tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Tiểu thuyết
14.06.2010
Nguyễn Hồng Cẩn
Minh bạch

16 NĂM XÂY DỰNG KINH TẾ, CHỐNG CHIẾN TRANH PHÁ HOẠI VÀ CHI VIỆN CHO TIỀN TUYẾN


Sau khóa học tại Trường Nguyễn Ái Quốc, tôi rời quân ngũ, chuyển ngành về Hải Phòng. Anh Nguyễn Văn Phương -là phó chủ nhiệm Văn phòng Công nghiệp của Hội đồng Bộ trưởng- cùng tôi và một số cán bộ khác được Trung ương cử về làm nòng cốt để xây dựng Sở Công nghiệp Hải Phòng. Anh Phương là phó bí thư Thành ủy, trưởng ban Công nghiệp Thành ủy kiêm giám đốc Sở Công nghiệp. Tôi làm phó giám đốc, sau đó một thời gian làm giám đốc Sở. Cùng trong Ban Giám đốc còn có các phó giám đốc là anh Lê Văn Quýnh - cán bộ miền Nam tập kết, anh Đoàn Duy Thành và anh Đường. Khi Thành ủy quyết định tách Sở Công nghiệp ra làm hai đơn vị là Cục Công nghiệp 1 (bao gồm các nhà máy thuộc ngành công nghiệp nặng) và Cục Công nghiệp 2 (gồm các xí nghiệp công nghiệp nhẹ) thì anh Quýnh làm giám đốc Cục 1, anh Đường làm giám đốc Cục 2, anh Đoàn Duy Thành làm chủ nhiệm Liên hiệp Hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp. Tôi được bầu làm phó chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố, thường vụ Thành ủy, kiêm trưởng ban Công nghiệp, giao thông vận tải và thủy sản của Thành ủy. Sau tiếp quản, bí thư Thành ủy Hải Phòng là anh Đỗ Mười, sau đó anh Hoàng Hữu Nhân - bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh - về thay. Rồi anh Nhân được điều về Trung ương làm phó cho anh Lê Thanh Nghị. Sau anh Nhân, anh Trần Kiên làm bí thư. Tôi tiếp tục làm kinh tế ở Hải Phòng liên tục 16 năm. Năm 1974, tôi chuyển lên Trung ương, làm vụ trưởng Vụ Kế hoạch của Tổng cục Thủy sản, sau đó giữ cương vị Phó Tổng cục trưởng.


Vào năm 1972, Chính phủ đồng ý cho Hải Phòng tổ chức một đoàn cán bộ đi tham quan, nghiên cứu xây dựng phát triển kinh tế của Trung Quốc. Tôi được cử là trưởng đoàn và đề nghị anh Đặng Toàn làm phó đoàn để khi cần thì anh ấy thay thế, vì khi đó tôi cảm thấy sức khỏe không được tốt. Đoàn có đủ đại diện của Thành ủy, Ủy ban Nhân dân và các ngành công nghiệp, thương nghiệp, sang Trung Quốc bằng tàu hỏa. Vừa tới Bắc Kinh, ngay buổi tối, phía bạn tổ chức chiêu đãi và thống nhất chương trình tham quan. Thật không may là anh Đặng Toàn bị sốt cao, bác sĩ khám phát hiện có 70cc máu bị ứ đọng ở não, phải mổ ngay, yêu cầu tôi ký giấy cam đoan để mổ. Có ý kiến khuyên là đề nghị xin mổ tại Bệnh viện Bắc Kinh, không vào bệnh viện “chống xét lại” và được phía bạn đồng ý. Sau ba tháng chữa chạy anh Toàn mới khỏi bệnh và về nước, nhưng bị nghi ngờ “Mao ít đã mua chuộc”! Khi chúng tôi đang tham quan một khu gang thép cách Bắc Kinh khoảng 120 cây số thì có xe của bạn đến yêu cầu chúng tôi quay về Bắc Kinh gấp vì chủ tịch Lý Tiên Niệm đã chuẩn bị tiếp đoàn. Tối hôm đó, chủ tịch Lý Tiên Niệm mời cơm thân mật và giải thích lý do Nixon vào Thượng Hải. Sau khi trở về Việt Nam, một hôm, nhân dịp Ban Bí thư Trung ương Đảng làm việc tại Đồ Sơn, anh Lê Thanh Nghị yêu cầu tôi ra Đồ Sơn báo cáo chuyến tham quan Trung Quốc với Tổng Bí thư Lê Duẩn. Tôi đã báo cáo những điều tai nghe mắt thấy. Tôi phân tích và đánh giá về chiến lược của Trung Quốc trong việc tập trung xây dựng, phát triển kinh tế xã hội ở các thành phố lớn ven biển như Thiên Tân, Quảng Châu, Thượng Hải... Tổng Bí thư và các đồng chí cùng đi lắng nghe, thậm chí còn hỏi thêm khá cặn kẽ. Báo cáo xong, tôi kể thêm rằng khi ở Thiên Tân, có một người -tôi không rõ chức danh- đến tận phòng nghỉ ở khách sạn gửi cho tôi một tập tài liệu chữ Hán. Tôi đoán đó có thể là tài liệu về phát triển ngành muối, vì khi tham quan, tôi đã rất quan tâm tới vấn đề này. Nhưng, đây là thời kỳ Trung Quốc đang tiến hành cuộc Đại cách mạng Văn hóa! Tôi nghĩ, biết đâu lại là tập tài liệu tuyên truyền về cách mạng văn hóa của họ, mình mang về thì dễ bị phiền phức. Bởi thế, tôi không mang tài liệu đó về. Nghe chuyện, ngay lập tức đồng chí Lê Duẩn đứng lên chất vấn tôi: Sao đồng chí không mang về? Nếu đó là tài liệu về muối thì sao? Hay là anh sợ Mao Trạch Đông kỷ luật?


 Tôi trả lời: Thưa Tổng Bí thư, ông Mao không có quyền kỷ luật tôi! Tôi không sợ ông Mao! Nếu đó là tài liệu tuyên truyền cách mạng văn hóa mà tôi mang về nước, rất có thể có người sẽ bù lu, bù loa là tôi tiếp tay nọ kia thì sao? Lúc đó tôi biết phân giải trắng đen thế nào. Tôi sợ là sợ ta chứ không sợ ông Mao!


Có lẽ cái tính thẳng thắn, bộc trực của tôi không phù hợp lúc này! Cách trả lời của tôi đã khiến Tổng bí thư không hài lòng. Ông bảo tôi là hồ đồ… Chuyện tưởng đơn giản, mà thành ra nặng nề, kém vui. Sau buổi họp, tôi nghĩ mình thật dại khi đem câu chuyện đó ra kể. Vài hôm sau, tôi gặp anh Định - thư ký của anh Lê Thanh Nghị - hỏi chuyện. Anh ấy nói:


- Tính anh Lê Duẩn là vậy nhưng không hề thành kiến, để bụng gì đâu. Cứ yên trí đi!


Và quả là tôi cũng thấy vậy.


Tôi còn nhớ một câu chuyện khác với một đồng chí lúc đó là trưởng ban Công nghiệp Trung ương. Số là trong một hội nghị, đồng chí Lê Duẩn chủ trương xây dựng kế hoạch 27 triệu tấn lương thực. Lúc đó, con số 27 triệu tấn là quá cao. Bên lề hội nghị, một số ý kiến tỏ ra không đồng tình với mục tiêu ấy, trong đó có cả trưởng ban Công nghiệp Trung ương. Thế mà khi vào hội nghị, anh ấy lại tỏ ra nhất trí cao. Khi có người thắc mắc, anh ấy trả lời:


- Phải biết cách làm việc chứ, tức là cứ phải ủng hộ để làm, rồi từ từ điều chỉnh sau!


Chuyện đó làm tôi phải suy nghĩ nhiều. Đó có phải là tiểu xảo hay là một toan tính? Ngày trước biết bao vị vua đã mắc sai lầm khi các cận thần không dũng cảm can gián. Bản chất tôi sống trực ngôn, trực tính, không chấp nhận kiểu sống hai mặt, sống cho vừa lòng nhau, càng không chấp nhận được lối sống giả dối. Được làm việc, gần gũi các vị lãnh đạo cao nhất nước thì phải trung thực, thẳng thắn góp ý, tư vấn theo khoa học, dũng cảm nói lên ý nguyện của dân, dù cho có bị cấp trên hiểu lầm, có thế mới xứng là cán bộ của Đảng, còn không, chỉ là phường giá áo túi cơm. Nói dối để được lòng nhau thì quả là tồi tệ.


Trong thời gian chúng tôi tham quan ở Trung Quốc thì ở nhà có sự chuẩn bị đại hội Đảng bộ thành phố. Khi tôi về, anh Tô Thiện - phó bí thư Thành ủy - thông tin cho tôi rằng việc chuẩn bị đại hội khá lộn xộn, trong đó có quan điểm kỳ này tự do bầu cử, bỏ khâu giới thiệu nhân sự của Thành ủy. Lý do là một số người muốn gạt anh Tô Thiện và vài cán bộ khác. Lại có có một số khác chê bai anh Trần Kiên, cho rằng bí thư đã quá già, hẹp hòi và thành kiến, nhưng muốn gạt được Trần Kiên thì phải loại bỏ lực lượng ủng hộ anh ấy. Tôi gặp anh Trần Kiên, phản đối khuynh hướng tự do bầu cử vì cho rằng đang có sự chia rẽ, bè phái trong Đảng bộ, nhất định phải có sự lãnh đạo và giới thiệu của Thành ủy. Tiếc là trước sự o ép của nhiều khuynh hướng, anh Trần Kiên tỏ ra do dự, không quyết đoán, buông trôi. Một hôm, anh Kiên mời tôi lên trao đổi riêng, nói rằng tôi có quan hệ với mấy cán bộ của Cảng Hải Phòng để phản đối ý kiến của Thường vụ. Nghe chuyện, tôi rất ngạc nhiên và đề nghị làm cho rõ tin vu khống đó. Gần đến ngày đại hội, anh Trần Kiên lại mời tôi lên cho biết rằng có một bức ảnh chụp tôi với ai đó được cho là người yêu, bồ bịch của tôi, càng làm tôi ngạc nhiên. Tôi đề nghị cho xem tấm ảnh đó nhưng anh Trần Kiên có thể biết đó là ảnh ghép hoặc không muốn gây căng thẳng, nên đã khéo léo tháo lui. Anh ấy khuyên tôi hỏi anh Trần Đông - giám đốc Công an thành phố. Anh Lê Đức Thịnh, nguyên là chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố, có lần tâm sự với tôi rằng anh Trần Kiên hiểu rõ và đánh giá cao về tôi, nhưng do chịu nhiều sức ép khác nhau đã không biểu lộ thái độ dứt khoát trước những dư luận bêu xấu tôi. Là người chính trực, tôi không chịu nổi lối dèm pha, thủ đoạn, dối trá, mua chuộc lẫn nhau nên rút lui, chấp nhận chuyển đi công tác khác.


Thời đó, có kẻ loan tin xấu, cho tôi là có quan điểm kinh doanh theo kiểu tư bản. Dù tôi kêu gọi công khai tranh luận, nhưng cũng chẳng ai phản biện. Mặt khác, họ còn nói tôi bao che cho cán bộ có khuyết điểm, mà điển hình là vụ anh Nguyễn Văn Bá, gây ra nhiều tranh cãi trong Đảng bộ thành phố và trong dư luận. Anh Bá nguyên là bí thư Thành ủy thành phố Đà Nẵng từ hồi chống Pháp, tập kết ra Bắc, được Trung ương bố trí về Hải Phòng làm bí thư Nhà máy Cá hộp Hạ Long, sau chuyển về làm bí thư Nhà máy Nước Hải Phòng. Anh ấy bị bệnh phổi nên hay bị kích dục, lúc đó ở cùng gian nhà với vợ chồng anh Vân - trưởng ban Kiến thiết, thuộc Sở Công nghiệp Hải Phòng. Một chiều thứ Bảy, ở nhà, anh Bá làm động tác có tính gợi dâm với con gái chị Vân khoảng mười tuổi. Chị Vân về bắt được, làm toáng lên, muốn anh Bá phải cam kết nếu con chị Vân có bị xảy ra việc gì nghiêm trọng thì phải chịu trách nhiệm. Hai bên to tiếng. Chị Vân liền lấy một cuốn vở học sinh buộc anh Bá phải viết cam kết rằng nếu có chuyện gì thì anh Bá phải bồi thường. Nghe tin ấy, tôi xuống ngay để hòa giải, nói rằng anh Bá và anh Vân là đồng hương, lại cùng làm việc tại Sở Công nghiệp nên mời cả hai bên sáng thứ Hai lên Sở để giải quyết cụ thể. Thế nhưng khi tôi vừa ra về thì anh viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân khu phố Hồng Bàng, cũng là đồng hương Đà Nẵng tới, nói việc như vậy làm gì phải cần đến giám đốc Sở Công nghiệp giải quyết, để anh ấy giải là được rồi. Nói xong, anh ta lấy lá đơn chị Vân đã viết mang về. Sau đó, lấy tư cách Viện Kiểm sát, anh ta cho con chị Vân đi khám xem còn trinh tiết không. Mặc dù con chị Vân không hề hấn gì, Viện Kiểm sát vẫn ra lệnh khởi tố anh Bá với tội danh hiếp dâm. Sáng thứ Hai, tôi chờ mãi không thấy hai bên lên, phải điện thoại hỏi thì biết chuyện anh viện trưởng đã làm như vậy. Anh Bá cho biết dù là đồng hương và từng công tác lâu với nhau nhưng giữa anh ấy và anh viện trưởng có mâu thuẫn nặng. Vả lại, quan điểm của anh viện trưởng là có tội thì phải xử nghiêm minh. Sau đó, khi trực tiếp làm việc với Viện Kiểm sát Nhân dân thành phố, tôi nghe lập luận rằng trường hợp anh Bá như kẻ trộm định cậy tủ, chưa kịp lấy trộm thì bị bắt quả tang, do đó phạm tội hiếp dâm. Ý kiến của tôi là anh Bá mới chỉ gợi dâm, chưa đến mức hiếp dâm nên phải đánh giá đúng tác hại của vụ việc mà xử lý cho công bằng. Tôi không đồng ý cách xử lý vụ này của Viện Kiểm sát mà Thành ủy Hải Phòng chuẩn y. Tôi cho rằng không thể máy móc chiếu theo pháp luật để xử lý một cách tùy tiện.


Anh Bá gửi thư cho đồng chí Lê Đức Thọ vì trước đây cùng ngồi tù với anh Thọ tại Sơn La. Anh Thọ có gửi thư cho Thành ủy Hải Phòng xem xét chiếu cố khi xử. Tuy nhiên, tòa vẫn xử theo cáo trạng về tội hiếp dâm vì đã được Thành ủy đồng ý. Anh Bá bị tuyên án tám năm tù giam.Vào tù được khoảng bảy, tám tháng thì anh ấy ốm yếu quá nên được cho tại ngoại. Sau khi ta giải phóng Đà Nẵng, anh Bá chuyển về quê sinh sống. Từ đó tôi cũng không có dịp gặp lại anh ấy nữa.


Tôi về Hà Nội, công tác tại Tổng cục Thủy sản. Được khoảng ba tháng, anh Trần Kiên mời tôi về gặp một số anh em trong Thường vụ Thành ủy, ý đồ là nhằm giải hòa, giải tỏa những hiểu lầm về nhau, trong đó có liên quan đến anh Đoàn Duy Thành. Tôi từ chối vì đã nói thẳng thắn những việc khuất tất. Anh Hoàng Hữu Nhân khi làm Tổng cục trưởng Tổng cục Thủy sản, sau dịp đi công tác ở Hải Phòng về cũng nói với tôi rằng anh Thành có nhắn với tôi là mọi chuyện cũ nên bỏ qua. Tôi trả lời rằng tôi đã bỏ qua. Từ ngày lên Tổng cục Thủy sản, tôi chưa bao giờ nhắc lại với anh Nhân hay với ai khác về những chuyện không hay ở Hải Phòng. Ngay cả những nghi vấn về anh Thành trong thời gian ở tù và sau khi ra tù, do không rõ nên tôi cũng không có ý kiến gì. Chỉ duy nhất một lần khi được anh Vũ Oanh - ủy viên Bộ Chính trị - hỏi về anh Đoàn Duy Thành, tôi có nêu một vài điểm cơ bản đánh giá về anh Thành mà thôi.


Sau đó anh Đặng Toàn được bầu làm chủ tịch Ủy ban Nhân dân Hải Phòng. Khi lên Hà Nội, anh ấy có gặp tôi. Chúng tôi đã trao đổi thẳng thắn về sự mất đoàn kết trong Thành ủy Hải Phòng. Anh Đặng Toàn ghi nhận những dự báo của tôi và đúng là chỉ hơn một năm sau khi làm chủ tịch, anh ấy đã phải ra đi vì lại xuất hiện những liên minh kèn cựa và thiếu trung thực. Sau đó, anh Thành giữ chức chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Hải Phòng.


***


Hải Phòng là một hải cảng lớn, một thành phố công nghiệp có truyền thống lâu đời. Ngay sau khi giải phóng, Hải Phòng được Đảng và Chính phủ quan tâm, tập trung đầu tư xây dựng phát triển cả công, nông nghiệp và dịch vụ, cả kinh tế trung ương lẫn kinh tế địa phương. Một lực lượng cán bộ đông đảo từ Trung ương và các tỉnh Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình, Thanh – Nghệ – Tĩnh và cán bộ tập kết thuộc khu V, Nam bộ được điều động về thành phố này. Điều đáng nói là khi đó lãnh đạo thành phố đã giáo dục chặt chẽ tinh thần đoàn kết trong sáng, không phân biệt địa phương, không cục bộ nên tạo được sự hòa hợp nhanh các nguồn cán bộ. Nhờ vậy, công việc được triển khai rất thuận lợi, phong trào và hiệu quả xây dựng công nghiệp và giao thông vận tải luôn dẫn đầu toàn miền Bắc, đào tạo được nhiều cán bộ, công nhân xuất sắc. Giữa công nghiệp địa phương và công nghiệp trung ương không có sự cách biệt là bao, mà công nghiệp địa phương làm phụ trợ cho công nghiệp trung ương rất hiệu quả, còn bổ sung nhân lực và cơ sở kỹ thuật cho Trung ương, cho Bộ Công nghiệp, Tổng cục Thủy sản, Bộ Giao thông vận tải… Phong trào “Sóng Duyên Hải” gắn với “ Cờ Ba Nhất” và “Gió Đại Phong” đã thổi bùng lên cao trào thi đua yêu nước xây dựng phát triển kinh tế, công nghiệp hóa nước nhà. Đặc sắc nhất là Hải Phòng đã thành công trong việc phát triển cơ sở hạ tầng từ nền công nghiệp cũ và xây dựng nhiều cơ sở mới trong các lĩnh vực cơ khí, tàu thủy, cảng, giao thông vận tải và thủy sản.


Tôi còn nhớ hồi đó Bộ Thủy điện có đoàn công tác do thứ trưởng Phan Mỹ làm trưởng đoàn xuống Hải Phòng, đặt hàng cho Sở Công nghiệp làm cột tải điện 110kV qua sông Cấm, sông Phả Lại và sông Chèm. Loại trụ vượt sông này có độ cao từ 105 đến 150 mét, chịu đựng được sức gió 200km/h, dung sai cho phép chỉ một phần ngàn. Chúng tôi nhận thực hiện. Anh Phan Mỹ rất mừng vì trước đó không có ai nhận làm. Anh Mỹ hứa sẽ ủng hộ, tạo mọi điều kiện để thực hiện công trình thành công. Sở Công nghiệp đã hội tụ nhân tài là kỹ sư, công nhân giỏi với quyết tâm cao. Đến khi triển khai, có nhiều ý kiến cho rằng cần có một mặt bằng đủ rộng để hàn lắp và thi công từng đoạn rồi ghép nối theo kiểu sâu đo. Trước khi ký hợp đồng, chuyên gia Liên Xô (cũ) đi kiểm tra tay nghề, cơ sở gia công và phát biểu rằng họ đã làm chuyên gia cho 17 nước làm cột vượt mà chưa ở đâu cơ sở vật chất lại thiếu thốn như ở Việt Nam. Thế nhưng họ tin là sẽ làm được vì cán bộ, công nhân Việt Nam thông minh, có tay nghề giỏi và quyết tâm cao. Giữa lúc Hoa Kỳ phải tạm ngừng ném bom đánh phá miền Bắc năm 1972, các trụ vượt sông được khẩn trương chế tạo và lắp đặt một cách hoàn hảo, nghiệm thu đâu ra đấy. Công trình gia công các trang thiết bị cho cột vượt sau này trở thành một nhà máy cơ khí có tên là 2 tháng 9. Từ đó đến nay đã hơn bốn chục năm trôi qua nhưng ba cặp cột vượt vẫn đứng sừng sững, là một trong những niềm tự hào của công nhân thành phố Cảng.


Hải Phòng có tiềm năng kinh tế biển. Nền công nghiệp Hải Phòng phải hướng ra biển để tự làm giàu. Cũng trong thời gian tôi công tác ở Hải Phòng, Thành ủy có yêu cầu Sở Công nghiệp tìm cách đưa nước ngọt từ sông Đa Đô ở huyện Vĩnh Bảo qua sông Thái Bình về huyện Tiên Lãng. Chúng tôi bàn bạc, nhận thấy chỉ có một cách là chế tạo đường ống siphon đường kính 1,2 mét bằng tôn 12 ly, uốn thành các ống dài khoảng 300 mét. Sau khi được chuẩn y, công nghiệp Hải Phòng đã thực hiện việc chế tạo và lắp đặt. Khi lắp ống qua sông Thái Bình gặp một khó khăn lớn là nước sông chảy rất xiết mà ống thì quá dài và lớn, phải chờ lúc nước êm (nước đứng), nếu không khi hạ ống sẽ bị gãy. Hạ được ống xuống đáy sông đã khó, nhưng giữ cho ống nằm ổn định ở đáy sông còn khó hơn vì đáy sông rất gồ ghề, nhiều khoảng trống lồi lõm, nước chảy qua khoét thành vũng lớn. Để lấp đi các vũng lớn đó, tôi phải dùng xe đạp, lúc đạp lúc vác trên quãng đường dài chục cây số trên đê để đến Nhà máy Dệt thảm cói xuất khẩu ở xã Ngọc Xuyến, huyện Tiên Lãng, huy động tất cả số thảm phế phẩm, bó lại chuyển về chỗ lắp ống. Tôi cho dìm thảm xuống các vũng sông, sau đó phù sa tự lấp đầy lên. Đến khi hạ ống vào các vị trí xung yếu nhất, nhiều người vẫn lo ống gãy, lo đến nín thở! Có người lẩn về để tránh không thấy sự thất bại và cũng để tránh trách nhiệm. Kết quả là đường ống được lắp đặt thành công, huyện Tiên Lãng có thêm nước ngọt phục vụ cho khoảng ba, bốn chục ngàn hecta lúa, năng suất đạt 3,75 tấn/ha, và sau này, trong thập niên 1990, lên đến 8,61 tấn/ha.


Trong thời gian diễn ra cuộc chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, nhiệm vụ của công nghiệp Hải Phòng là vừa phải sơ tán, vừa duy trì sản xuất, đánh trả lại địch vì các cơ sở công nghiệp, cầu phà cửa biển là mục tiêu đánh phá của máy bay Mỹ. Chúng huy động đủ loại máy bay, từ Thần Sấm, Con Ma đến B52 và dùng thủy lôi đánh phá ác liệt thành phố Hải Phòng. Các khu vực trọng điểm có ngày chịu năm, sáu trận ném bom của địch. Nhiều khi đợt ném bom thứ nhất vừa chấm dứt, ta nhanh chóng giải quyết hậu quả thì những Con Ma, Thần Sấm lại đến rải bom liên tục, suốt ngày căng thẳng, mất mát hy sinh không ít. Nhưng Hải Phòng vẫn “hiên ngang anh dũng ngẩng đầu ” và ngành công nghiệp vẫn hoàn thành tốt những nhiệm vụ nặng nề trong hoàn cảnh hết sức khó khăn.


(còn tiếp)


Nguồn: Minh bch. T truyn ca Nguyn Hng Cn. NXB Văn hc, 6-2010.


www.trieuxuan.info


 


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cõi mê - Triệu Xuân 25.03.2020
Giấy trắng - Triệu Xuân 25.03.2020
Anh em nhà Karamazov - FYODOR Mikhailovich Dostoyevsky 16.03.2020
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 15.03.2020
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 15.03.2020
Đêm Sài Gòn không ngủ - Trầm Hương 10.03.2020
Trong cơn lốc xoáy - Trầm Hương 10.03.2020
Ông cố vấn - Hữu Mai 26.02.2020
Đẻ sách - Đỗ Quyên 15.02.2020
Hòn đất - Anh Đức 13.02.2020
xem thêm »