ trưởng nhận xét về tôi rằng tôi có ba cái nhất: kiên cường nhất, đau khổ nhất và tâm huyết nhất.


Đã ở tuổi 86, nhìn lại cuộc đời mình, tôi thấy có nhiều chuyện để nói, để kể. Nhiều người khuyên tôi nên viết lại những kỷ niệm mà tôi đã trải qua, những gian truân, đau khổ và cả hạnh phúc mà tôi đã nhận được để cho con cháu hiểu về cha, ông mình đầy đủ hơn. Quỹ thời gian của tôi còn quá ngắn, trong khi đó lại vẫn mong hoàn chỉnh dự án “Nâng cao sự đổi mới toàn diện và triệt để nhằm đưa xã hội nghề cá tới giàu mạnh” vốn là tư duy chủ đạo của tôi nên tôi chưa tính làm việc này.


Khi còn trẻ, xuất phát từ lòng yêu nước, tôi bí mật tham gia Việt Minh, giành chính quyền rồi tham gia kháng chiến, vào bộ đội đánh Pháp, đánh Nhật, đánh Mỹ. Trong thời kỳ đất nước gặp bao khó khăn, một mặt bị kẻ thù bao vây cấm vận, mặt khác cơ chế tập trung quan liêu bao cấp ngự trị, chúng tôi đã say sưa đổi mới, quyết liệt như ngày đánh Pháp, đánh Mỹ và đã đổi mới thành công. Ngẫm lại mới thấy trong tính cách tôi luôn luôn có sự thúc giục đổi mới, liên tục đổi mới. Dù đã nghỉ hưu, nhưng lúc nào trong đầu óc tôi cũng muốn tìm tòi đổi mới. Tôi vẫn hào hứng tham gia tư vấn cho lớp trẻ, mong họ đổi mới mạnh mẽ hơn, táo bạo hơn, có thế mới tạo được những cú hích mạnh thúc đẩy sự phát triển của chính bản thân họ, của doanh nghiệp mà họ lãnh đạo, của ngành kinh tế - kỹ thuật - xã hội mà họ đang hoạt động. Tôi cho rằng chỉ với tư duy đổi mới liên tục, đổi mới toàn diện, đổi mới triệt để thì chúng ta mới thích nghi được với sự thay đổi và tiến bộ của thời đại, mới nhanh chóng đưa được kinh tế - xã hội Việt Nam thoát khỏi số phận của những nước nghèo, nhanh chóng xây dựng đất nước giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, hiện đại. Vì vậy, đổi mới hôm nay cũng chính là một đòi hỏi, một phẩm chất cách mạng cần có của toàn Đảng, toàn dân ta. Thực tế 70 năm hoạt động của Đảng cho thấy nhiều lúc đất nước bị rơi vào khó khăn, thậm chí khủng hoảng, nhưng nhờ nhạy bén đổi mới mà chúng ta vượt qua thách thức, từ thế bị dồn vào chân tường mà vẫn vượt lên giành được những thành công ngọan mục, mở ra lối đi thanh thoát, tạo được những thay đổi căn bản trong đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.


Ngành thủy sản nước ta đã trải qua hơn 50 năm xây dựng, hôm nay đã có những tiến bộ đáng tự hào, nhưng vẫn đang đứng trước nhiều thách thức và đang rất cần đổi mới toàn diện, triệt để. Đồng thời với dự án “Nâng cao sự đổi mới toàn diện và triệt để nhằm đưa xã hội nghề cá tới giàu mạnh”, tôi còn muốn tham gia vào việc tổng kết 50 xây dựng và phát triển ngành thủy sản và 30 năm xuất khẩu thủy sản Việt Nam, góp phần xây dựng chiến lược phát triển ngành trong giai đoạn 2010 – 2020 và xây dựng khu du lịch sinh thái kết hợp giới thiệu truyền thống lịch sử của nghề cá Việt Nam.


Có nhà văn nói rằng “Câu chuyện hay nhất là câu chuyện kể về chính cuộc đời mình”. Câu nói đó quả cũng đúng vì khi nhớ lại những kỷ niệm trong đời, tôi vẫn thấy có nhiều điều thú vị để kể. Nhờ đổi mới tư duy, tôi quyết định thể hiện trong sách này một số câu chuyện nổi bật nhất, ấn tượng nhất và đáng nhớ nhất đã diễn ra trong đời tôi. Tôi đã có dịp đọc vài cuốn hồi ký, thấy có loại thiên kể về những chiến tích đã đạt được, có loại lại phê phán, tham vãn quá mức, viết ra như để trả thù, nói ra cho bõ ghét. Trong cuốn sách này, tôi chỉ muốn kể lại những câu chuyện mang dấu tích có thể được cho là niềm tự hào của cả một dân tộc anh hùng. Tất nhiên, trong đó có những con người thực đáng được ca ngợi và cả những người có thể bị đánh giá là chưa mẫu mực theo cách nhìn nhận chung. Tôi cũng muốn xin lỗi trước nếu lỡ làm bất kỳ ai phật ý. Tôi có gửi bản thảo cho một vài bạn bè gần gũi đọc và cho ý kiến đánh giá để nâng cao tính khách quan và trung thực của nội dung trước khi chuyển nó thành cuốn sách hoàn chỉnh.


Năm bảy mươi tám tuổi, tôi mới đi thăm quê hương, bản quán, tìm mồ mả tổ tiên. Tôi vốn được giáo dục từ nhỏ rằng cây có cội nước có nguồn, con người có tổ có tông, vậy tại sao phải chờ đến bảy mươi tám tuổi mới tìm về cố hương? Thú thực là vì tôi đam mê cách mạng, đam mê làm giàu cho nghề cá và cả những đam mê lẻ tẻ khác, rồi những bi kịch của gia đình đã cuốn tôi đi hết thời trai trẻ, thời trung niên rồi cả thời đã nghỉ hưu. Tôi thật có lỗi với tổ tông, ông bà, cha mẹ! Lỗi này tôi không biện minh, mà có muốn cũng không tài nào biện minh nổi. Tâm linh tôi đã quá nhiều trăn trở, day dứt. Không ít người trong chốn tâm giao đã hỏi tôi rằng tôi có tin vào số phận không, có ân hận gì không khi nhìn lại chặng đời đã qua? Câu trả lời sẽ nằm trong các trang tiếp theo của cuốn sách này. Lẽ ra, bản thảo đã được hoàn tất sớm hơn, nhưng mấy tháng qua, vợ tôi gặp bạo bệnh và cuối cùng, vợ tôi đã về cõi vĩnh hằng. Tôi và các con, cháu tìm mọi cách cứu lấy sự sống cho vợ tôi nhưng không được. Điều đó khiến tôi không thể tập trung tư tưởng để sớm hoàn tất cuốn sách như dự kiến. Dù sao thì cuối cùng, sách cũng đã xong và được gửi đến những người bạn gần gũi nhất để tham khảo ý kiến. Xin chân thành cảm ơn các bạn đã phản hồi!


(còn tiếp)


Nguồn: Minh bạch. Tự truyện của Nguyễn Hồng Cẩn. NXB Văn học, 6-2010.

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cõi mê - Triệu Xuân 25.03.2020
Giấy trắng - Triệu Xuân 25.03.2020
Anh em nhà Karamazov - FYODOR Mikhailovich Dostoyevsky 16.03.2020
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 15.03.2020
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 15.03.2020
Đêm Sài Gòn không ngủ - Trầm Hương 10.03.2020
Trong cơn lốc xoáy - Trầm Hương 10.03.2020
Ông cố vấn - Hữu Mai 26.02.2020
Đẻ sách - Đỗ Quyên 15.02.2020
Hòn đất - Anh Đức 13.02.2020
xem thêm »