tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Tiểu thuyết
04.06.2010
Nguyễn Hồng Cẩn
Minh bạch

Ông nội tôi tên là Nguyễn Hữu Phú, từng là viên chức lâu năm của Đài Phủ Liễn, được nhận chức sắc hàn lâm nên xưa kia gọi là cụ Hàn Phú. Lúc trẻ, cụ tham gia phong trào truyền bá quốc ngữ, làm Hội trưởng Hội truyền bá quốc ngữ tỉnh Kiến An. Cụ dạy bảo con cái kiến thức thiên văn, vì vậy sau này con cháu đều làm viên chức ở Đài Phù Liễn. Do bị công sứ Pháp và mật thám nghi ngờ, đe dọa khủng bố, cụ không công khai hoạt động Hội truyền bá quốc ngữ nữa. Ông Nguyễn Xiển (nguyên Tổng thư ký đảng Xã hội) làm việc tại Đài Thiên văn, thay cụ Hàn Phú làm Hội trưởng Kiến An từ 19401. Bà nội tôi tên là Lê Thị Căn, là người đảm đang, tài giỏi, đã cùng chồng xây dựng gia đình trở thành gia đình viên chức giàu có, có nhà, có ruộng cho thuê. Năm 1944, bà nội tôi ốm và mất ở tuổi 55 khiến gia đình bị mất đi trụ cột. Sau đó, cả quê hương theo Việt Minh kháng Pháp, tiêu thổ kháng chiến, gia đình bị phá sản, mỗi người tản cư một ngả. Cha mẹ tôi ra vùng kháng chiến, sau này đều làm công nhân ở nhà máy thuốc lá và xưởng dệt rồi đã qua đời từ lâu.


Ông bà nội của tôi có mười hai người con, ba trai chín gái (một con gái bị mất sớm). Bố tôi là con đầu, hồi nhỏ bị ngã, phải bó dấm thanh, nhưng không may thế nào đâm ra bị thọt chân. Nhà có cô út tên là Hậu cũng bị ốm rồi bị biến chứng thành thọt chân. Bà nội tôi có lần sinh ba, cả ba đều là gái nên phải mướn ba người nhũ mẫu. Nhũ mẫu ở làng Điền thì gọi tên là cô Điền, ở làng Khúc Trì gọi tên là cô Trì, ở làng Ang Sơn gọi là cô Sơn. Đến nay chỉ một trong ba người nhũ mẫu ấy còn sống là cô Trì, đã 96 tuổi. Năm 1940, hai vợ chồng bà Trì phụ trách Đài Thiên văn Vientiane (Lào), cũng trực thuộc Đài Thiên văn Phủ Liễn Đông Dương. Khi Nhật đảo chính Pháp, vợ chồng bà Trì dạt sang Thái Lan, tham gia phong trào yêu nước ở đó. Đến năm 1956 -1957, ông Đỗ Dụ, chồng bà Trì bị ốm nên được đưa về Hải Phòng chữa bệnh, đi cùng ba người con, trong đó có con gái tên là Đỗ Thị Thái Lan (sinh ra ở Thái nên được đặt tên như vậy). Sau này ông qua đời, được con cháu lo toan chu đáo. Năm 2009, bà Trì được cô Lan sang tận Thái, đón về Hải Phòng. Khi về lại Hải Phòng, tôi đã đến thăm bà. Gặp bà, tôi hỏi:


- Cô có biết cháu là ai không?


Nhìn tôi một lát, bà tỏ ra rất tỉnh táo, giọng nói rõ ràng:


- Biết chứ! Cháu là thằng Bê, cháu đích tôn của bà Căn - ông Phú. Cô nhớ cô hơn cháu khoảng chín, mười tuổi. Lúc bé cháu nặng lắm. Bà nội cháu ngày xưa giỏi lắm. Bà nuôi bò lấy sữa, tậu ruộng, nuôi trâu cho thuê, có hàng trăm mẫu ruộng, có mấy chục cái nhà cho thuê, các con có phần hùn vốn. Trước khi sang Vientiane, cô chú cũng góp tiền với bà mua mấy chục mẫu ruộng và mấy chục cây vàng, nhưng nghe đâu đã bị tịch thu. Nếu Nhà nước có chính sách thì cô sẽ đề nghị Nhà nước trả lại, nhưng hiến cho Nhà nước một nửa, chỉ lấy một nửa cho con cháu. Con cháu cô ở Thái bây giờ nghèo lắm, suốt mấy chục năm vẫn ở tình thế người Việt không ra người Việt, người Thái không ra người Thái, bị cấm hành nghề hơn bốn chục nghề làm ăn. Em Thái Lan nhà cô giỏi lắm. Chồng nó bị hy sinh khi máy bay B52 của Mỹ ném bom Hải Phòng, một mình nuôi con, rồi sang tận Thái Lan đón cô về. Nay con cái của Thái Lan đã lớn rồi, giờ lo nuôi cả mẹ và bà nữa.


Hôm đó bà Trì còn có thêm một số cháu chắt ở Hải Phòng đến thăm. Tiện đó, tôi cũng trình bày:


- Cô ơi, con cháu cô ở Hải Phòng khá nhiều. Chúng cháu bầu cậu Lãm có mặt ở đây là con trai lớn của cô Sơn làm tổ trưởng họ để hội tụ họ hàng ở Hải Phòng thăm hỏi nhau và săn sóc cô. Dòng họ nhà ta còn có cô ở tuổi này là quá hạnh phúc và đáng hãnh diện. Chúng cháu chúc cô sống trăm tuổi!


Cùng đi với tôi hôm đó có anh bạn Nguyễn Công Dị. Anh ấy góp thêm:


- Bà năm nay đã sống sát một trăm tuổi rồi nên phải chúc bà sống một trăm mười tuổi. Nhân dịp này anh em chúng ta xin được mừng thọ bà!


Nói rồi anh Dị rút tiền biếu bà làm bà rất cảm động.


 Nhà của Thái Lan quá hẹp, chỉ khoảng chục mét vuông, lại tận dụng để làm cửa hàng bán tạp hóa. Lúc thưa chuyện với bà Trì, chúng tôi phải ngồi bệt xuống sàn nhà. Có lúc cứ thấy bà chăm chú nhìn vào tấm huy chương do chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết ký, được Đại sứ quán Việt Nam tại Bangkok trao tặng hồi bà còn ở Thái Lan. Bà nói thêm:


- Tấm huy chương này ghi nhận công lao đóng góp của vợ chồng cô cho đất nước suốt hơn 40 năm ở Thái Lan. Cứ nhìn nó là cô lại nhớ tới chồng cô. Hôm nay, sau 70 năm mới gặp lại được cháu, cô mới thấy trái đất này xoay vần thật hay.


Rồi cô cười và chúng tôi cảm nhận thấy rõ niềm vui trong cô. Bản thân tôi còn cảm nhận được tấm lòng của bà con Việt kiều ở xa Tổ quốc luôn hướng về quê hương cũng như niềm hạnh phúc của họ khi được về sống ở chính quê hương mình.


Chuyện trò với bà Trì, tôi bỗng nhớ lại những kỷ niệm từ thời thơ ấu. Ngày đó, chính cô là người đã kể tôi nghe rằng mẹ tôi sinh ra trong một gia đình trung nông, là con gái duy nhất trong nhà. Mẹ tôi được gả cho bố tôi để giúp bà nội tôi trông coi và cai quản việc nhà. Bà nội tôi là người phụ nữ tháo vát, đảm đang, mọi việc trong gia đình đều do một tay bà gánh vác. Tính bà nghiêm khắc, chặt chẽ, tiết kiệm. Ai làm dâu ở nhà bà đều nhất nhất nghe lời bà, chăm chỉ, vất vả, không được sung sướng, mà còn phải phục vụ tám người em gái khác, đúng như cảnh “Giặc bên Ngô không bằng bà cô bên chồng”. Có lúc cực quá, mẹ tôi phải bỏ trốn về về bên ngoại, nhưng vì thương các con rồi lại quay về.


Bố tôi sau khi bị thọt chân thì học nghề vẽ truyền thần, nhưng không giúp được bao nhiêu cho mẹ tôi cả. Bà tôi rất cưng bố tôi, không cho ai đụng vào bố tôi. Bà còn nói sẽ nuôi bố tôi trọn đời. Ngày còn nhỏ, tôi được gọi là Bê vì khi mẹ tôi sinh ra tôi cũng là lúc bà nội và bà cô tôi đều sinh con. Sữa mẹ tôi tốt nên mẹ tôi cho cả ba đứa trẻ cùng bú, mà tôi thường phải bú sau cùng. Có lần hết sữa nhưng tôi còn đói nên nhà sẵn có bò, mẹ tôi bế tôi đi vắt sữa bò để uống. Đói quá, thấy vú bò là tôi bú ngay. Cái tên Bê được đặt từ đó. Sau này lớn lên tôi mới có tên là Cung, còn em trai tôi là Cảnh. Đến khi đi hoạt động cách mạng, anh Lê Quốc Thân đặt cho tôi bí danh là Cẩn, rồi qua những trận chiến đấu gan dạ, anh em trong đơn vị gọi tôi là Hùng Cẩn.


Tôi kể cô Trì nghe về cuộc đời mình mà cột mốc đầu tiên là lấy vợ năm 1947, sau đó có ba con trai, hai con gái, nay đại gia đình có mười bốn cháu nội ngoại và sáu chắt. Con trai đầu của tôi, Nguyễn Hữu Thắng, năm nay đã 64 tuổi, có tài năng, có đóng góp cho sự nghiệp chung nhưng lại chịu nhiều bất hạnh, gặp phải nạn bè phái, sự nghiệp bị đổ vỡ, phải trải qua tù tội, vợ chồng bỏ nhau. Ba lần Thắng bị tai nạn giao thông, bị mất một con mắt, mắt còn lại chỉ còn hai phần mười thị lực. Bả vai, xương sườn, xương chân cũng đều bị gãy, gần đây bị nhồi máu cơ tim, chảy máu dạ dày, chữa chạy rất tốn kém, cả gia đình phải chung sức cứu giúp. Cháu thứ nhì tên là Trường, cũng đã 60 tuổi. Trong chiến tranh chống Mỹ, cháu đi bộ đội vào Quảng Trị, bị thương, sức yếu, sau một thời gian làm việc phải nghỉ hưu non. Cháu cùng gia đình sống ở Hải Phòng, đời sống tạm đủ, nhưng gần đây sức khỏe cũng yếu, sức khỏe của vợ còn tệ hơn, hàng tuần phải chạy thận ba lần. Cháu thứ ba là Bình, có khá hơn một chút, được hai đứa con rất ngoan, đứa đầu đã tốt nghiệp đại học, có hai bằng cử nhân. Nhưng Bình cũng bị tai bay vạ gió của nạn bè phái, phải qua tù tội, rồi vợ chồng bỏ nhau. Cháu thứ tư là con gái, tên Khanh, đã tốt nghiệp đại học ngành lao động tiền lương, có bốn con, chồng là kỹ sư cơ khí nông nghiệp, đã nghỉ hưu, hiện tham gia hội đồng nhân dân phường, cuộc sống gia đình tuy có khó khăn nhưng các con học giỏi, chăm ngoan. Hạnh là con gái út, tốt nghiệp sư phạm, làm cô giáo một thời gian rồi chuyển sang kinh doanh, chịu khó học thêm đại học ngoại thương và luật để điều hành công ty, nuôi dạy hai con còn đang học phổ thông trung học. Con trai lớn tên Nam học giỏi, được danh hiệu á khoa Trường APU ở thành phố Hồ Chí Minh, nay đang du học tại Mỹ, còn cháu thứ hai học lớp 7, cũng thuộc diện học sinh xuất sắc…


Bà Trì cũng nhắc lại những kỷ niệm trong quá khứ để tôi hiểu thêm về hoàn cảnh gia đình. Bà nội tôi qua đời đột ngột ở tuổi 55, lúc cô còn đang ở Lào. Sau đó, quân Nhật đổ bộ vào đò Khuể, sông Văn Úc, ta thực hiện tiêu thổ để kháng chiến trường kỳ. Trong nhà mất đi người cầm lái, lại không có ai nối tiếp nên bị phá sản từ đó, ruộng đất, nhà cửa bị mất mát hết… Lúc đó, gia đình tôi tán loạn, mỗi người một nơi. Bố mẹ tôi chạy theo hướng Thái Bình, sau đó vào làm công cho Xưởng Thuốc lá Lam Sơn. Mẹ tôi bế cháu nội Nguyễn Hữu Thắng, lúc đó mới một tuổi về Kiến An, còn đứa con thứ hai của tôi là Nguyễn Hữu Trường sinh ở giữa rừng, vợ tôi phải gửi một người dì nuôi hộ ở Quân y viện 108 trên Việt Bắc. Sau đó mẹ tôi mở một cửa hàng bán than củi. Hòa bình lập lại, bố mẹ tôi làm công nhân ở Hải Phòng… Tôi nói thêm với cô Trì rằng nhà ta đã bị phá sản từ những năm 1944 - 1945, còn ruộng đất đâu mà bảo bị Chính phủ tịch thu. Cô cười: “À ra thế! Cô có hay biết gì!”.


Tôi thầm nghĩ đời mình và đời con cháu mình trải qua bao nhiêu chông gai, vất vả mà hôm nay còn được như vậy là may mắn rồi. Qua hai cuộc kháng chiến, trong đại gia đình tôi có bảy người bị hy sinh. Riêng vợ tôi bị thương nặng năm 1951, là thương binh hạng ba. Thế hệ con cháu đã hơn ông cha, ai cũng được học hành, tốt nghiệp đại học. Chúng tôi đã có 22 cháu chắt nội ngoại và hy vọng rằng thế hệ cháu chắt sẽ giỏi hơn, đời sống chắc sẽ sung sướng hơn ông cha. Đó là phúc đức ông bà để lại. Đó cũng là nhờ công lao bảo vệ và xây dựng đất nước của nhiều thế hệ trên đất nước Việt Nam.


15 NĂM TIỀN KHỞI NGHĨA
ĐẾN HAI CUỘC KHÁNG CHIẾN TRƯỜNG KỲ


Năm 2006, Đảng bộ Liên hiệp Các hội khoa học, Chi bộ Đảng Hội Khoa học kinh tế Việt Nam (thuộc Đảng bộ Khoa giáo Trung ương) tổ chức lễ trao huy chương cho một số đảng viên nhiều năm tuổi đảng. Đồng chí giáo sư - viện sĩ Vũ Tuyên Hoàng đại diện cho Đảng bộ trao cho tôi tấm huy hiệu 60 tuổi đảng và mời tôi phát biểu ý kiến. Tôi đã nói vài lời như sau:


- Kính thưa các đồng chí! Tôi xin cám ơn các đồng chí đã tổ chức buổi lễ long trọng này. Nhân dịp này, tôi xin có vài cảm nhận. Khi gia nhập Đảng, tôi mới ở độ tuổi hai mươi và vào Đảng trong suy nghĩ của tôi đồng nghĩa với yêu nước, thương dân, tham gia khởi nghĩa giành chính quyền, trường kỳ kháng chiến, đánh Pháp, đánh Mỹ, giải phóng đất nước, quyết không chịu làm nô lệ, mang cho mọi người cơm no áo ấm, được học hành. Tất cả chỉ có thế, không hề mong làm ông nọ bà kia, không đòi hỏi gì hết, nhiều khi không có lương thực để ăn, cực khổ đói khát nhưng vẫn lăn xả, hy sinh tất cả theo tiếng gọi của non sông, cũng là tiếng gọi của Đảng. Năm nay tôi đã 801, tròn 60 năm tuổi đảng, đã được trực tiếp chứng kiến hết thắng lợi này đến thắng lợi khác của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đảng ta đã lãnh đạo tài tình, có đủ cả tâm, cả tầm, tất cả vì dân, vì nước nên được nhân dân suy tôn và tin cậy. Nhưng sau những năm tháng huy hoàng rực rỡ đó, chúng ta gặp thất bại và tổn thất không nhỏ, bỏ lỡ nhiều cơ hội vàng. Hiện đất nước ta đã và đang bước vào tình thế mới với nhiều sự biến đổi phức tạp và mau lẹ trên khắp thế giới. Đã xuất hiện làm sóng thứ ba của nhân loại mà ở đó, tri thức và thời gian là nguồn nguyên liệu chính làm ra sản phẩm thời đại. Các học thuyết kinh tế, chính trị - xã hội đang được điều chỉnh, nâng cao. Đất nước ta cũng đã có nhiều đổi mới đáng trân trọng, đáng khích lệ, nhưng vẫn ở tình trạng chần chừ, do dự, chờ đợi, lúng túng, chưa thích nghi được với thời đại, cả về lý thuyết lẫn thực tế. Có thể thấy những biểu hiện những sai lệch trong xử lý những vấn đề trong cuộc sống, trong việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, thể hiện tình trạng lời nói không đi đôi với việc làm, do đó làm mất dần lòng tin của dân. Tình hình sẽ diễn biến ra sao nếu chúng ta không kiên quyết, thậm chí tỏ ta bất lực trước thực tế đó? Thành phần đảng viên của Đảng bộ ta hiện nay phần lớn có năng lực tri thức cao nên tôi vẫn có niềm tin là các đảng viên sẽ đóng góp cho Đảng những ý kiến đầy trách nhiệm của mình để giải quyết những bức xúc lúc này, có vậy chúng ta mới tháo gỡ được khó khăn và tiếp tục đổi mới để đưa đất nước đi lên mạnh mẽ hơn, khôi phục được niềm tin và hy vọng trong quần chúng. Xin cảm ơn các đồng chí!


Giáo sư - viện sĩ Vũ Tuyên Hoàng đến chỗ tôi ngồi nói:


- Trong Đảng bộ ta có anh và anh Trần Phương là hai người cao niên và nhiều tuổi đảng nhất. Chúc các anh khỏe mạnh và tiếp tục cống hiến cho Đảng, cho dân, để tiếp tục nhận huy chương 70 tuổi đảng!


*


Những ai đã từng sống trong giai đoạn cuối 1944 – đầu 1945 mới hiểu rõ cảnh hỗn loạn, đau thương của dân tộc, của đất nước ta. Nhật đảo chính Pháp, nạn chết đói khủng khiếp không thể diễn tả hết. Tôi vẫn còn nhớ cảnh tượng người đói này giằng lấy miếng ăn của người đói khác rồi chẳng ai ăn được, cùng lăn ra chết vì lực đã kiệt hết, hoặc đói quá đến nỗi người ta phải ăn cả thịt người. Vì vậy, khi ấy không ai bảo ai, cứ đi tìm Việt Minh, hy vọng Việt Minh sẽ cứu dân thoát khỏi cảnh chết đói, lầm than. Vào Việt Minh là yêu nước, là cùng nhau đấu tranh để có cơm ăn, áo mặc, được tự do, được học hành.


Tháng 10 năm 1944, tôi là một trong những quần chúng thanh niên tìm tới các chiến sĩ Việt Minh ở Đông Triều, An Lão để xin tham gia hoạt động cách mạng. Đến đầu năm 1945, tôi tham gia tổ chức Việt Minh bí mật tại thị xã Kiến An. Vào những ngày 18, 19, 20 và 21 tháng 8 năm ấy, tin tức khởi nghĩa sôi sục khắp nơi. Tôi cùng một người bạn nữa về căn cứ Việt Minh ở An Lão để truyền tin, thúc giục nhân dân tham gia gấp vào lực lượng giành chính quyền ở tỉnh Kiến An. Ngay ngày hôm sau, chúng tôi chia làm hai mũi, một mũi do anh Phan Hiền tiến vào gặp tỉnh trưởng Nguyễn Văn Ninh, bắt y đầu hàng. Mũi kia do anh Quốc Hiên bao vây trại bảo an binh. Tôi được phân công lẻn vào trại treo cờ đỏ sao vàng. Lúc đó có tiếng lên cò súng lách cách, tôi nghĩ mình có thể bị bắn chết, nhưng ngay lúc đó tỉnh trưởng Ninh xin đầu hàng. Toàn bộ lính trong trại đầu hàng và xin gia nhập hàng ngũ Việt Minh. Chúng tôi chỉ để lại một số người giữ gìn doanh trại, chưa công bố thành lập chính quyền vì có ý kiến cho rằng chưa có chỉ thị của cấp trên, rồi kéo về căn cứ An Lão. Sáng hôm sau, nhóm Việt Minh hai huyện Kiến Thụy, Tiên Lãng tập hợp quần chúng tiến vào giành chính quyền tỉnh Kiến An lần thứ hai, công bố thành lập chính quyền cách mạng. Điều bất ngờ đã xảy ra là Việt Minh An Lão và Việt Minh Kiến Thụy hiểu lầm nhau nên đã nổ súng vào nhau, may mà kiềm chế được nên chỉ có một trường hợp anh lính bảo an Nguyễn Đức Ngọ - nhân mối của Việt Minh - bị bắn chết. Ngay lập tức, quần chúng tổ chức đám tang tỏ lòng thương tiếc anh Ngọ. Thế nhưng, dư âm về Việt Minh An Lão giả vẫn còn nên anh Phan Hiền bị bắt giam bảy, tám tháng. May mà có lệnh của Trung ương công nhận Việt Minh An Lão là cơ sở Việt Minh thật nên anh Phan Hiền sau này mới được thả ra và hoạt động công khai trong vai trò nhà trí thức tư sản ở Sài Gòn, Hà Nội. Đến khi đất nước thống nhất, anh là thứ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin, là cán bộ lão thành cách mạng…


Chỉ ít lâu sau ngày ta giành chính quyền, quân Pháp đổ bộ xuống Hải Phòng, Đồ Sơn. Lúc ấy, Hải Phòng và Kiến An hợp nhất thành tỉnh Hải Kiến. Đồng chí Lê Quốc Thân là bí thư Tỉnh ủy kiêm bí thư Tỉnh bộ Việt Minh. Tôi được anh Thân giao phụ trách phong trào Việt Minh ngoại thị ở Kiến An và được anh Thân cùng anh Thành “Thổ thần” giới thiệu vào Đảng. Năm 1946, tôi và anh Thành “Thổ thần” được cử ra thị xã Đồ Sơn. Anh Thành phụ trách công tác Đảng, còn tôi làm bí thư Thị bộ Việt Minh. Khi quân Pháp đánh chiếm Hải Phòng, Đồ Sơn, ta thành lập mặt trận Cầu Rào - Đồ Sơn, anh Vũ Hạnh là chỉ huy trưởng (sau này giữ chức thành đội trưởng thành phố Hải Phòng, rồi chuyển ngành về Tổng cục Thủy sản), anh Đặng Kinh chỉ huy phó (sau này là tỉnh đội trưởng Kiến An, rồi trung tướng - thứ trưởng Bộ Quốc phòng), còn tôi là chính trị viên. Quân Pháp tập trung tấn công chiếm Kiến An, ta tổ chức lại lực lượng ở An Lão, An Dương, xây dựng hệ thống thành đội, bộ đội địa phương. Năm 1949, Hải Kiến lại tách ra thành hai tỉnh Hải Phòng và Kiến An. Trung ương cử anh Lê Chấn ở Hà Nam về làm bí thư Tỉnh ủy Kiến An, tôi được bầu là tỉnh ủy viên, rồi thường vụ tỉnh ủy.


 Đến năm 1952, tôi được bầu là phó bí thư Tỉnh ủy. Tình hình khi ấy cực kỳ khó khăn. Tại hai tỉnh Kiến An và Hưng Yên, cơ sở và cán bộ bị bắt, bị giết khá nhiều, đến nỗi Trung ương phải chỉ thị không ngành nào được điều cán bộ ở đó đi. Để củng cố và giữ bí mật, tránh sự tàn phá của địch, Thường vụ Tỉnh ủy quyết định đổi tên cán bộ: anh Lê Chấn thành Trần Kiên, tôi là Nguyễn Trì, anh Đặng Kinh là Đặng Chiến, và anh Quốc Hiên là Đấu (Kiên - Trì - Chiến - Đấu) để biểu hiện quyết tâm của Đảng bộ Kiến An. Tiếp đó, nhằm chuyển hướng hoạt động địch hậu, Trung ương triệu tập một số cán bộ các tỉnh Kiến An, Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình, cử anh Đặng Tính - tư lệnh kiêm phó bí thư Quân khu Tả ngạn dẫn đầu, lên văn phòng Trung ương ở Tuyên Quang để họp. Tôi được cử thay mặt Thường vụ Kiến An đi họp. Phải mất gần nửa tháng mới tới nơi vì đêm đi, ngày nghỉ. Lần đó chúng tôi được gặp các đồng chí trong Bộ Chính trị khi ấy đều mới ngoài 30 tuổi, chỉ có Bác Hồ trên 50 tuổi. Một trong những việc quan trọng trong chuyến công tác đó là nhận bản dự thảo chuyển hướng hoạt động ở vùng địch hậu để đóng góp ý kiến. Hằng ngày, chúng tôi liên tục phản ánh ý kiến cho các đồng chí lãnh đạo Trung ương. Sau mỗi buổi làm việc, các đồng chí ấy cùng ăn cơm với chúng tôi. Tôi nhớ ngay buổi đầu tiên, sau khi ăn cơm xong, Bác Hồ yêu cầu các chú ở vùng địch hậu kể chuyện thực tế, ai kể sẽ được thưởng một điếu thuốc. Anh Đặng Tính nhanh nhảu thò tay rút ngay một điếu thuốc Philips của Bác rồi xin kể. Bác nắm lấy tay anh ấy, yêu cầu trả lại và phải thực hiện theo nguyên tắc đã được đặt ra. Thế là mọi người lần lượt kể về hoàn cảnh, tình hình ở địa phương mình và đều được Bác tặng thuốc lá.


Thông thường, sau bữa trưa, chúng tôi được tráng miệng bằng loại bánh giống hình quả cứt ngựa nên gọi là bánh cứt ngựa. Đôi khi, chúng tôi thấy anh Trần Đăng Ninh dành lại bánh ấy đem về cho con. Có lần, anh Võ Nguyên Giáp đùa, thay chiếc bánh đó bằng qủa cứt ngựa thật, anh Ninh không biết cứ bỏ túi mang về, khiến mọi người được một trận cười sảng khoái. Mới thấy cách cư xử, sinh hoạt của các đồng chí lãnh đạo Trung ương khi đó chân tình như anh em ruột thịt, vui vẻ và ấm áp. Có lần, chúng tôi thống nhất đề nghị Trung ương cung cấp thêm vũ khí thì được đồng ý ngay, nhưng nói rằng vũ khí đang ở trong kho… đồn địch, cứ đến đó mà vận động mang về! Mới thoáng nghe thì tưởng đó là chuyện vui, nhưng thật ra là việc nghiêm túc và chúng tôi hiểu là phải tìm mọi cách binh vận, địch vận để có súng đạn. Chính từ quyết tâm lấy súng giặc giết giặc mà anh em trong vùng hậu địch đã có những chiến tích binh vận rất thực tế và đạt hiệu quả cao.


(còn tiếp)


Nguồn: Minh bạch. Tự truyện của Nguyễn Hồng Cẩn. NXB Văn học, 6-2010.


 







1 Gia đình tôi còn giữ được văn bản xác nhận về việc này.




1 Tính theo tuổi thực của tôi: sinh ngày 05-04-1926. Tuổi ghi trên lý lịch: sinh năm 1924.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cõi mê - Triệu Xuân 25.03.2020
Giấy trắng - Triệu Xuân 25.03.2020
Anh em nhà Karamazov - FYODOR Mikhailovich Dostoyevsky 16.03.2020
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 15.03.2020
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 15.03.2020
Đêm Sài Gòn không ngủ - Trầm Hương 10.03.2020
Trong cơn lốc xoáy - Trầm Hương 10.03.2020
Ông cố vấn - Hữu Mai 26.02.2020
Đẻ sách - Đỗ Quyên 15.02.2020
Hòn đất - Anh Đức 13.02.2020
xem thêm »