Có lần, khi tôi đang rảo bước về vùng địch hậu thì một người cưỡi ngựa đến gần và xuống ngựa. Thì ra đó là anh Nguyễn Chí Thanh. Anh ấy hỏi tôi phải mất mấy ngày mới đến được Kiến An. Tôi nói nếu không gặp địch càn thì mất khoảng bảy đến mười ngày, còn trường hợp bị địch phục kích sẽ phải mất đến 20 ngày, không chừng cả tháng. Sau đó, anh hỏi ý kiến tôi về Ban Địch vận thống nhất Trung ương, hỏi anh Trần Văn Quang làm chủ tịch ban ấy được không. Tôi trình bày ý kiến mình, cho rằng chủ trương, chính sách binh vận của Đảng có sự đổi mới rất tốt, nhưng xây dựng một hệ thống nhân mối trong các bốt địch theo điều lệ chặt chẽ như đã đề ra thì khó thực hiện và dễ thất bại. Anh Thanh suy nghĩ, gật gật đầu:
- Cậu nói có lý! Đúng là phải điều chỉnh lại!
Anh Thanh và tôi chia tay nhau rất thân tình.
Tôi từng là chủ tịch Ban Địch vận thống nhất Kiến An. Chúng tôi đã có những thành tích lấy súng địch nổi tiếng ở bốt Trung Lăng, huyện Tiên Lãng, vận động đội quân commandor Hai Nhàn ra đầu hàng, nhập vào đội ngũ vũ trang của ta. Quân commandor là một mô hình thí điểm của Pháp, lập ra nhằm tàn phá cơ sở hậu địch của ta. Lúc đó tôi mới khoảng 25 tuổi nhưng đã được giao đủ mọi việc: từ phó bí thư tỉnh ủy, chính trị viên tỉnh đội, kiêm cả công tác Đảng vụ, tổ chức, đến thanh kiểm tra quân dân chính đảng. Nay nhìn lại cuộc đời vào sinh ra tử, qua trên năm chục trận quần nhau với giặc, ngày nóng nực nằm hầm, đêm chiến đấu trong rét buốt mà vẫn vượt qua được mới thấy thật lạ lùng. Có lẽ điều quan trọng là lúc đó không riêng tôi, mà tất cả anh em đều sẵn sàng hy sinh, không hề cân nhắc, đắn đo giữa sự sống và cái chết, không màng danh lợi, cốt sao góp phần đưa cuộc kháng chiến tới thành công.
Một lần, trong chiến dịch Meduse (Con sứa), mũi chủ lực của địch xuất phát từ khu quân sự Ninh Giang càn tới văn phòng của tỉnh đội ở một thôn gần cống Chúc, huyện Vĩnh Bảo. Theo kế hoạch, tôi xuống hầm bí mật để chờ địch càn qua. Khi tôi đến gần hầm thì gặp anh Cương được Quân khu Tả ngạn điều động về làm tỉnh đội phó, đang tìm tôi để nhận công tác. Thế là chúng tôi cùng nhảy xuống hầm của tôi. Ngay đêm hôm đó, tiếng súng nổ phía trên mặt đất ầm ầm. Lo ngày mai giặc sẽ cuốc lật hầm, mà hầm chỉ chứa được một người nên rất thiếu không khí. Tôi bàn với anh Cương đội hầm lên, nhưng anh ấy lúng túng vì chưa quen. Tôi nói:
- Tôi sẽ vọt lên trước, lia một băng tiểu liên bịt ổ súng địch. Anh nhảy theo sau, lao ra cánh đồng gần đó rồi bơi qua sông, sang huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.
Tôi nâng cửa hầm lên, thấy trăng sáng vằng vặc, nhìn rõ ba thằng Tây đen cùng một khẩu trung liên chỉ cách hầm chừng chục thước. Tôi nhẹ nhàng bò lên, phát hiện chúng đang ngủ nên cứ lặng lẽ bò ra bờ ruộng. Anh Cương ra khỏi hầm nhưng không may bị vấp, để cửa hầm sập xuống, gây tiếng động lớn. Súng địch đồng loạt nổ. Dù chạy ra được cánh đồng nhưng chúng tôi không sang sông được, đành phải quay lại. Vừa tảng sáng, giặc tràn ra ruộng, dùng loa kêu gọi chúng tôi đầu hàng vì trốn đâu cũng không thoát. Anh Cương bị phát hiện, giặc bắt được và tra tấn ngay tại chỗ. Tận dụng lúa con gái đang rất tốt, tôi gan lỳ nằm một chỗ vì biết nhược điểm của quân giặc càn là chỉ nhìn tầm xa, tầm gần ít để ý. Tôi phải nằm ngửa, cố gắng ép cơ thể sâu xuống bùn, chỉ để hở đôi mắt để quan sát. Kinh nghiệm những lần giặc càn cho tôi biết rằng một khi phát hiện có Việt Minh ở đâu, chúng đóng quân ngay tại đó để đón lõng cả ngày, thậm chí hai, ba ngày liền. Đúng như dự đoán, cả ngày hôm đó và sang đến hôm sau, tôi phải nằm bất động, chỉ tranh thủ lúc giặc không để ý, thò tay bắt con ốc, con cua hay châu chấu cho vào miệng ăn rất ngon lành để không bị đói lả. Ý định bò ra bờ sông không thực hiện được vì ban đêm giặc canh gác nhiều tuyến nghiêm ngặt, chiếu đèn pha loang loáng mặt sông. Có lúc tôi tính nước mạo hiểm, quay trở lại hầm bí mật dự bị, nhưng lại sợ ai đó khai ra thì giặc đào hầm bắt mình dễ như chơi. Đến tậm đêm thứ ba, tranh thủ lúc địch lơi lỏng, tôi bò ra bờ sông và bơi qua sông, sang được Tứ Kỳ. Thế nhưng Tứ Kỳ cũng nằm trong tầm càn quét của chiến dịch Meduse. Chưa biết đi đâu thì tôi thấy một cái hầm có dấu vết vừa có người ở đó nên chui vào. Đang suy tính thì nghe tiếng mở nắp hầm, tôi nín thở, ép người lại. Té ra đó là anh Đặng Toàn, tỉnh ủy viên, cũng đang tránh giặc. Chúng tôi mừng quá nhưng không dám nói năng gì, sợ giặc phát hiện. Lúc sau, địch đem cả chó Berger đến. Chó ngửi thấy hơi, sủa quá, song chúng tôi đã có kinh nghiệm cứ kiên nhẫn nằm bất động và mở hộp dầu cù là cho mất hơi người. Quả nhiên, một lúc sau địch bỏ đi. Hai anh em hú vía. Chờ đến tối, chúng tôi tìm sang huyện Thanh Hà, cũng thuộc tỉnh Hải Dương. Đó là một trong những kỷ niệm khó quên của tôi trong thời gian làm công tác hậu địch. Viết đến đây, tôi chợt nhớ tới anh Đặng Toàn. Tôi mới được tin anh đã qua đời ở tuổi 83. Cuộc đời anh Toàn quả là vất vả, cho dù là con nhà giàu, đỗ diplome, về nguyên tắc sẽ được bổ nhiệm làm tri huyện. Cách mạng Tháng Tám nổ ra, được giác ngộ cách mạng, anh theo Việt Minh. Sau cách mạng Tháng Tám đã kinh qua chức vụ chủ tịch huyện, rồi lên tới chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Hải Phòng. Điều đau lòng là khi anh ấy là chủ tịch huyện, không hiểu ông cụ thân sinh ra anh có lời lẽ thế nào với du kích địa phương mà bị họ bắt, dìm xuống sông Văn Úc. Được tin, anh ấy vẫn cam chịu, nén phản ứng, giữ vững lập trường cách mạng vô sản. Trong quá trình công tác, có khi anh ấy bị chính những người con cháu gia đình hào lý nghi ngờ thành phần giai cấp, nhưng vẫn cam chịu. Khi Trung ương cần tăng cường cán bộ cho tỉnh Hậu Giang, anh sẵn sàng ra đi nhận chức phó chủ tịch tỉnh và công tác ở Hậu Giang cho đến khi nghỉ hưu. Có thể nói anh Toàn là một trong những tấm gương trung thành và yêu nước của tầng lớp trí thức thời đó.
Vào những năm 1950 – 1951, địch chủ trương bình định khu du kích của ta. Ta chủ trương phá thế mở rộng của địch, bằng cách luồn sâu vào địch hậu, tấn công chúng. Thường vụ Tỉnh ủy Kiến An quyết định cho ba đại đội chủ lực của ta tổ chức một trận phục kích liên tiếp cả ngày ở ba xã trên đường 10 thuộc huyện Tiên Lãng. Một lối đánh chưa từng có được vạch ra: ngay trong đêm hôm đó, bộ đội ta luồn vào núi Đôi thuộc huyện Kiến Thụy, một trung đội độn thổ, hai đại đội bao vây để tiêu diệt đội quân đi càn của quân chiếm đóng. Thế nhưng sau khi di chuyển trên đường 10, vào đến Kiến Thụy, điểm danh lại thấy thiếu mất ba cán bộ cấp đại đội, tức là số thương vong vượt quá dự kiến. Trong khi đó, đại đội trưởng Sĩ Đô thỉnh thoảng lại ngã xiêu vẹo vì quá sức. Tôi bàn với anh Đặng Kinh nên hủy bỏ trận đánh này. Thế nhưng anh Đặng Kinh ngần ngại vì đã có quyết định của Thường vụ. Tôi nói rằng dù đã có quyết định nhưng nếu thấy mức độ rủi ro cao, nguy hiểm lớn thì phải dừng lại để tránh thất bại. Anh Kinh nói nửa đùa, nửa thật:
- Nếu sau này quy trách nhiệm thì ai ra tòa?
- Tôi sẽ chịu trách nhiệm, nhưng với điều kiện phải nhanh chóng gọi trung đội phục kích độn thổ quay về ngay lập tức!
Suốt cả ngày hôm đó, quân ta liên tục quần nhau với địch, đánh hết trận này đến trận khác rất ác liệt trên đường 10. Địch phải dùng cả máy bay ném bom. Sáng hôm sau, bí thư Tỉnh ủy Trần Kiên lo lắng chờ nghe tiếng súng nổ ở núi Đôi, đúng lúc đang đứng ngồi không yên thì thấy tôi trở về. Tôi phải trình bày đầu đuôi mọi chuyện để anh ấy nghe và sau khi hiểu ra vấn đề, anh Kiên cho rằng quyết định hủy trận đánh đó là đúng.
Bí thư Tỉnh ủy Trần Kiên hơn tôi 17 tuổi. Lúc đó anh đã trên 40, gia đình vợ con đầy đủ cả. Đó là một con người kiên cường, tài trí, dũng cảm, nhưng không phải không có nhược điểm, rõ nhất là hẹp hòi, định kiến. Anh ấy có cảm tình riêng với một cô thư ký, bị một số cán bộ xì xào, định làm to chuyện. Tôi cho rằng chuyện không có gì lớn, không thể vì chuyện đó mà bỏ qua năng lực và thành tích của một cán bộ địch hậu kiên cường như anh ấy và chúng tôi vẫn đề nghị Khu ủy khen. Sau đó, anh Trần Kiên càng tỏ ra kiên cường và luôn sát cánh cùng anh em chiến đấu đến cùng.
Tôi còn nhớ trận đánh bốt Áng Ngoại ở huyện Vĩnh Bảo, thuộc khu quân sự Ninh Giang của địch. Bốt này là một tổ chức tề phản động theo đạo Thiên chúa giáo, do những tên gian ác khét tiếng cầm đầu, được trang bị đầy đủ vũ khí tối tân. Hàng ngày chúng đi càn quét, tàn phá cơ sở kháng chiến của ta. Ta đã định tiêu diệt nhưng chưa thực hiện được. Tôi và anh Quốc Hiệu - chủ nhiệm chính trị Tỉnh đội - được lệnh phải diệt cho được bốt này. Sau nhiều ngày trinh sát, chúng tôi đề nghị anh Trần Kiên cho ba tạ bộc phá trong số năm tạ anh Kiên trực tiếp quản (theo quy định thì chỉ bí thư mới được quản). Anh Kiên chỉ cấp một tạ. Chúng tôi chia bộc phá thành hai quả, một quả để phá hàng rào, một quả để phá tường đá che chắn nhà thờ - nơi trú ngụ của tổ chức phản động này. Như dự tính, quả thứ nhất đã mở được đột phá khẩu, nhưng quả thứ hai chỉ làm bay có một nửa bức tường. Bọn phản động lợi dụng tình trạng đó quay lại chống trả ác liệt. Chúng tôi phải báo về cho bí thư Trần Kiên để xin thêm nốt hai tạ bộc phá để quyết diệt cho xong cái bốt đó trong đêm sau. Không ngờ, địch phản công bằng đại bác từ khu Ninh Giang, tập kích thêm bằng pháo từ Thái Bình, cho cả hai chục chiếc máy bay B26 bắn phá, thả bom xung quanh nhà thờ suốt ngày hôm đó đến tận hôm sau. Bọn phản động hý hửng vừa bắn, vừa hò hét, chửi bới thậm tệ. Chúng cứ réo tên các lãnh tụ của ta ra chửi và thách đố. Chúng tôi buộc phải áp sát vào hông nhà thờ để tránh pháo và bom. Lúc đầu, anh Kiên có ngần ngừ, nhưng sau khi cân nhắc giữa chiến thắng và thất bại đã nhanh chóng quyết định thỏa mãn yêu cầu của chúng tôi. Ngay đêm hôm đó, chúng tôi rà soát lại lực lượng, nhận được báo cáo có một người bị thương nặng, chỉ còn thở phều phào, sợ chuyển đi cũng chết trên đường. Tôi ra lệnh còn thở thì còn phải cứu, vì đó là nguyên tắc. Mấy tháng sau, tôi gặp lại người thương binh ấy. Anh ta cảm ơn tôi và nói khi sức khỏe hồi phục sẽ lại tham gia chiến đấu. Tận đến đêm thứ ba, bộc phá bổ sung mới đến. Lượng bộc phá đủ mạnh để đánh đổ hết bức tường đá. Chúng tôi nhanh chóng tiến vào nhà thờ, bọn phản động chạy thục mạng. Bót Áng Ngoại bị nhổ, khu du kích được mở rộng, nhân dân trong vùng hả hê, vô cùng cảm ơn bộ đội cụ Hồ.
***
Sau Cách mạng Tháng Tám, vợ tương lai của tôi là Trần Thị Kim Đĩnh bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng, lấy bí danh là Nguyễn Thị Việt, phụ trách thiếu nhi thuộc Tỉnh đoàn Hải Kiến, sau thuộc Tỉnh đoàn Kiến An. Đến lúc chiến tranh lan rộng, người yêu tôi cùng gia đình tản cư về huyện Vĩnh Bảo, sau đó xin tiếp tục theo kháng chiến. Chúng tôi đã yêu nhau từ lâu, muốn có dịp cùng hoạt động bên nhau dù hai gia đình có vẻ chưa thuận. Lý do khá đơn giản: gia đình tôi ngại rằng bên nhà cô ấy tuy không giàu có nhưng cô ấy được chăm sóc cẩn thận, đi học luôn có xe tay của nhà đưa rước, lại kém tôi năm tuổi, nếu lấy nhau sau này không biết làm gì, liệu có chịu nổi gian khổ không. Gia đình cô ấy lại lo lấy tôi là người cứ đi hoạt động suốt, xông pha trận mạc như vậy thì biết tương lai sẽ ra sao. Thế nhưng chúng tôi vẫn yêu nhau và cố gắng vượt qua tất cả để đến với nhau. Đầu năm 1947, khi còn Liên tỉnh ủy Hải Kiến, các anh Lê Quốc Thân, Vũ Quốc Uy, Mai Con và chị Thu - vợ anh Thân - rất quan tâm đến tình yêu của các cặp thanh niên nên chủ trương tổ chức một đám cưới tập thể gồm sáu cặp là Cẩn - Việt, Thắng - Giác, Phụng - Duyên, Thành - Hòa, Thắng - Lâm, Phương - Giá. Đây được xem là đám cưới đổi mới tập thể đầu tiên do Tỉnh ủy đứng ra tổ chức. Có hai buổi ra mắt cô dâu, chú rể. Cuộc gặp mặt giữa các bên thuộc họ nhà trai và họ nhà gái diễn ra khá sôi động, vui vẻ, phong phú, nhưng gia đình tôi không có ai. Lê Quốc Thân và Vũ Quốc Uy đã đến gia đình vợ tôi xin phép cưới hỏi nên các anh ấy được xem là đại diện nhà trai. Trong buổi ra mắt thứ hai của đám cưới có sự tham dự của khoảng 200 cán bộ, cả nam lẫn nữ. Đây là biểu hiện của sự quan tâm của Đảng, của Mặt trận Việt Minh. Trong đám cưới còn nảy ra một cuộc tranh luận sôi nổi do anh Mai Con khởi xướng xoay quanh câu hỏi là kháng chiến còn trường kỳ, gian khổ, sống chết chưa biết ra sao, vậy có được mở “mặt trận thứ hai”, tức là lấy vợ hai không? Trong khi phía nữ khẳng định bất kể trường hợp nào cũng không được mở “mặt trận thứ hai”, vì như vậy là không tôn trọng tình cảm vợ chồng, phản bội tình yêu chung thủy của vợ thì ý kiến từ phía nam là nên để… hạ hồi phân giải! Trong thời gian kháng chiến về sau, cũng có anh đã mở “mặt trận thứ hai” không chính đáng, kết cục là nhận lấy thất bại và mang tai tiếng. Mãi đến năm tôi 72 tuổi, khi về Hà Nội, tôi mới có dịp mời được anh Lê Quốc Thân, chị Thu, chị Lê năm xưa cùng các cặp Phụng - Duyên, Thắng - Lâm, Thành - Hòa hội ngộ. Tiếc là vài cặp khác như Thắng - Giác, Phương - Giá không về dự được (anh Phương bị địch bắt và đã hy sinh). Chúng tôi đã ôn lại nhiều kỷ niệm vô cùng cảm động trong ngày sum họp may mắn đó.
Ba năm 1949 -1951, tình hình ở địch hậu rất căng thẳng. Vợ tôi ở khu căn cứ Yên Tử và Bắc Giang, bị mất liên lạc với tôi nên sốt ruột, xin được về công tác ở địch hậu tìm tôi. Anh Hoàng Mâu - phó bí thư và anh Thắng Lầm - thường vụ Thành ủy Hải Phòng đã giúp bố trí cho vợ tôi về Hải Phòng cùng một số anh em khác bằng đường qua Quảng Ninh, Cát Bà theo đường dây của Thành ủy Hải Phòng. Nhưng vợ tôi sốt ruột, xin đi sớm theo đường giao liên của Quân khu Tả ngạn. Khi nhóm cán bộ đi đến bốt Phạm Xá thì bốn người vấp mìn bị chết tại chỗ, riêng vợ tôi bị gãy xương đùi, bị lính ở bốt Phạm Xá khênh về bốt. Đến sáng, mấy người vợ lính thông cảm, giúp vợ tôi tắm giặt rồi cho tiền, hôm sau đưa lên tàu hỏa về Hà Nội, vào nhà thương Đồn Thủy chữa trị. Vào tới phòng chờ, một người đàn ông đứng tuổi đến hỏi:
- Cháu có mang theo tiền không, đưa bác giữ dùm kẻo Tây đen, Tây trắng, Tây vàng nó lấy hết.
Sau đó vợ tôi được chuyển vào khoa chuyên chữa trị cho quân đội đối phương. Chưa kịp nằm ấm chỗ, vợ tôi đã được vài chị em lui tới dặn dò kinh nghiệm. Do bị gãy vụn bốn phân xương đùi, vợ tôi phải nằm viện tám tháng, may mà được tổ chức tù nhân trong viện giúp đỡ, săn sóc nên cũng đỡ vất vả. Số tiền nhờ người bác không quen giữ giùm cũng được trả lại đầy đủ. Những người bạn trong cơn hoạn nạn đã bao bọc vợ tôi chu đáo. Họ còn đặt thơ tặng:
Sóng sánh như bát nước chè
Xinh thì xinh thật nhưng què một chân!
Sau tám tháng chữa chạy, vợ tôi được chuyển về căng Máy Chai, Phòng Nhì của địch ở Hải Phòng. Vừa đến nơi, có một anh từng là tù nhân, sau được địch sử dụng, ra chào hỏi:
- Chào vợ ông chính ủy Trần Minh! Tôi đã chờ đợi chị mấy tháng nay!
Hằng ngày, chúng hỏi cung vợ tôi, nhưng vợ tôi không nhận, chỉ khai có chồng là Nguyễn Hữu Cung đã mất liên lạc ba năm. Không lấy được tin tức gì từ vợ tôi, tên lấy cung điên lên tát tai, dọa nạt. Chúng điều tra ra gốc tích nhà cửa ở Kiến An, nhưng kết quả chỉ có thế. Một hôm bốn thằng Tây đen, Tây trắng chở vợ tôi về tận nhà. Đến cửa, chúng hỏi nhà này có ai tên Việt không. Cả ông và mẹ tôi đều ngơ ngác, không hiểu sự tình ra sao. Chúng thả vợ tôi, ra lệnh hàng tuần phải lên Phòng Nhì trình diện một lần. Sau đó, bà con hàng xóm láng giềng mới chạy sang thăm hỏi. Riêng Nguyễn Hữu Thắng, đứa con đầu lòng của chúng tôi không nhận ra mẹ, cứ gọi mẹ bằng cô!
Tôi được tin từ Tiên Lãng báo cho biết chuyện nhà, nhưng đang dự đợt chỉnh huấn ở Thanh Hóa chuẩn bị chiến dịch Điện Biên Phủ, không về được. Tôi nhờ anh Thế - người thân cận bảo vệ tôi, đã cùng tôi nhiều lần vào sinh ra tử có nhau, về quê đưa vợ tôi vào Thanh Hóa. Vợ tôi vẫn đau chân nên phải cáng trên đường. May mắn là cuộc hành trình cũng suôn sẻ, nhờ sự giúp đỡ của dân, không gặp hiểm nguy gì. Trước khi ra đi, vợ tôi thưa chuyện với ông nội tôi và cùng cả nhà bàn cách đối phó với việc trình diện hàng tuần tại Phòng Nhì. Cả gia đình khuyên vợ tôi cẩn thận để không bị địch bắt lần thứ hai và còn trách tại sao không báo trước để nhà chuẩn bị cho ít tiền đem đi.
Một tháng sau đó, tôi nhờ anh Thế lên Tuyên Quang đón con trai thứ hai Nguyễn Hữu Trường về với mẹ cháu. Trường sống trong khu vực đang tiến hành cải cách ruộng đất. Lúc đó, cháu đã gần năm tuổi nhưng gầy gò, đầu to, thiếu dinh dưỡng. Khi được mẹ bế, cháu cứ hất ra, không nhận, kêu mẹ là địa chủ chỉ vì vợ tôi… mặc áo trắng!
Khi địch càn lên đèo Vôi (Yên Tử), vợ tôi tạm lánh vào một trường học là tổ chức cơ sở của ta, rồi chạy vào rừng. Đến lúc vợ tôi đau đẻ, không đi đâu được, phải sinh cháu trong rừng giữa lúc mưa tầm tã, xung quanh đầy vắt. Cháu thứ hai được đặt tên là Trường. Sau đó, vì không có điều kiện nuôi con, vợ tôi đành phải gửi cháu cho cô em ruột nuôi hộ. Những năm đó diễn ra cải cách ruộng đất ở Tuyên Quang, cháu còn nhỏ nhưng chứng kiến hàng ngày, cứ thấy ai mặc áo trắng, ở nhà gạch, cơm ăn có cá, có thịt là hét lên, kêu là địa chủ tuốt! Phải mất mấy tháng uốn nắn cháu mới bỏ được suy nghĩ lạ lùng đó.
Do cách xử sự của Pháp đối với vợ tôi lúc trong tù, không bị giam cầm, không bị ăn cơm tù mà được công bố “ăn theo tiêu chuẩn của ông Trần Minh” nên sau này còn có nhiều chuyện rắc rối. Có người tố cáo rằng vợ tôi làm đánh máy cho Phòng Nhì, có bố trốn đi Nam nên vợ tôi bị rút lại thẻ thương binh, cho ra khỏi Đảng. Phải chục năm sau bố vợ tôi mới được công nhận là liệt sĩ, rồi phải qua điều tra vất vả lắm, thấy đúng là vợ tôi không biết đánh máy, thì vợ tôi mới được trả lại thẻ thương binh. Về chuyện Đảng, vì sau này già yếu rồi nên vợ tôi cũng không muốn khiếu nại làm gì.
Tình cờ, một lần về Hà Nội, vợ tôi gặp một người đã hỏi cung mình ở Phòng Nhì Hải Phòng. Mặc dù bà không nhắc đến chuyện cũ, nhưng người ấy biết và nói rằng bà bị tố cáo chẳng qua là do mâu thuẫn, tranh giành quyền lực, một phần chịu áp đặt (cái bẫy) của địch, nhưng chủ yếu cũng vì cuộc sống hèn kém mà ra như vậy. Nghĩ lại thật đáng xấu hổ. Nay mọi việc đã rõ, ai cũng già yếu rồi nên xin bỏ qua chuyện cũ.
Trái với nhận xét ban đầu của nhiều người bên nội là vợ tôi vốn được chiều chuộng từ bé thì không biết quán xuyến việc nhà, lo thờ cúng tổ tiên; trên thực tế, bà là một người phụ nữ đức hạnh, toàn tâm toàn ý vì chồng con, không nề hà bất kỳ gian khó, khổ cực nào. Sau này, mọi người bên nhà chồng cũng hết lời ca ngợi vợ tôi là người biết quan tâm đến đại gia đình, đối xử rất tốt với bố mẹ chồng và họ hàng bên chồng. Vì vậy, bà được đánh giá là nàng dâu đức hạnh, biết lo lắng thờ cúng tổ tiên, chăm sóc gia đình, chồng con, cháu chắt rất chu đáo, lại có tài nấu nướng, thêu thùa, may vá rất giỏi, xứng đáng là con dâu gương mẫu của dòng họ nhà tôi. Hòa bình lập lại, vợ tôi tiếp tục tham gia nhiều công tác chuyên môn và xã hội, vững vàng tay nghề kế toán, nhiều năm làm kế toán trưởng, làm thư ký Công đoàn và luôn có tín nhiệm cao. Một lần, tôi gặp anh Đoàn Duy Thành (nguyên phó thủ tướng), anh ấy hỏi tôi:
- Bà Việt đâu rồi?
Chưa hiểu anh ấy có ý gì thì anh ấy nói tiếp:
- Tôi được nghe một vị phó ban Tổ chức Trung ương nói rằng “Chính mắt tôi thấy ông Hồng Cẩn sống trong một căn villa sang trọng ở Sài Gòn với bà vợ hai”!
Tôi cảm ơn anh Thành đã hỏi thăm vợ tôi và trả lời:
- Nhờ Trời, vợ tôi vẫn khỏe. Chúng tôi sống hạnh phúc cùng con cháu. Con người ta ai cũng có lúc bông đùa, nhưng tôi thầm nghĩ ông cán bộ tổ chức nào đó mà nói ra như vậy để thiên hạ hiểu lầm nhau thì kiểu bông đùa ấy ác tâm ác đức quá! Có những kẻ tìm mọi cách để ngăn cản tôi không để tôi thăng tiến nữa. Đó thực là hạng phi nhân cách, dối trá, vu cáo, hèn kém. Chẳng lẽ họ cứ mãi quen thói bịa đặt, đổi trắng thay đen để lập công, mua danh mua chức, hại người lợi mình mãi sao? Để xem họ tồn tại đến bao giờ.
(còn tiếp)
Nguồn: Minh bạch. Tự truyện của Nguyễn Hồng Cẩn. NXB Văn học, 6-2010. |