tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Tiểu thuyết
16.06.2010
Nguyễn Hồng Cẩn
Minh bạch

Công nghiệp Hải Phòng thường nhận hợp đồng từ Bộ Quốc phòng làm các thùng phuy dung tích 5m3, 10m3 và 20m3 để đựng xăng dầu phục vụ các mặt trận, làm các cầu phao giúp bộ đội và nhân dân vượt sông, đảm bảo giao thông thông suốt ra chiến trường, sản xuất hệ thống làm mì sợi và lương khô phục vụ bộ đội và nhân dân và phá thủy lôi. Cả thành phố là một đại công trường, thùng phuy và cầu phao làm xong chất cao ngút trời, nhiều lần Ban Chỉ huy phòng không hạ lệnh phải giải tỏa hàng bằng bất cứ giá nào, sợ địch ném bom tiêu tan hết. Nhiều khi đơn vị đặt hàng không đến nhận hàng đúng hạn, thế là anh em đành phải chủ động tiêu thụ số hàng đã làm được và lên kế hoạch làm bù lại số hàng đã đặt. Vậy mà vẫn có kẻ nghi ngờ hàng bị bán cho đơn vị khác nên đã tố cáo lên Viện Kiểm sát Quân sự Trung ương. Tôi đã bị gọi lên mấy lần, và hiểu rằng trong chuyện đó có kẻ ném đá giấu tay, kiếm cớ hại người khác. Nhờ việc thực hiện hợp đồng vẫn đảm bảo nên được bỏ qua. Bây giờ, nhớ lại trận đói năm 1945, những trận càn quét của giặc Pháp, những trận ném bom như trút của không lực Hoa Kỳ, tôi rùng mình đau xót, nhưng cũng thấy lạ là không hiểu tại sao mình vẫn vượt qua được trong những thời điểm ngàn cân treo sợi tóc như vậy. Phải chăng tất cả bắt nguồn từ tinh thần chiến đấu vì nước vì dân, trong gian lao vẫn có niềm tin chiến thắng và trong cư xử với đồng chí, đồng đội luôn có tình thương yêu, đùm bọc lẫn nhau?


Khi không quân Mỹ ném bom ác liệt Hải Phòng, Hội đồng Bộ trưởng triệu tập lãnh đạo Hải Phòng lên Hà Nội báo cáo ngay trong nhà hầm của Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng. Cảm nhận được nỗi lo lắng của các đồng chí lãnh đạo Trung ương, chúng tôi đã báo cáo Hải Phòng kiên cường chống trả các cuộc đánh bom phá hoại của kẻ thù, bắn rơi nhiều máy bay Mỹ, nhân dân vững lòng tin tưởng vào sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ của cả dân tộc. Người Hải Phòng duy trì được sản xuất, đảm bảo đời sống và chi viện hiệu quả cho chiến trường miền Nam. Các đồng chí lãnh đạo Trung ương tỏ ra rất phấn khởi, sau đó xuống Hải Phòng để thẩm tra thực tế. Trong lần các đồng chí Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Tố Hữu xuống Hải Phòng, chính tôi dẫn các đồng chí ấy đi thăm đảo Cát Bà. Tại đảo, các đồng chí lãnh đạo Trung ương gợi ý cho lãnh đạo thành phố Hải Phòng một số vấn đề cần quan tâm. Tôi còn nhớ đồng chí Tố Hữu ghé tai tôi nói: “Anh lưu ý là tất cả các gia đình người Hoa ở đây chỉ treo ảnh Mao Trạch Đông, không thấy treo ảnh Bác Hồ. Đó không đơn giản về mặt hình thức đâu! Các anh cần quan tâm điều chỉnh”. Sau đó tôi đã nêu vấn đề này với Thường vụ Thành ủy và đã có biện pháp chấn chỉnh ngay thiếu sót đó.


Một hôm, Văn phòng Chính phủ giới thiệu một nghị sĩ Hoa Kỳ xuống tham quan thành phố Hải Phòng. Cùng đi có hai nữ phiên dịch người Mỹ, một cô nói giọng Sài Gòn, còn cô kia nói giọng Đà Nẵng. Tôi tiếp họ ở nhà khách Quang Trung trong lúc máy bay Mỹ liên tục quần đảo ném bom. Chúng tôi cứ phải liên tục xuống hầm trú ẩn rồi lại quay lên để làm việc. Được tin máy bay Mỹ mới ném bom khu vực Hạ Lý, tôi mời vị nghị sĩ đó đi xem thực tế, nhưng ông ta ngần ngừ, nói sợ nhân dân đấu tranh, mặt khác sợ máy bay Mỹ quay lại ném bom tiếp. Tôi đảm bảo chuyến đi sẽ không có gì nguy hiểm. Thế là ông ta đồng ý cùng chúng tôi ta hiện trường để thấy sự tàn phá ác liệt của không quân Mỹ. Tại đó, ông ta nói rằng Việt Nam sẽ thắng trong cuộc chiến này vì nhân dân tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Chính phủ, dám hy sinh để giành chiến thắng.


Dù đi đâu xa, dù sống trong Nam hay ngoài Bắc, tôi vẫn không thể quên được người và đất Hải Phòng, những hình ảnh tuyệt vời của nhân dân thành phố nơi tôi đã được sinh ra - trên đồi Thiên văn Phủ Liễn - và được rèn luyện, trưởng thành. Tôi vẫn có niềm tin mãnh liệt rằng Hải Phòng sẽ trở thành một trung tâm công nghiệp lớn của cả nước, là thành phố cảng biển có vị trí xứng đáng, vị trí đầu tàu trong công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân.


***


Cho đến giờ, tôi vẫn đăm chiêu về những câu chuyện thật nhưng chưa có lời giải minh bạch. Một trong những chuyện đó có liên quan đến bài thơ mà nhà thơ Tố Hữu đã sáng tác khi về thăm Hải Phòng:


Bốn cống, ba cầu, năm cửa ô


Đào kênh, lấn biển, mở cơ đồ


Làm ăn, hai chữ, à ra thế!


 Lúc đầu chỉ có ba câu như vậy, có lẽ nhà thơ muốn để người Hải Phòng làm tiếp. Bài thơ này có ý khen, động viên Hải Phòng bứt phá, xây dựng mô hình làm ăn mới. Trên nhật báo Hải Phòng hồi đó đã đăng nhiều đoạn thơ kế tiếp với mục đích ca ngợi ngất trời. Trái ngược lại, cũng có những câu thơ nhại lại thơ Tố Hữu khá ngỗ ngược, nhưng chỉ được truyền miệng, ví dụ:


Bốn cống, phá cầu, năm cửa ô


Buôn gian bán lận lấp cơ đồ


Làm ăn hai chữ, à ra thế!


Những kẻ ậm ờ nuốt chẳng trôi


Sau một thời gian, có hai làn sóng tư duy đối nghịch nhau xuất hiện. Một làn sóng cho rằng đó là sự tán tụng và tâng bốc, không sát với thực tế Hải Phòng. Làn sóng kia phê phán, đòi xem xét lại công tội của những người lãnh đạo thành phố thời kỳ ấy.


Trước tình hình như vậy, nhà thơ Tố Hữu mới hoàn tất bài thơ:


Bốn cống, ba cầu, năm cửa ô


Đào kênh, lấn biển, mở cơ đồ


Làm ăn, hai chữ, à ra thế!


Nhộn nhịp Sáu Kho, vui đất Cảng


Khang trang Tam Bạc, rạng thành Tô


Giá còn nữ tướng Lê Chân nhỉ


Ắt cũng khen con cháu Bác Hồ!


Bên ngoài bài thơ, ông còn chua thêm hai dòng có ý nhắc nhở nội bộ lãnh đạo:


Bảy nghề chín chữ, nay chừa nhé!


Chín chắn mười mươi chớ có phô!


Nhiều ý kiến cho rằng việc lợi dụng bài thơ trên của Tố Hữu để ca ngợi và chỉ đạo, động viên phong trào rộng rãi theo ý chủ quan là sai lầm nên đã không tuyên truyền nữa.


Tiếp đó là cuộc đấu tranh nội bộ “vô tiền khoáng hậu” xung quanh việc anh Đoàn Duy Thành hoạt động bí mật trong chiến tranh. Một số người nguyên là bí thư, phó bí thư và thường vụ Thành ủy Hải Phòng đã tố giác anh Thành không minh bạch. Sau đó, các đồng chí Võ Chí Công và Đỗ Mười đã chủ trì một cuộc họp, kết luận anh Thành vô tội. Anh Thành gặp tôi phấn khởi đưa cho xem bản nghị quyết, nói rằng những người tố giác rất hèn, trong cuộc họp chẳng dám nói năng gì. Thế nhưng một số anh em Hải Phòng gặp tôi lại nói anh Đỗ Mười vô nguyên tắc khi kết luận về trường hợp anh Thành. Sau này anh Thành còn viết một cuốn hồi ký bộc lộ nhiều ý kiến riêng của mình, nhưng cũng chẳng thấy có đánh giá nào công khai từ Trung ương, tạo nên một “nếp văn hóa” thiếu minh bạch, mập mờ, gian dối, lảng tránh. Điều bất thường là ở chỗ Đảng ta rất coi trọng công tác chính trị, tư tưởng, nhưng vì lý do gì lại để khá nhiều trường hợp không minh bạch kéo dài vô tận? Cho tới hiện nay, biết bao khuynh hướng khác nhau lợi dụng bêu xấu cán bộ lãnh đạo vẫn tồn tại, nhưng các nhà tư tưởng, tuyên giáo, văn hóa, lịch sử cũng chẳng thấy lên tiếng, làm cho nhiều sự mập mờ, trắng đen lẫn lộn cứ tiếp diễn.


Trong một lần về làm việc ở Hải Phòng, anh Huỳnh Công Hòa, khi ấy là thư ký của anh Hoàng Hữu Nhân có vay tôi 50 ngàn đồng. Thì ra anh Nhân cần tiền để giúp nhà văn Bùi Ngọc Tấn. Anh Tấn trước là nhà báo, nhà văn ở Hải Phòng, do phạm luật liên quan đến viết lách nên bị giam ba năm rồi được thả ra. Anh Tấn thất nghiệp, đi xin việc ở đâu cũng từ chối. Đời sống gia đình vô cùng khó khăn, vợ con nheo nhóc… Anh Nhân tới thăm nhà anh Tấn, thấy hương khói nghi ngút trên bàn thờ liền hỏi vui:


- Anh có cần thần Cộng sản giúp không, nếu cần thì tôi giúp!


 Anh Tấn hết sức cảm ơn vì đang cần sự trợ giúp của mọi người. Sau đó, anh Nhân bàn với tôi đến gặp anh Trần Đông là giám đốc Sở Công an Hải Phòng xin được xem bản kết luận tội trạng của anh Tấn. Bản kết luận ghi tội “phản tuyên truyền”. Với tội danh ấy, thảo nào anh Tấn thất nghiệp. Chúng tôi đề nghị anh Trần Đông là thời kỳ thi hành án đã qua, nay muốn giúp anh Tấn có công ăn việc làm. Anh Đông đồng ý ngay. Thế là chúng tôi xuống gặp trưởng phòng lao động khu phố Ngô Quyền, đề xuất cho anh Tấn làm việc ở Liên hiệp xí nghiệp Đánh cá Hạ Long, chuyên theo dõi thi đua. Việc làm đó được nhiều người hoan nghênh vì có gì đi nữa thì cũng phải tạo công ăn việc làm cho người còn có sức lao động mới đúng chính sách của Nhà nước. Gia đình anh Tấn rất vui mừng, nói rằng suốt đời cảm ơn chúng tôi.


Lần khác, tôi xuống Hải Phòng, đến thăm nhà một người bạn thời kháng Pháp là phó bí thư Tỉnh đoàn Kiến An. Anh ấy đi vắng nên vợ anh tiếp tôi, kể chuyện rằng vừa rồi địa phương có tổ chức lấy ý kiến dân về bí thư Thành ủy. Điều đáng nói là 100% ý kiến đều ca ngợi bí thư, nhưng thực tế không hẳn như vậy. Tôi hỏi:


- Bản thân chị cũng từng kêu ca về ông bí thư cơ mà?


Chị ấy trả lời:


- Ai dại gì đi công khai góp ý với bí thư Thành ủy khi đủ các đại diện công khai ngồi đó!


Tôi thấy thật đáng buồn khi chúng ta thực hiện dân chủ kiểu như vậy. Lấy ý kiến dân kiểu ấy thì mọi thành tích hay tội lỗi đều không được thể hiện một cách thực chất, vì bản chất vấn đề vẫn là thiếu minh bạch. Tôi nhớ lại hồi còn công tác ở Hải Phòng, khi xuống dự một buổi bình chọn lao động tiên tiến của một tổ sản xuất, tôi chứng kiến cuộc bầu bán diễn ra hết sức thuận lợi và nhanh chóng. Tôi hỏi một anh công nhân rằng trước khi bầu, anh kêu ca, phê phán ông tổ trưởng chuyện này chuyện nọ, nhưng đến khi bầu, tại sao anh lại ca ngợi và bầu cho ông ấy. Anh công nhân ấy trả lời rằng nếu không bầu cho ông ấy thì đến lượt mình, ông ấy cũng không bầu cho mình. Mới hay, sự thiếu minh bạch đã chồng chất từ lâu, tạo nên “nếp văn hóa” tiêu cực như vậy và nó lan sang mọi lĩnh vực, gây suy thoái trong lương tâm, đạo đức của không ít người là tất nhiên.


20 NĂM XÂY DỰNG VÀ ĐỔI MỚI CƠ CHẾ QUẢN LÝ KINH TẾ VÌ DÂN GIÀU, NƯỚC MẠNH


Đầu năm 1974, Ban Bí thư quyết định chuyển tôi về nhận nhiệm vụ vụ trưởng Vụ Kế hoạch của Tổng cục Thủy sản. Tôi lên Hà Nội nhận nhiệm vụ với tâm trạng thanh thản, thoải mái, không có gì lo lắng, ngại ngần. Lúc đầu, tôi gặp ít nhiều khó khăn do ăn ở kham khổ tại khu tập thể Ngọc Hà. Thời đó, chỗ ăn ở hết sức ọp ẹp, kinh sợ nhất là nhà vệ sinh cực kỳ bẩn. Rồi tôi được phân căn hộ tại khu Thành Công. Tôi đã tưởng thoát được nỗi kinh hoàng nhà vệ sinh công cộng, nhưng chỉ được vài tháng, hệ thống thoát nước chung bị tắc, nước cống ùn lên, các hộ cãi vã nhau om xòm, đổ lỗi cho nhau, chẳng văn hóa chút nào. Tắc ở tầng nào thì tầng ấy chịu, đến khi phân dồn lên đến tầng tư thì mọi người mới giác ngộ và mới chịu ngồi lại cùng nhau tháo gỡ. Khi còn ở Hải Phòng, tôi được vợ con lo cho hết, nhưng lên Hà Nội thì mọi thứ phải tự túc, lâm cảnh cơm niêu nước lọ. Ăn thì cứ món mì sợi làm chủ lực, dùng không hết thì phải mời hàng xóm sang tiêu thụ giúp. Sức khỏe có nguy cơ suy giảm, tôi phải đưa cháu Hạnh, con gái út lên vừa học, vừa giúp bố việc nội trợ.


Tôi về Tổng cục Thủy sản vào thời kỳ có nhiều cán bộ từ các địa phương và quân đội chuyển tới. Từ chủ tịch, phó chủ tịch tỉnh như các anh Đặng Văn Việt, Hoàng Thao, Vũ Hạnh, anh Vũ - nguyên chủ tịch tỉnh Quảng Bình… Nhà văn Hà Minh Tuân cũng có thời gian được gửi sang như chỗ tạm để chờ sử dụng. Có nhiều nhân vật được gọi là tài ba, trong một, hai đêm làm xong báo cáo hay dự án trình cấp trên duyệt kịp thời để xin tiền đầu tư. Khi tôi nhận việc, có ý kiến cho rằng tôi không phải dân làm kinh tế thủy sản nên khó làm được trò trống gì. Điều mà tôi thấy xa lạ ở đây là cán bộ nhất cử nhất động phải chờ đợi ý kiến, tuân theo lệnh của cấp trên. Một hôm, nhân có cuộc họp các cán bộ chủ chốt mà thành phần cơ bản đều chỉ trên dưới 30 tuổi, tôi đặt câu hỏi:


- Sức mạnh của thanh niên là gì?


Trong khi cử tọa im lặng, chưa có ai trả lời thì tôi khẳng định luôn:


- Thanh niên phải coi Trời bằng vung thì mới dám làm, dám đột phá!


 Mọi người tròn xoe mắt ngạc nhiên trước câu nói đó của tôi, một người đã 44 – 45 tuổi. Quả thật lúc còn thanh niên, chúng tôi đâu có sợ hãi, ngại ngần điều gì, thấy làm được gì có ích lợi cho nước, cho dân là làm, đúng là coi Trời bằng vung! Vì đã có thời gian làm việc tại Hải Phòng với anh Hoàng Hữu Nhân, tôi rất thích phong cách cũng như tư duy của anh. Nay được làm việc dưới quyền của tổng cục trưởng Hoàng Hữu Nhân, tôi càng tin sẽ làm được những việc khó, mà một trong những vấn đề chúng tôi rất tâm huyết là đẩy mạnh nghề cá nhân dân.


Nghề cá nhân dân được Đảng và Nhà nước ra sức đầu tư ngay sau khi hòa bình lập lại bằng việc tập trung xây dựng hệ thống quốc doanh đánh cá và cơ khí tàu thuyền, khơi dậy phong trào hợp tác xã. Tuy nhiên, do tư duy ỷ lại, các hợp tác xã nghề cá cứ được đầu tư thì phất lên, nhưng ba năm sau là đi xuống, lại chờ đợi Nhà nước rót vốn tiếp, như một chu kỳ tồn tại. Trong khi đó, hệ thống quốc doanh gặp nhiều khó khăn, nhất là từ khi đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc. Sau một thời gian công tác, tôi được cất nhắc làm tổng cục phó cùng anh Vũ Song và anh Ngân. Chẳng bao lâu sau, cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước thắng lợi, đất nước thống nhất.


Ban Tổ chức Trung ương cử cán bộ đến gặp tôi, nói rằng anh Lê Đức Thọ có quyết định đưa tôi sang Campuchia công tác. Dù không tin tưởng điều đó vì anh Lê Đức Thọ nào có biết tôi, tôi vẫn sẵn sàng nhận nhiệm vụ mới. Nhưng tôi đề nghị để tôi điều trị sức khỏe cho ổn, vì đã có ý kiến bác sĩ khuyên tôi nên mổ thận, chứng huyết áp cao cũng cần điều trị. Ban Bảo vệ sức khỏe Trung ương đã đồng ý. Sau đó, tôi được cử làm trưởng đoàn bệnh nhân sang Đông Đức điều trị sức khỏe. Đoàn còn có một đồng chí giữ chức tổng cục phó Tổng cục Cảnh sát làm phó đoàn, một bác sĩ kiêm phiên dịch tên là Giang. Trong đoàn có đủ cán bộ nhiều thành phần, từ nhiều địa phương và thêm một cán bộ Campuchia đi ghép. Làm trưởng đoàn bệnh nhân thế mà phức tạp. Các bệnh nhân mỗi người một tính một nết, cứ suy bì, kèn cựa nhau, nhất là so đo với ông bạn Campuchia vì anh ta mang đô la theo, cần gì thì chi, nên được chủ nhà săn sóc tận tình hơn. Khổ nhất là cán bộ ta quá nghèo, mỗi tháng chỉ được bạn cấp 50 mark để tiêu vặt, sang nước bạn chữa bệnh mà suốt ngày lo tiết kiệm để đến khi về còn mua được chiếc xe đạp Mifa, vài bộ xích líp. Nhờ một người bạn là anh Bùi Thế Vĩnh đang làm giáo sư giảng dạy về kinh tế Việt Nam tại một trường đại học ở Đức mà tôi cũng sắm được những thứ đó. Sau ba tháng điều trị, tôi được các bác sĩ Đông Đức kết luận sức khỏe đã ổn, huyết áp đã bình thường. Về nhà được một thời gian, tôi chẳng thấy ai đả động gì đến chuyện đi Campuchia nữa, mà nhận quyết định của Hội đồng Bộ trưởng vào Nam công tác. Khi tôi nhận quyết định, một vài cán bộ trong Bộ khuyên tôi nên nhận công tác trong Nam có thời hạn, nếu không sẽ kết thúc cuộc đời chẳng vẻ vang gì trong đó. Tôi trả lời rằng nếu vậy thì càng hay vì tôi có dịp xem xét, kiểm tra lại năng lực của chính mình.


(còn tiếp)


Nguồn: Minh bch. T truyn ca Nguyn Hng Cn. NXB Văn hc, 6-2010.


www.trieuxuan.info


 


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cõi mê - Triệu Xuân 25.03.2020
Giấy trắng - Triệu Xuân 25.03.2020
Anh em nhà Karamazov - FYODOR Mikhailovich Dostoyevsky 16.03.2020
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 15.03.2020
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 15.03.2020
Đêm Sài Gòn không ngủ - Trầm Hương 10.03.2020
Trong cơn lốc xoáy - Trầm Hương 10.03.2020
Ông cố vấn - Hữu Mai 26.02.2020
Đẻ sách - Đỗ Quyên 15.02.2020
Hòn đất - Anh Đức 13.02.2020
xem thêm »