Đối với tôi, may mắn nhất trong đời là đã có được người vợ tuyệt vời như vậy. Đó thật sự là một người vợ lý tưởng, bởi chính bà là người đã bao lần động viên, giúp đỡ tôi vượt qua nhiều khó khăn trong suốt bước đường đời. Tôi thương yêu, cảm phục vợ tôi không chỉ vì nhan sắc, mà còn vì đức hạnh tuyệt vời của một người phụ nữ. Chỉ tiếc cuộc đời bà không được hưởng bao nhiêu hạnh phúc của tuổi thanh xuân. Lấy chồng từ năm 16 tuổi, có con sớm, từ năm 17 tuổi, cả đời bà phải một mình lo toan mọi công việc gia đình, kể cả sau này, khi cuộc sống đã bớt cực nhọc hơn, vì chồng luôn bận công việc, thường xuyên đi công tác xa nhà. Khi tuổi chúng tôi đã cao, con cái trong nhà dù đã có gia đình đầy đủ nhưng đứa nào gặp khó là bà lại ra tay quán xuyến, giúp đỡ, lo cho con, cho cháu từng miếng ăn, từng lần nhập viện. Điều không may khác của bà là không chỉ vấp mìn giặc bị trọng thương, mà sức khỏe của bà cũng không được tốt. Bà đã trải qua năm, sáu lần trung, đại phẫu nhưng vẫn nhiệt tình tham gia công tác tại các doanh nghiệp nhà nước và luôn giữ được uy tín cao cho đến lúc nghỉ hưu. Năm 2009, khi đã 80 tuổi, bà lâm phải một căn bệnh ác tính, khiến cả gia đình tôi buồn lo tìm thầy thuốc thang. Thế nhưng bà vẫn bình tĩnh chịu đựng và nói với tôi:
- Tôi biết bệnh của mình chứ, ông làm gì mà cứ lo cuống cả lên thế?
Nằm trong bệnh viện mà bà vẫn lo đến con cái, cháu chắt. Có lúc, trên giường bệnh, bà tâm sự với tôi:
- Sinh lão bệnh tử là luật của trời đất. Nếu tôi ra đi thì cũng là số phận. Tôi chỉ lo ông còn lại khổ thôi!
Cả gia đình tôi tâm nguyện còn nước còn tát, hy vọng vợ tôi sống dài được bao nhiêu thời gian hay bấy nhiêu. Vợ tôi theo đạo Phật, có pháp danh là Tâm Đức. Bà lắng nghe nhất là một ông thầy chùa và một ông thầy thuốc. Tôi nhờ hai người thầy ấy động viên vợ tôi để bà phấn chấn tinh thần mà nhẹ bớt bệnh. Bác sĩ cũng khẳng định rằng nếu tinh thần người bệnh phấn chấn, lạc quan thì bệnh tật sẽ bị đẩy lùi. Tôi hoàn toàn tin như vậy.
***
Trong các năm 1951 – 1952, chủ trương của Quân khu Tả ngạn là mở rộng khu căn cứ du kích, thành lập một trung đoàn chủ lực mới, cùng Trung đoàn 42 trở thành lực lượng chính quy mạnh cho Quân khu Tả ngạn. Tôi được cử đi xây dựng trung đoàn mới.
Năm 1952, tôi được bầu làm phó bí thư Tỉnh ủy Kiến An, sau đó được Khu ủy Tả ngạn điều lên xây dựng Trung đoàn 50 - trung đoàn mới, chủ lực của Quân khu Tả ngạn sông Hồng. Trung đoàn 50 có nhiệm vụ vừa xây dựng, vừa tác chiến, ngăn chặn các cuộc càn quét của các binh đoàn chủ lực địch, nhổ các đồn bốt, mở rộng khu du kích, không cho giặc thực hiện ý đồ xây dựng các tiểu đoàn khinh quân tại Nam Định nhằm thu hẹp vùng căn cứ của ta.
Lực lượng của Trung đoàn 50 gồm Tiểu đoàn 648 của Trung đoàn 42 làm chủ công, gọi là D1 Giang Đông, lấy thêm Tiểu đoàn 606 từ Thái Bình gọi là D Giang Bắc, dùng hai đại đội mạnh 61 và 25 của Kiến An cùng quân số từ vài tỉnh khác bổ sung thành tiểu đoàn, gọi là D Giang Tây. Anh Nguyễn Tiếp, trung đoàn phó Trung đoàn 42 được điều về làm trung đoàn trưởng. Anh Hùng Lân, nguyên là phó bí thư Kiến An, phó chính ủy Trung đoàn 42 làm chính ủy Trung đoàn 50, còn tôi là phó chính ủy. Ban đầu, chỉ có tôi và một số cán bộ đi tập hợp quân số nên có lúc tôi kiêm cả trung đoàn trưởng. Tuy gọi là trung đoàn mới nhưng các tiểu đoàn và đại đội đều có nhiều cựu binh sừng sỏ, đầy thành tích và cũng nhiều thương tích vì đã quần nhau với giặc nhiều năm ở vùng địch hậu. Vì vậy, chỉ sau một tháng, chúng tôi đã có trận mở đầu thành công rồi liên tục thắng lợi trong các năm 1953 – 1954. Những chiến thắng điển hình nhất là trận phục kích địch trên đường 39 – Duyên Hà – Tiền Hải, trận phục kích đường 10 – Đông Hưng (Thái Bình) – Vĩnh Bảo (Hải Phòng), nhổ một loạt bốt ở Quỳnh Lang, Quỳnh Côi, Cầu Nghìn, Cầu Sộp, Cầu Nguyên (Thái Bình) và Hội An (huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng), trận tập kích bộ chỉ huy chiến dịch của địch đóng ở thị xã Thái Bình, trận tập kích tiêu diệt tiểu đoàn Lê dương Tây đen đóng ở Dưỡng Thông (Kiến Xương, Thái Bình), trận tập kích diệt tiểu đoàn khinh quân ở Nam Định… làm cho quân giặc rất bất ngờ và sợ hãi. Nhiệm vụ trọng tâm của trung đoàn khi đó là tiêu hao sinh lực các binh đoàn chủ lực của địch trước khi chúng tập trung mở tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Tuy nhiên, trong những cuộc càn quét lớn của địch, nếu không thông minh đối phó thì có khi lực lượng vẫn bị tổn hao mạnh. Hằng ngày, chúng tôi phải phân tán để tránh các cuộc lùng sục của giặc, có khi phải cải trang cả tiểu đội, thậm chí cả trung đội thành dân thường như đèn kéo quân, đến đêm mới tập hợp lại để bám thắt lưng địch. Có lần, sau hai đêm theo dõi một tiểu đoàn Lê dương đóng ở thôn Dưỡng Thông, đến đêm thứ ba, tôi trực tiếp cùng anh Truy - tiểu đoàn trưởng D Giang Tây - chỉ huy anh em đúng 12 giờ đêm đồng loạt tập kích. Giặc quá bất ngờ và bị tiêu diệt hoàn toàn. Ngay sau đó ta rút quân. Sáng ra, địch lập tức chi viện, phản công, nhưng chúng tôi đã kịp cho bộ đội cải trang hết thành dân thường, phân tán triệt để nên không bị thiệt hại. Khi quân địch từ Nam Định hành quân sang thị xã Thái Bình để tiến hành một trận càn lớn, tôi trực tiếp chỉ huy, dùng một tiểu đoàn tăng cường chờ chúng lọt vào trận địa phục kích của ta, quân ta đồng loạt xông lên, quần với địch suốt ngày, đến đêm tập hợp lại thấy thiếu hẳn một trung đội. Đến khi tỏa đi tìm thì cuối cùng mới hay họ độn thổ, nằm hầm quá lâu, bị tê chân không xung phong lên được!
Ở Thái Bình có cái bốt nhà thờ Công giáo khét tiếng tên là bốt Quỳnh Lang:
Thái Bình có bốt Quỳnh Lang
Có lò ướp xác, có hang chôn người
Bốt này do tên phản động tên là Anvrecao khét tiếng độc ác, khoác áo thày tu chỉ huy. Chúng tôi được lệnh phải nhổ bằng được cái bốt này và bắt sống tên Anvrecao. Trước đêm tấn công bốt, cán bộ chiến sĩ được phổ biến về tội ác của bọn phản động trong bốt nên quyết tâm rất cao. Sau hai giờ, chúng tôi đã tiếp cận được bốt. Lúc đó, địch trong bốt đang say sưa đánh tổ tôm. Chúng tôi đặt bộc phá và chờ lệnh. Bất thình lình, pháo từ Ninh Giang và Thái Bình bắn về ầm ầm xung quanh bốt nhằm bảo vệ lực lượng giữ bốt. Vừa dứt tiếng pháo, chúng tôi cho bộc phá nổ tung, đột phá tràn vào. Giặc bị tiêu diệt gọn, chỉ tiếc là hôm ấy tên Anvrecao lại lên Hà Nội nên thoát được. Cách đây vài năm, một số chiến sĩ của Trung đoàn 50 xưa đã về Thái Bình cùng Tỉnh đội Thái Bình xây năm tấm bia kỷ niệm những chiến công chống Pháp hiển hách thời đó. Bia ghi nhận nhiều chiến công lẫy lừng như trận đánh trên và hai trận phục kích trên đường 39 ở huyện Tiên Duyên và huyện Tiền Hải, trận tập kích bộ chỉ huy chiến dịch thị xã Thái Bình, trận diệt tiểu đoàn Lê dương, trận đánh bốt Quỳnh Lang…
Do cần bổ sung lực lượng pháo binh cho chiến dịch Điện Biên Phủ, Bộ Tổng Tư lệnh đã điều phần lớn lực lượng của Trung đoàn 50 vào binh chủng pháo, phần còn lại được củng cố, xây dựng thành Trung đoàn 50 pháo bờ biển. Tôi làm chính ủy, bắt tay vào xây dựng trung đoàn này. Sau đó, tôi được biệt phái làm chuyên viên quân sự cho Ban Chỉ huy tiếp quản 300 ngày Quảng Ninh – Hải Phòng do anh Đỗ Mười lãnh đạo. Việc tiếp quản xuất phát từ Đông Triều và Uông Bí. Tôi được cử đi trước quan sát trên xe mô tô ba bánh. Khi đi đến ngã ba Bãi Cháy – Quảng Yên – Đông Triều, người lái xe không thuộc đường, rẽ phải về Quảng Yên được một đoạn thì tôi phát hiện ra phía trước, chỉ cách khoảng 100 mét là một lũ lính Tây trắng, Tây đen ô hợp. Tôi lập tức lệnh cho xe quay trở lại vì trên xe cắm lá cờ đỏ sao vàng, gặp bọn Tây đó chắc chắn sẽ rất nguy hiểm, mà trên xe còn có nhiều bản đồ.
Trong cuộc tiếp quản, anh Đỗ Mười luôn đi sát quân tiên phong để chỉ huy, anh Lê Văn Lương đi tuyến sau chỉ đạo. Anh Đỗ Mười là người rất nghiêm túc trong báo cáo với cấp trên. Khi tiếp quản tới Bãi Cháy, nếu có tình hình phức tạp, khó khăn là anh cử tôi về báo cáo với anh Lê Văn Lương. Có lần, tôi về Uông Bí để báo cáo, nhưng người cán bộ bảo vệ sức khỏe nhất định không cho vào làm việc với anh Lương. Tôi phải thuyết phục mãi mới được vào báo cáo, sau đó nhận ý kiến của anh Lương về trình bày lại cho anh Mười.
Sau khi tiếp quản, tôi được cử đi học cao cấp quân sự hiện đại và chính quy, cao cấp chính trị, rồi trở về làm tham mưu phó Quân khu Tả ngạn, có lúc kiêm cả trưởng ban Quân lực - Quân huấn. Năm 1958, Thành ủy Hải Phòng xin tôi về hoặc giữ chức giám đốc Sở Văn hóa hoặc phó giám đốc Sở Công nghiệp. Tôi được cử đi học Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc trước khi về nhận nhiệm vụ tại Hải Phòng. Như vậy, tổng thời gian binh nghiệp chính quy và tham gia bộ đội địa phương của tôi là mười bốn năm, chủ yếu ở các đơn vị chiến đấu, kinh qua nhiều nhiệm vụ, chức trách như chính trị viên tỉnh đội, phó chính ủy, rồi chính ủy trung đoàn kiêm trung đoàn trưởng, tham mưu phó quân khu... nhưng không hiểu sao trong lý lịch kèm theo hồ sơ nghỉ hưu của tôi lại chỉ ghi chỉ có gần ba năm tuổi quân! Tôi có đề nghị đính chính, nhưng chẳng thấy ai làm giúp nên cũng bỏ luôn.
Trong những năm tháng ở địch hậu và tham gia bộ đội địa phương, bộ đội chính quy, có hai điều tôi cho là ấn tượng nhất, thần kỳ, cao đẹp và lừng lẫy nhất. Trước hết là tình thương yêu đồng đội, lòng yêu nước thương dân của anh bộ đội cụ Hồ, của các cán bộ, đảng viên mà không lời lẽ, hình ảnh nào diễn tả hết được. Chính nhờ phẩm chất cao đẹp ấy mà quân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã làm nên cuộc kháng chiến trường kỳ, đánh thắng giặc Pháp một cách vẻ vang. Thứ hai, giữa cấp trên và cấp dưới, giữa lãnh đạo và chiến sĩ là một mối quan hệ dân chủ, cởi mở, cao thượng, công bằng, minh bạch, không hề có sự ghen tỵ, ích kỷ, không phân biệt người từ địa phương nào, gốc gác họ hàng ra sao, luôn hết lòng vì đồng đội, chiến đấu, hy sinh vì dân, vì nước. Ai dũng cảm, dám đương đầu gánh vác nhiệm vụ nguy hiểm, nặng nề thì được giao nhiệm vụ, làm tốt thì được suy tôn, không ai phân bì ai. Nhờ thế mà chúng ta mới trường kỳ chiến đấu và chiến thắng được kẻ thù.
Hồi năm 1995 – 1996, ở Hà Nội, một số anh em cựu binh của Trung đoàn 50 có dịp gặp lại nhau, lúc mà ai cũng đã ngoài 70 tuổi. Họ thành lập Ban Liên lạc cựu binh Trung đoàn 50, cử anh Số là cựu chính trị viên D Giang Bắc, nguyên thiếu tướng, nguyên Cục trưởng Cục Cán bộ của Tổng cục Chính trị Bộ Quốc phòng, làm trưởng ban liên lạc. Lúc đầu, Ban tập hợp được chừng sáu, bảy chục cựu binh, mỗi năm tới ngày 22 tháng 12 gặp nhau một lần, có đóng góp kinh phí để chi tiêu trong những dịp gặp gỡ, đi lại thăm hỏi, động viên nhau vui sống tuổi già. Đó là cái tình, cái nghĩa quý báu nhất, đầy tính nhân văn. Tôi ở xa, trong thành phố Hồ Chí Minh nhưng thỉnh thoảng vẫn gọi điện ra hỏi thăm sức khỏe đồng đội cũ, vẫn chia sẻ cả tin vui lẫn tin buồn của anh em.
Một hôm, khi ra Hà Nội sinh hoạt với anh em cựu binh của Trung đoàn 50, thấy có người tự giới thiệu tên là Trần Thư, chuyên nghề thợ mộc và làm nước mắm, ai có nhu cầu sẵn sàng phục vụ. Anh ấy từng là chủ nhiệm chính trị Trung đoàn 50, sau được điều về làm trưởng phòng của báo Quân đội nhân dân. Đó là con người có học vấn, thạo ngoại ngữ và nhiều tài lẻ khác. Đã hơn hai chục năm mới gặp lại nhau, tôi vẫn nhớ, đến chào, khiến anh ấy phải ngạc nhiên. Sau đó, anh Thư mời tôi lại nhà anh chơi và giới thiệu một tài liệu có tên là Người tù xử lý nội bộ, nói lẽ ra viết hồi ký, nhưng vì bị ung thư bàng quang nên chỉ viết tài liệu để lại cho con cháu và bạn bè. Khi đọc xong tài liệu đó, tôi mới thấy xót thương cho thân phận oan trái, khổ đau của anh Thư: bị vào ngồi tù chín năm, gia đình tan tác mà vẫn chịu đựng được. Anh còn nói với tôi: “Họ cản ngăn tôi viết, nhưng tôi có làm gì đâu, chỉ viết lại một sự thật và nhằm mục đích gì thì tôi đã nói rõ. Họ còn khuyên tôi rằng cụ già rồi, lo nghỉ ngơi với con cháu cho khỏe. Thế nhưng không hiểu tại sao tài liệu này lại được phát tán ra nước ngoài nên bị cơ quan an ninh nhắc nhở, khuyên can”. Anh Trần Thư mất năm 2007. Có phải anh ấy bị oan, hay là do số phận giáng xuống? Nếu tập hợp tất cả các số phận oan trái, không may mắn lại để nghiên cứu nghiêm túc thì biết đâu nhiều người bị oan thật và phải minh oan cho họ. Oan sai hay may rủi cũng có quy luật của nó như là số phận con người, nhưng không phải do thánh thần tạo ra, mà do con người cả, đổ cho số phận cũng chỉ là cách tự an ủi mà thôi! Người đời khi gặp thành công thì mừng, nhưng gặp thất bại cay đắng thường thở dài, tự an ủi rằng âu cũng là do số phận. Tuy nhiên, hiểu biết về số phận giữa chúng ta có những khoảng cách khác nhau. Có người cho rằng số phận là do Trời, do thần linh quyết định, không thể thay đổi được. Thậm chí có người khẳng định với tôi là nếu không do số phận thì tại sao có anh dốt nát mà vẫn lãnh đạo được hàng triệu con người. Tôi trả lời là con người ta có số phận thật, nhưng tính cách con người quyết định số phận đó.
Tính cách con người bẩm sinh đã có, do di truyền (huyết thống) của gia đình, của dân tộc tạo ra, nhưng rồi khi trưởng thành trong điều kiện, hoàn cảnh cụ thể thì nó được rèn luyện và ngày càng nổi rõ. Bởi vậy, từ xa xưa, khi trình độ dân trí còn thấp, chưa được như ngày nay thì tổ tiên ta đã khẳng định được một bài học quan trọng là “Nhận định thắng thiên”. Tính cách đẹp là kiên định, vững vàng, thông minh, sáng tạo, biết biến nghèo thành giàu, biến bại thành thắng, biến yếu thành mạnh, thân thiện với thiên nhiên, với môi trường, không vô cảm và giả dối… Tôi nghĩ đã làm người, điều quan trọng nhất là bản thân chúng ta phải biết rèn luyện và có trách nhiệm xây dựng nhân cách, gìn giữ những giá trị tốt đẹp của con người Việt Nam đã được hình thành qua hàng ngàn năm lịch sử và bổ sung những tinh hoa chắt lọc được sau những thành bại của thời cận đại và hiện đại. Tính cách con người Việt Nam quyết định số phận của đất nước Việt Nam. Do đó, hơn bao giờ hết, trong những năm đầu của thế kỷ XXI này, chúng ta cần nghiên cứu kỹ lại tính cách của con người Việt Nam để vừa tiếp nối những giá trị tốt đẹp đã được đúc kết qua ngàn đời, vừa đổi mới để thích nghi với những thay đổi của thời đại, có vậy mới đưa nước ta thành một quốc gia hùng cường và có vị thế cao trên trường thế giới trong thời đại mới.
Được biết, gần một trăm cựu binh của E50 đã nhiều lần kiến nghị với cấp trên có hình thức khẳng định công lao của E50. Trung đoàn 50 ra đời chỉ có hơn một năm nhưng vừa xây dựng, vừa tác chiến, đã lập được nhiều chiến tích lớn, lừng danh trong chiến đấu ở địch hậu thuộc Quân khu Tả ngạn… Thiết nghĩ cấp trên, cụ thể là Bộ Quốc phòng, nên có sự khẳng định, ghi nhận công trạng của Trung đoàn 50 trong truyền thống lịch sử vẻ vang của mình và nên có ngày kỷ niệm chính thức. Nhiều người mong có một địa chỉ ổn định để hàng năm các cựu chiến binh gặp gỡ, ôn lại truyền thống vẻ vang năm xưa. Vậy mà đề nghị chính đáng ấy không thấy ai quan tâm. Đến nay chỉ còn lại hơn chục cựu chiến binh vì nhiều người đã về với tổ tiên, nhiều người không còn đủ sức khỏe để tham gia sinh hoạt nữa. Thế nhưng, vì nặng tình nghĩa, không ai đồng ý giải tán Ban liên lạc. Cuộc chiến tranh cứu nước của nhân dân ta thật anh hùng. Nhìn lại những năm tháng trường kỳ gian khổ chống Pháp mới thấy sự lãnh đạo của Đảng ta sáng suốt, luôn thích nghi, luôn vận động vì nước, vì dân. Sau này, khi hòa bình thống nhất, trong quá trình thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, nếu chúng ta biết thường xuyên sửa sai, điều chỉnh và nâng cao tầm tư duy thì thắng lợi của dân tộc Việt Nam còn vĩ đại hơn nữa và ước mơ xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, dân giàu nước mạnh chắc chắn được hiện thực hóa nhanh hơn.
(còn tiếp)
Nguồn: Minh bạch. Tự truyện của Nguyễn Hồng Cẩn. NXB Văn học, 6-2010.
www.trieuxuan.info
|