Năm 1976, Tổng cục Thủy sản miền Nam do anh Mười Sơn làm tổng cục trưởng, anh Tám Hạp là tổng cục phó đã tiếp quản các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của chế độ cũ, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của phó thủ tướng Phan Trọng Tuệ. Dù trong thời gian đó cũng có đôi ba khác biệt về cả tư duy lẫn quan điểm, nhưng điều quan trọng là mọi người đều cố gắng làm tốt công tác tiếp quản và chuẩn bị hợp nhất hai tổng cục thủy sản ở hai miền. Sau khi chúng tôi làm việc với nhau được một thời gian, một hôm, anh Mười Sơn tổ chức cuộc gặp gỡ ngay tại nhà riêng, có mời các anh lãnh đạo Tổng cục Thủy sản miền Bắc đang công tác ở miền Nam. Anh Hoàng Hữu Nhân và tôi đến dự. Cuộc gặp gỡ hôm ấy rất cởi mở, anh Mười Sơn còn đãi một bữa thịt chó rất ngon. Đó được coi là sự mở đầu cho việc hợp nhất hai tổng cục và cũng là dịp để anh Tám Hạp đáp lại tình cảm đối với anh Nhân. Trước khi lên đường vào Nam công tác, anh Tám Hạp đã tâm sự rằng khi rời Hà Nội, người mà anh ấy nhớ chỉ có một, đó chính là anh Hoàng Hữu Nhân. Anh Nhân có quan hệ gắn bó với anh Hạp từ khi làm bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh. Sau này, khi là tổng cục trưởng Tổng cục Thủy sản thì anh Nhân xin anh Hạp về Cục Cơ khí tàu thuyền của Tổng cục. Sau khi giải phóng miền Nam, anh Hạp được cử về rất sớm để tiếp nhận Tổng cục Thủy sản miền Nam, giữ vị trí tổng cục phó. Chúng tôi cứ nghĩ buổi gặp gỡ hôm ấy sẽ là tiền đề tốt cho sự hợp tác trong thời gian tới. Nhưng ai ngờ sau đó chỉ vài ba ngày, Trung ương Đảng nhận được một lá đơn do Tổng cục Thủy sản miền Nam gửi ra đề nghị cử một Trung ương ủy viên phụ trách thủy sản thay anh Hoàng Hữu Nhân! Một thời gian sau, Tổng cục Thủy sản được chuyển thành Bộ Thủy sản.
Lại nói thêm đôi câu chuyện về các anh Tám Hạp và Mười Sơn. Khi về Nam, anh Tám Hạp được người vợ cả đón tiếp, chăm sóc rất tận tình, chu đáo suốt mấy tháng trời. Sau đó, vì người vợ thứ hai tên là Nga (có cưới xin đàng hoàng, lý do là bà cả ở miền Nam đã khuất núi) ở ngoài Bắc vào, nên bà cả phải trở về quê. Một lần, bà cả từ tỉnh ghé lên thăm chồng nhưng không có ai mở cửa cho vào nhà, ngồi chờ đến sáng không được, đành thở dài bỏ về. Sau này, lúc anh Tám Hạp bị bệnh nặng, thấy bà Nga lơ là, bà cả đưa anh ấy về Long An chăm sóc. Đến khi anh Hạp qua đời, bà Nga đến nhà can thiệp, cho rằng bà cả không có tư cách làm đám ma! Tôi thay mặt Tổng cục Thủy sản đến chia buồn, phải vất vả mới thuyết phục được hai bên hòa giải để làm lễ nhập quan. May mắn là sau đó mọi sự êm trôi…
Về phần anh Mười Sơn, là cán bộ miền Nam nên anh được Trung ương cử về Nam sớm (đi B). Trên đường vào Nam, anh được tổ chức cưới vợ là một cô nhân viên trẻ cùng đoàn rất chu đáo. Sau ngày giải phóng, anh được bổ nhiệm làm tổng cục trưởng Tổng cục Thủy sản miền Nam, nhưng trong tư duy và cách làm thì có những chuyện lủng củng với Tổng cục Thủy sản miền Bắc. Sau khi hai tổng cục hợp nhất, anh Mười Sơn được chuyển về công tác ở Đồng Nai. Đến khi đã hết quyền lực, cuộc đời anh xảy ra khá nhiều sự cố: vợ bỏ đi lấy chồng người Tàu giàu có, để mặc chồng già nua, bệnh tật héo hon… Có thể nói, hậu vận của cả hai anh ấy đều không may mắn. Có người cho rằng đó là số phận, nhưng tôi nghĩ số phận cũng là do mình tạo ra, bản thân chúng ta gieo gì thì ắt sẽ gặt đó. Suy cho cùng, quan trọng nhất vẫn là cái tâm, cái đức ở đời. Lo cho tròn công việc, hy sinh cho dân, cho nước đã khó, nhưng cái khó hơn nữa là sống sao cho có tình người, cho tròn trách nhiệm với gia đình, vợ con, bạn bè. Điều này, không phải ai cũng làm tốt được.
Khi Bộ Thủy sản ra đời, đồng chí Võ Chí Công, ủy viên Bộ Chính trị là bộ trưởng đầu tiên. Thứ trưởng gồm các anh Tám Tú, Bá Phát, Tư Mao. Anh Nhân xin ở lại làm thứ trưởng nhưng không được chấp nhận, mà được điều về Ban Công nghiệp Trung ương. Còn anh Vũ Song sang Tiệp Khắc làm đại sứ, anh Ngân nghỉ hưu. Tôi được giao nhiệm vụ làm trợ lý cho bộ trưởng, nhưng chỉ sau năm tháng, đồng chí Võ Chí Công về lại Trung ương và bộ trưởng mới là anh Tám Tú, tên thật là Nguyễn Văn Lâm. Tôi vẫn làm nhiệm vụ trợ lý bộ trưởng. Có lần anh Tám Tú tâm sự và hỏi tôi rằng anh ấy nên ở lại tiếp tục làm bộ trưởng hay chuyển đi làm bí thư Tỉnh ủy Nghĩa Bình. Tôi trả lời chân thật rằng thế mạnh của anh là đã công tác nhiều năm ở Khu ủy khu Năm, nếu về lại Nghĩa Bình thì thuận lợi và phát huy được cả vai trò lẫn kinh nghiệm lãnh đạo của mình. Anh Tám Tú có vẻ đồng ý với ý kiến đó và khoảng tám tháng sau, anh nhận quyết định về làm bí thư Tỉnh ủy Nghĩa Bình.
***
Đầu năm 1976, Bộ Chính trị tổ chức một cuộc họp tại thành phố Hồ Chí Minh, trong nội dung có mục bàn về thủy sản. Anh Hoàng Hữu Nhân đi vắng, lẽ ra anh Vũ Song đi dự họp vì đang trực Văn phòng, nhưng anh ấy tránh, để tôi đến dự vì cho rằng tôi sát thực tế hơn. Trong cuộc họp, đến phần bàn về thủy sản, đồng chí Lê Duẩn hỏi ai đại diện cho Tổng cục Thủy sản. Thấy tôi tự giới thiệu, đồng chí ấy hỏi ngay:
- Ở Kiên Giang báo cáo là hàng ngày có năm, bảy trăm tấn cá về cảng mà không có nơi tiêu thụ. Vậy Tổng cục Thủy sản làm gì?
Tôi trả lời:
- Thưa anh, cỡ năm, bảy chục tấn mỗi ngày thì có, chứ không có năm, bảy trăm tấn.
Đồng chí Lê Duẩn lại hỏi:
- Anh ở đây bao lâu rồi mà nắm được con số đó?
Tôi thưa tiếp:
- Tôi vừa ở Kiên Giang suốt 18 ngày nên đảm bảo con số đó là chắc chắn.
- Chẳng lẽ bí thư, chủ tịch tỉnh ăn đời ở kiếp tại đó mà báo cáo sai à? - Tổng Bí thư lại chất vấn.
Tôi định trình bày thêm, nhưng một người ngồi cạnh kéo tôi ngồi xuống, nói khẽ: “Muốn mất chức tổng cục phó hay sao mà cãi?”. Cùng lúc đó, thủ tướng Phạm Văn Đồng nhìn tôi, vẫy tay, ra ý khuyên tôi ngồi xuống.
Lần khác, anh Lê Khắc triệu tập tôi cùng sang văn phòng của Tổng Bí thư, thay mặt anh Lê Thanh Nghị báo cáo và xin ý kiến đồng chí Lê Duẩn về việc cho tàu cá Liên Xô vào vịnh Bắc bộ hợp tác khai thác cá. Chúng tôi vừa bước tới, chưa kịp chào hỏi gì đã được Tổng Bí thư Lê Duẩn phủ đầu:
- Tại sao anh Nghị và các anh không làm theo ý kiến tôi? Tôi đã nói không cho tàu Liên Xô vào khai thác ở vịnh Bắc bộ vì tránh sự rắc rối với Trung Quốc!
Lúc đó quan hệ Trung - Xô đúng là đang căng thẳng nên chúng tôi chẳng trình bày gì nữa, ra về ngay. Dù trong lòng có áy náy đôi điều, nhưng tôi cảm phục sự rành rọt, dứt khoát, quyết đoán của đồng chí Lê Duẩn. Tôi lập tức thi hành vì lúc đó tôi là đồng chủ tịch Ủy ban Hỗn hợp nghề cá Xô - Việt.
Cũng trong năm 1976, tôi cùng anh Vũ Song tổ chức một chuyến công tác ở miền Tây. Hồi đó giao thông khó khăn, cơ sở của Tổng cục lại chưa mạnh, chi phí rất hạn chế nên đi đâu cũng phải chuẩn bị hậu cần chu đáo, tiết kiệm. Anh Vũ Song đề nghị ghé vào Trường Đại học Cần Thơ, có anh Quang làm hiệu phó. Trước đây, Quang vốn là hiệu phó Trường Đại học Thủy sản. Tuy không gặp anh Quang nhưng chúng tôi được anh em ở trường tiếp đón rất nhiệt tình. Buổi tối đó, họ thết chúng tôi mỗi người một tô phở, một tách cà phê rất ngon, sau đó lo chỗ nghỉ chu đáo. Chúng tôi vừa cảm ơn, vừa nghĩ bước đi đầu như thế là may mắn. Sau khi làm việc xong ở Kiên Giang, trên đường về, chúng tôi lại vào Đại học Cần Thơ. Thế nhưng lần này mọi chuyện đã khác. Cách đối xử của trường hoàn toàn trái ngược với lần chúng tôi từ thành phố Hồ Chí Minh xuống: thái độ tiếp đón lạnh nhạt, chỗ ngủ không có màn, cũng chẳng chăn gối gì, cơm nước không có ai lo. Tôi gắng hỏi một cán bộ quản lý, nhưng anh ấy chẳng nói gì cả, mà ra hiệu chỉ vào chiếc quần đùi đang mặc rồi chỉ vào anh Tư Quơ đi cùng chúng tôi, có ý muốn nói anh Tư Quơ đã cuỗm mất… chiếc quần đùi của mình! Tôi vừa buồn cười, vừa khó hiểu và nói chuyện ấy với anh Vũ Song. Anh Song tức quá, muốn bỏ đi ngay, nhưng vì đã quá khuya nên chúng tôi đành phải nán lại để hôm sau đi sớm. Anh Song còn nói cạch đến già, không bao giờ đến đây nữa!
***
Sau anh Tám Tú, anh Đỗ Chính được cử làm bộ trưởng. Anh Đỗ Chính với tôi là bạn chiến đấu từ hồi chống Pháp. Hồi ấy, anh là chính ủy trung đoàn ở Quân khu Đông Bắc, sau này làm Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Hải Phòng cùng tôi hai khóa. Giữa chúng tôi có mối quan hệ tốt, thẳng thắn. Khi tôi được giao nhiệm vụ tổng cục phó phụ trách thủy sản phía Nam, anh Đỗ Chính là chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Hải Phòng.
Khi tôi đang đi công tác tại Kiên Giang, bố tôi bị đột quỵ, mất ở Hải Phòng vào ngày 28 tháng 1 năm 1976. Trước sự lúng túng của gia đình, một số anh em từng công tác với tôi ở Sở Công nghiệp Hải Phòng đã lo ma chay rất chu đáo và báo cáo với anh Đỗ Chính. Thay mặt Thành ủy, anh Chính chỉ đạo phải đặc biệt quan tâm, giữ xác cụ bằng hóa chất chờ tôi từ Kiên Giang về. Bốn ngày sau tôi mới có mặt ở Hải Phòng. Sự quan tâm săn sóc của anh Đỗ Chính và anh em bạn hữu Hải Phòng khiến tôi và gia đình vô cùng cảm động. Đến bây giờ, tôi vẫn nhớ tấm lòng và tình cảm tốt đẹp đó của các đồng chí, bạn bè dành cho gia đình tôi.
Anh Đỗ Chính sau khi hết nhiệm kỳ ở Hải Phòng được Trung ương cử làm trưởng đoàn cố vấn cho nước bạn Campuchia, sau đó trở về nước được bổ nhiệm làm bộ trưởng Bộ Thủy sản thay anh Tám Tú. Lãnh đạo Bộ Thủy sản dưới thời anh Đỗ Chính có các thứ trưởng là anh Nguyễn Bá Phát, anh Tư Mao và tôi, ai cũng đã ngoài năm mươi. Để có sự tiếp nối cán bộ lãnh đạo, Trung ương đã chọn một số cán bộ trẻ ở lứa tuổi bốn mươi để đưa vào danh sách đội ngũ kế cận, gồm các anh Trần Nhất Anh, Nguyễn Tấn Trịnh (đều được đào tạo nghề nuôi trồng thủy sản), Dương Văn Vẽ, Huỳnh Công Hòa (đều được đào tạo về nghề khai thác hải sản) và Võ Văn Trác (được đào tạo về cơ khí). Kết quả là các anh Trịnh, Hòa và Trác được chọn làm thứ trưởng.
Tiếc là anh Đỗ Chính chỉ làm việc tiếp được ba năm thì lâm bệnh nặng rồi qua đời. Sau đó, anh Bá Phát có hy vọng lên làm bộ trưởng nhưng không được, chỉ được bố trí làm bí thư Ban Cán sự. Anh Vũ Oanh, lúc đó là ủy viên Bộ Chính trị, hỏi ý kiến tôi về việc đề bạt anh Trịnh làm bộ trưởng. Tôi phát biểu:
- Trung ương đã bố trí ai thì tôi hoàn toàn ủng hộ. Tôi mong bộ trưởng mới đoàn kết được anh em để cùng nhau đảm đương tốt nhiệm vụ được giao. Ngoài ra, tôi đề nghị Trung ương quan tâm nâng cao trình độ lãnh đạo chính trị - kinh tế - xã hội một cách toàn diện cho các cán bộ lãnh đạo mới, giúp chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Khi đó, anh Cửu là vụ trưởng Vụ Tổ chức - Cán bộ của Bộ Thủy sản. Thuộc loại người sắc sảo, anh ấy luôn tự hào rằng mình đã thành công trong việc thiết kế, xây dựng một ê kíp lãnh đạo trẻ và hy vọng sẽ được trả ơn xứng đáng, được đề bạt thứ trưởng. Thế nhưng, anh ấy bị vỡ mộng và cho rằng mình bị lừa dối nên mất hết lòng tin, sau khi nghỉ hưu, sức khỏe suy sụp rất nhanh. Quả là thời đó có một số cán bộ có năng lực nhưng không được sử dụng đúng sở trường, thành ra bị quá lứa, lỡ thì, quá tuổi. Trần Nhất Anh và Dương Văn Vẽ đều là những cán bộ có đức, có tài nhưng cũng không được trọng dụng nên đã bị lỡ cơ hội cống hiến tài năng. Sau này, cả hai người ấy cũng tỏ thái độ thất vọng về cách xử sự của lãnh đạo Bộ.
Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Ngành kinh tế - xã hội thủy sản được đánh giá là chiến thắng trọn vẹn: Tiềm năng biển cả, sông ngòi, eo vịnh, ao hồ rất phong phú, môi trường sinh thái trong lành, lao động dồi dào, đặc biệt là đội ngũ trí thức khá đông đảo, cơ sở vật chất kỹ thuật ở cả ba miền còn nguyên vẹn, hoàn toàn có đủ tiềm lực để phát triển nghề cá nhanh và mạnh, đích thực đang nắm cơ hội hiếm có so với nghề cá của cả thế giới. Sau ngày thống nhất đất nước, kế hoạch 1976 – 1980 là kế hoạch năm năm đầu tiên, ngành thủy sản xây dựng chỉ tiêu đầy tham vọng nhằm vừa phục hồi, vừa cải tạo, vừa phát triển nghề cá cả nước. Nhà nước huy động các nguồn vốn tới 500 triệu rúp - USD đầu tư cho thủy sản, hy vọng đạt 70 vạn tấn cá biển, 35 vạn tấn cá nước ngọt và xuất khẩu được 40 triệu USD vào năm 1980. Thế nhưng kết quả chỉ đạt 50 vạn tấn cá biển, 20 vạn tấn cá nước ngọt và kim ngạch xuất khẩu thì được có 11,2 triệu USD!
Năm 1978, trong dịp tổng kết tổng kết năm, phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười đã chất vấn Bộ Thủy sản làm ăn thua lỗ, sa sút như thế, định đưa Đảng và Nhà nước đến đâu? Kết thúc kế hoạch năm năm 1976 - 1980, phó chủ tịch thường trực Hội đồng Bộ trưởng Tố Hữu kết luận: “Ngành thủy sản tiếp tục tụt dài, tụt theo chiều thẳng đứng!”. Các địa phương bổ sung là “đã tụt tới đáy”! Thời còn Tổng cục Thủy sản miền Bắc, đã có lúc bị gọi chệch thành Tổng cục phá sản, đến nỗi cô nhân viên đánh máy vô tư đánh vào công văn dòng “Tổng cục Phá sản”. Đến khi nơi nhận được công văn phản hồi thì Tổng cục mới biết. Khi Tổng cục Thủy sản chuyển thành Bộ Hải sản, cái tiếng “tụt dài, tụt thẳng đứng” vẫn tồn tại, rồi đổi tên thành Bộ Thủy sản mà tình trạng làm ăn cứ sa sút, vẫn cứ “tụt thẳng đứng”. Đây là giai đoạn khủng hoảng trầm trọng trong lịch sử của ngành thủy sản nước ta. Tôi còn nhớ anh Lý Ban, khi ấy là thứ trưởng kiêm bí thư Đảng Đoàn của Bộ Ngoại thương, chỉ mơ ước làm sao mỗi năm miền Bắc xuất khẩu thủy sản được 100 ngàn USD, nhưng toàn ngành không sao đạt được.
Năm 1978, Hội đồng Bộ trưởng cho thành lập hai tổng công ty, một chuyên xuất khẩu thủy sản và một chuyên tiêu thụ thủy sản nội địa nhằm cứu vãn kế hoạch 1976 – 1980 của ngành thủy sản. Anh Phạm Hùng, phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, phụ trách phía Nam, triệu tập tôi lên, hỏi:
- Giữa tổng công ty và công ty có gì khác nhau, khác chỗ nào?
Tôi trả lời là khái niệm tổng công ty tùy theo quan niệm ở từng nước, thường để chỉ loại doanh nghiệp có quy mô lớn, ở một số nước tư bản còn dùng khái niệm tập đoàn để chỉ những doanh nghiệp lớn và rất lớn. Thế nhưng công ty không nhất thiết nhỏ hơn tổng công ty. Ở các nước Xã hội chủ nghĩa, tổ chức tổng công ty thường có trong lĩnh vực thương nghiệp để hình thành hệ thống cấp 1, 2 và 3.
Anh Phạm Hùng nói:
- Nếu vậy thì cứ gọi là công ty, để tránh sự thành kiến về một tổng công ty nhiều tầng nấc, quan liêu của hệ thống thương nghiệp.
Tôi trình bày với anh Lê Thanh Nghị ý kiến của anh Phạm Hùng. Anh Nghị đồng ý.
Ngày 26 tháng 6 năm 1978, Công ty Xuất khẩu thủy sản Việt Nam ra đời, tên giao dịch quốc tế là SEAPRODEX. Tôi có ấn tượng là thời đó, các vị lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước rất lắng nghe ý kiến cấp dưới và ý kiến của nhau, để tạo được sự đồng thuận cao, vì lợi ích chung. Tiếc rằng hai công ty mới ra đời không thể giúp cứu vãn tình thế lụn bại của ngành, mà cũng bị cuốn luôn vào dòng xoáy phá sản.
Bước vào kế hoạch năm năm 1981 – 1985, tình thế sản xuất - kinh doanh - dịch vụ không có đầu ra, đầu vào hoàn toàn bế tắc. Có ngày, tôm từ miền Tây đưa lên thành phố Hồ Chí Minh cả ngàn tấn, nhưng không thu mua chế biến xuất khẩu được, phải bán tống bán tháo để làm mắm mà cũng không xong. Nhà nước không còn khả năng cân đối cho ngành, phải buông bỏ, chỉ dành một số dầu, vật tư nhất định để đổi lấy cá cho bộ đội và công nhân ăn. Trước đây, hằng năm Nhà nước cấp cho ngành thủy sản 10 vạn tấn dầu, nhưng đến năm 1981 hạ xuống còn 1 vạn tấn, các loại vật tư khác chỉ còn 10 – 15% so với trước. Riêng về xuất khẩu thủy sản thì Nhà nước không cân đối nữa, để ngành tự lo, làm được thì làm, không làm được thì bỏ. Tình thế rất nan giải, cơ chế quản lý hành chính, bao cấp, quan liêu ngự trị, hàng hóa cực kỳ khan hiếm, đã vậy, sự bao vây kinh tế của Mỹ khiến ta hoàn toàn bị cô lập với thị trường thế giới. Nền kinh tế - xã hội của đất nước bị khủng hoảng, chính sách giá - lương - tiền không phù hợp càng làm cho lạm phát phi mã. Nhiều khi thanh toán phải dùng xe ô tô chở đầy tiền. Có lần ô tô chở tiền đâm vào người đi đường mà cứ bỏ mặc nạn nhân, chạy thẳng vào đồn công an, sợ dừng lại thì bị cướp hết tiền! Có thời gian, sau một đêm thức dậy đã mất sạch tiền vì tỷ giá giữa đồng USD và đồng bạc Việt Nam thay đổi quá nhanh. Giai đoạn này, trong nền kinh tế quốc dân, thủy sản là ngành bị khủng hoảng sớm nhất.
Không thể bó tay chờ chết, chúng tôi nghiên cứu, vận dụng nhiều biện pháp tháo gỡ khó khăn. Đó là khoảng thời gian từ giữa năm 1980. Tại khu vực thành phố Hồ Chí Minh có nhiều đơn vị cố gắng tìm cách “phá rào”, nhưng chỉ là giải pháp tình thế, tạm thời, mà cũng chỉ khoanh trong phạm vi thành phố. Nếu đưa ra vận dụng ở quy mô toàn ngành, toàn quốc thì những giải pháp ấy chắc chắn không được phép. Trong giai đoạn đó, mô hình của Xí nghiệp quốc doanh đánh cá Vũng Tàu - Côn Đảo xuất hiện. Nhờ thoát khỏi “vòng kim cô” chung, được thực hiện trả lương khoán, ăn chia từng chuyến đi biển với thủy thủ, việc khấu hao hoàn toàn do giám đốc quyết định (vì tàu là loại thu được sau giải phóng) nên đơn vị này tìm được lối ra. Giám đốc xí nghiệp là anh Năm Ve được phong danh hiệu Anh hùng lao động, là đại biểu Quốc hội, đồng thời là Khu ủy viên đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo. Khi táo bạo đột phá, anh Năm Ve còn được phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng trực tiếp chỉ đạo xây dựng mô hình làm ăn mới. Đồng chí Võ Chí Công lúc đó là bộ trưởng Bộ Thủy sản, trong lần vào thăm Xí nghiệp đã nhận xét rằng sở dĩ cơ sở quốc doanh này làm ăn được, tháo gỡ được nhiều khó khăn, nâng được sản lượng khai thác cá biển là do được làm thí điểm, “trên đầu nó không có ai”, nghĩa là không bị ai quản cả, không bị ai làm phiền, được tự chủ hoàn toàn, được phép vượt qua cơ chế bao cấp đang ngự trị. Thế nhưng, mô hình ấy cũng chỉ tồn tại được bảy, tám năm rồi cũng bị phá sản.
(còn tiếp)
Nguồn: Minh bạch. Tự truyện của Nguyễn Hồng Cẩn. NXB Văn học, 6-2010.
www.trieuxuan.info
|