Vấn đề đặt ra với chúng tôi là làm sao xuất được hàng vào các nước tư bản, vượt qua được hàng rào cấm vận của Mỹ? Tôi đã trăn trở nhiều đêm ngày về chuyện này. Biết bao đêm thức trắng tìm lời giải. Từ giữa năm 1981, chúng tôi mạnh dạn làm. Lúc đầu, xuất khẩu phải theo cơ chế hàng đổi hàng với một vài thương nhân Hồng Kông, Singapore, sau đó từng bước chuyển sang mua bán sòng phẳng, thanh toán bằng ngoại tệ. Thế nhưng, điều trớ trêu là ngoại tệ về đến ngân hàng của ta thì ngân hàng quản, chỉ thanh toán cho doanh nghiệp bằng tiền đồng Việt Nam theo tỷ giá rất thấp. Với tỷ giá giả tạo này, không thể cân đối chi phí, không thể tái tạo sức lao động, nói gì đến mở rộng và phát triển. Trước tình thế đó, sau nhiều lần họp với các địa phương, chúng tôi nêu rõ những phi lý của cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp và quyết tâm xây dựng phương án đổi mới trong hoạt động xuất khẩu thủy sản. Chúng tôi trình lên Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, thuyết phục Ủy ban Kế hoạch rằng một khi Nhà nước đã không cân đối nổi thì ngành tự làm, tự chịu trách nhiệm, chỉ xin Nhà nước cho phép các cơ sở sản xuất - kinh doanh được sử dụng 70% ngoại tệ thu được nhờ xuất khẩu thủy sản, 30% còn lại do Nhà nước sử dụng và thanh toán lại (kết hối) cho ngành theo tỷ giá Nhà nước quy định chung cho hàng xuất khẩu. Sau một thời gian vận động, ngày 16 tháng 4 năm 1981, Ủy ban Kế hoạch Nhà nước chấp thuận, ra văn bản số 447/UBKH, cho phép ngành thủy sản được sử dụng 70% kim ngạch thủy sản xuất khẩu theo giá FOB (trường hợp vượt mức kế hoạch thì được trích 90%) để nhập vật tư, hàng hóa phục vụ sản xuất và đời sống. Khởi nguồn của cơ chế Tự cân đối tự trang trải là như vậy.
Tuy nhiên, cơ chế Tự cân đối tự trang trải chỉ được sự đồng tình của Ủy ban Kế hoạch Nhà nước. Các ngành khác như ngân hàng, tài chính, ngoại thương cho rằng Ủy ban Kế hoạch Nhà nước không đủ quyền hạn để cho ngành xuất khẩu thủy sản được hưởng cơ chế như vậy. Thế là lại phải vận động lên cấp cao hơn, đến tận Hội đồng Bộ trưởng. Rất may là các đồng chí ở Hội đồng Bộ trưởng hiểu và thông cảm được. Hơn hai tháng sau, ngày 24 tháng 6 năm 1981, Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng ban hành văn bản 2311/V7, chấp thuận cho ngành thủy sản làm thử cơ chế Tự cân đối tự trang trải, và yêu cầu các cơ quan quản lý hữu quan hỗ trợ Seaprodex làm đầu mối thực hiện.
Khi Bộ Thủy sản tổ chức hội nghị với các ngành và các địa phương tại Hà Nội để bàn triển khai văn bản 2311/V7, có hai đại diện của Văn phòng 7 Hội đồng Bộ trưởng và Bộ Tài chính phản đối kịch liệt chính sách sử dụng ngoại tệ 30/70. Tôi phải lên tiếng:
- Đề nghị hai anh nói cho rõ: Ý kiến phản đối đó là của Hội đồng Bộ trưởng, của Bộ Tài chính hay của cá nhân hai anh?
Hai quan chức đó giải thích rằng ý kiến đó chiểu theo chính sách sử dụng ngoại tệ của Đảng và Nhà nước. Thế là tôi phải công bố:
- Bộ Thủy sản chịu trách nhiệm về vấn đề này và chúng ta triển khai thực hiện ngay cơ chế 30/70!
Những tưởng đã thống nhất được kế hoạch, ai ngờ lại có thêm ý kiến của chuyên viên Bộ Thủy sản Hoàng Vinh, đề xuất giao cho bộ trưởng Thủy sản quản lý 70% quyền sử dụng ngoại tệ! Tôi đáp lại:
- Nếu 70% ấy mà đưa cho Bộ Thủy sản quản thì cứ để Nhà nước nắm còn dễ thở hơn. Thôi, không bàn thêm nữa!
Sau đó, Phó Chủ tịch thường trực Hội đồng Bộ trưởng Lê Thanh Nghị triệu tập tôi, yêu cầu trình bày rõ: Thực hiện cơ chế mới thì hiệu quả thực tế ra sao, ngư dân được gì, các cơ sở sản xuất - kinh doanh được gì, Nhà nước được gì? Phó thủ tướng còn hỏi thêm nhiều điều cặn kẽ khác. Sau khi nghe tôi trình bày rõ ràng, khúc chiết, ông mới tạm yên tâm, nhưng vẫn yêu cầu vừa làm vừa tiếp tục nghiên cứu thực tiễn và hoàn chỉnh cung cách làm ăn theo cơ chế mới.
Lần khác, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Trần Quỳnh tổ chức cuộc họp kiểm điểm tình hình xuất khẩu ở các tỉnh miền Tây. Một vị là Phó Chủ tịch tỉnh Kiên Giang đứng lên phê phán:
- Bộ Thủy sản làm gì mà được quyền sử dụng 70% ngoại tệ làm được?
Biết đó là sự hiểu lầm vì thông tin đến với họ không đầy đủ và không chính xác, tôi chẳng cần thanh minh nhiều. Đến khi anh Tư Mao, thứ trưởng Bộ Thủy sản, về công tác Kiên Giang, gặp vị phó chủ tịch ấy thì chính vị ấy thừa nhận rằng đã hiểu lầm nên phê phán sai, mà không thấy đại diện Bộ Thủy sản phản ứng gì nên ngay sau đó đã bị thuyết phục.
***
Nhờ được giữ lại 70% ngoại tệ làm ra để tự trang trải các khoản chi phí, ngành thủy sản giành được thế chủ động trong kinh doanh, thực hiện việc thanh toán nhanh chóng và thuận tiện với ngư dân, kích thích các thành phần kinh tế làm ra hàng thủy sản xuất khẩu. Cơ chế mới khuyến khích hầu hết các xí nghiệp chế biến thủy sản đông lạnh trong ngành tự làm, tự chịu trách nhiệm và Seaprodex trở thành đầu mối xuất nhập khẩu. Dù không được Nhà nước đầu tư như thời kỳ 1976 – 1980, ngành thủy sản nhanh chóng tự cân đối được, lại còn đầu tư vào sản xuất mạnh mẽ hơn, chấm dứt thời kỳ khủng hoảng, chuyển sang giai đoạn tăng tốc phát triển. Về bản chất, cơ chế Tự cân đối tự trang trải nhờ đột phá bằng khâu xuất nhập khẩu theo cơ chế thị trường đã giải phóng được sức sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất - kinh doanh trước tiên là của nghề cá, sau này lan sang một số ngành kinh tế khác, tạo được bước ngoặt kỳ diệu, chấm dứt thời kỳ tụt dài đến đáy vực phá sản, chuyển sang thời kỳ mới với tốc độ phát triển ngày một cao.
Sau này, có người hỏi tôi rằng trong lúc cả nước rơi vào tình thế khủng hoảng, lạm phát phi mã triền miên, các ngành kinh tế đều hết sức khó khăn, riêng ngành thủy sản đã tụt dài, tụt thẳng đứng mà sao lại đột phá như vậy được? Quả thật, lúc đó phải nhìn thẳng vào thực tiễn, nắm vững được bản chất và quy luật của khủng hoảng, vận dụng tri thức mới với quyết tâm như thời đánh Pháp, đánh Mỹ thì mới thành công. Thủy sản là ngành lâm vào khủng hoảng sớm và nặng nề nhất. Đảng và Nhà nước khi đã cạn kiệt khả năng bao cấp, phải “thả nổi” xuất khẩu thủy sản, làm được thì tồn tại, không làm được thì bỏ. Cơ chế Tự cân đối tự trang trải mở ra một hướng chiến lược đúng đắn, hoàn toàn vì nước vì dân. Cơ chế mới tỏ ra phù hợp với quy luật phát triển, kích thích được khả năng sáng tạo của quần chúng nhờ được tự chủ sản xuất - kinh doanh. Mặt khác, cũng nhờ mở lối vào thị trường tư bản chủ nghĩa, ngành thủy sản thu được ngoại tệ mạnh, sử dụng hiệu quả 70% kim ngạch xuất khẩu Nhà nước đã cho phép. Cơ chế Tự cân đối tự trang trải được vận dụng cho toàn ngành thủy sản, chứ không cho riêng đơn vị nào. Seaprodex là một doanh nghiệp chuyên xuất khẩu thủy sản nên đã trở thành đơn vị chủ công đột phá mở đầu. Lúc đó, tôi là thứ trưởng kiêm giám đốc Seaprodex, rồi kiêm cả chủ tịch Liên đoàn Xuất nhập khẩu thủy sản Việt Nam nên có điều kiện thuận lợi để tổ chức quản lý và điều hành toàn ngành vận dụng cơ chế mới, mà bản chất là cơ chế thị trường. Tôi luôn định hướng rõ ràng là Seaprodex phải hướng về nghề cá nhân dân, phải làm tốt vai trò của một nậu vựa đỏ, ra sức hỗ trợ cho nghề cá địa phương bằng cả sức người và sức của. Nhờ vậy, trong thời kỳ vận dụng cơ chế Tự cân đối tự trang trải, sự đồng tâm, nhất trí trong toàn ngành thủy sản rất cao. Năm 1984, khi tới dự hội nghị tổng kết năm của ngành thủy sản, Tổng Bí thư Lê Duẩn đánh giá và chỉ thị: “Ngành kinh tế thủy sản là một mũi nhọn rất quan trọng, góp phần tăng nhanh xuất khẩu của đất nước. Cung cách làm ăn mới đóng vai trò quyết định trong việc nâng cao năng suất và hiệu quả của nền kinh tế, có ý nghĩa chiến lược trong sự nghiệp đưa đất nước từ nền sản xuất nhỏ lên nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa”. Thành công cứ nối tiếp thành công. Chỉ tiếc rằng sau khi tôi nghỉ hưu, những quan điểm và định hướng chiến lược phát triển Seaprodex bị bẻ ghi, cơ chế Tự cân đối tự trang trải đã hòa nhập vào cơ chế chung, mà thực chất là cơ chế thị trường. Seaprodex không còn phát huy được vai trò “anh cả đỏ” như trước nữa.
Chính nhờ cơ chế Tự cân đối tự trang trải mà Seaprodex tích lũy được nguồn vốn tự có rất đáng kể (vốn của Nhà nước lúc đó chỉ chiếm 5%), lại có mối quan hệ tốt với các khách hàng nước ngoài nên có khả năng mua chịu trả chậm hàng trăm triệu USD. Seaprodex làm được tín dụng cho các địa phương, trong khi hệ thống ngân hàng bất lực vì không có vốn. Cơ chế Tự cân đối tự trang trải còn kích thích, làm bật ra những cách làm ăn mới đầy sáng tạo như liên doanh, liên kết ngang dọc cả trong, ngoài ngành. Nhờ liên kết trong ngành mà sản lượng thủy sản của nhiều địa phương tăng nhanh. Đã có thời gian Seaprodex lập được khoảng ba chục đơn vị liên doanh tại các địa phương để tạo nguồn nguyên liệu thủy sản cho xuất khẩu. Nhờ liên kết với ngành khác mà đầu vào, đầu ra cho sản xuất của nhiều nhà máy, xí nghiệp của các ngành dệt may, xăng dầu, sữa, điện tử, phân bón, hóa chất… được tháo gỡ. Seaprodex cung ứng vật tư đầu vào cho các nhà máy, xí nghiệp để đổi lấy thành phẩm của họ, trao đổi cho các cơ sở sản xuất và ngư dân tại các địa phương (khi đó gọi là xuất khẩu tại chỗ). Cho đến nay, dù đã trải qua 20 năm sau thời kỳ vận dụng cơ chế Tự cân đối tự trang trải, nhiều địa phương vẫn giữ được những kỷ niệm tốt đẹp về quan hệ liên doanh, liên kết với Seaprodex, trong đó có cả các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng. Seaprodex nhập khẩu vật tư thiết yếu phục vụ sản xuất của các địa phương giá trị hàng triệu USD và nhận lại bằng hàng nội địa như xe đạp, hàng kim khí. Nhiều doanh nghiệp như Dệt Thành Công, May Việt Tiến, Len Vĩnh Thịnh, Vinamilk, Tổng công ty Xăng dầu… đánh giá cao sự hợp tác với Seaprodex. Nếu không có sự hợp tác đầy thiện chí, trách nhiệm và sòng phẳng như vậy thì họ không có được những thành quả tốt đẹp như hôm nay. Có thời gian, thủ tướng Phạm Hùng còn yêu cầu ngành thủy sản giúp Nhà nước nhập về một số vật tư thiết yếu cho các ngành công nghiệp khác, giá trị gần 100 triệu USD (gọi là kế hoạch T25, T30). Sau đó, Bộ Tài chính thanh toán lại cho Seaprodex bằng tiền đồng Việt Nam.
Từ quan hệ thương mại thuần túy, Seaprodex lựa chọn được những khách hàng có tiềm năng và đáng tin cậy để mở ra quan hệ hợp tác đầu tư. Một trong những công ty liên doanh đầu tiên của Việt Nam với nước ngoài là Vatech, liên doanh với Úc, đặt trụ sở ở Đà Nẵng. Vatech có tổng vốn đầu tư là 120 triệu USD, lúc đầu phía nước ngoài góp 3 triệu USD, phía Việt Nam 1 triệu USD để đưa nghề nuôi tôm sú vào nước ta.
Phía bạn cử chuyên gia có kinh nghiệm từ nhiều nước như Úc, Mỹ, Thái Lan, Đài Loan sang cùng ta khảo sát vùng ven biển miền Trung, sau đó nhập tôm bố mẹ, cho đẻ thành công và chuyển đi nuôi tại 90 ao nuôi ở các tỉnh từ Bình Trị Thiên vào đến Ninh Thuận, Bình Thuận. Kết quả ban đầu rất khả quan, khoảng một nửa số ao nuôi cho năng suất từ 2 đến 4 tấn tôm/ha. Việc đánh giá và sơ kết đã được tiến hành để chuẩn bị nuôi tôm vụ thứ hai thì một bất ngờ xảy ra: phía đối tác Úc bị phá sản! Do không có biện pháp cứu vãn tình thế, đối tác Úc đành phải bỏ liên doanh với Seaprodex, ra về tay trắng. Toàn bộ công sức, trang thiết bị đầu tư vào nuôi tôm giống cũng như nuôi tôm thương phẩm được chuyển cho các địa phương quản. Từ đó, phong trào nuôi tôm sú ở miền Trung bật lên và đến nay, Việt Nam đã trở thành cường quốc về tôm sú.
Giữa Việt Nam và Liên Xô từ lâu đã có sự hợp tác trong nghề cá, có hẳn Ủy ban Hỗn hợp nghề cá Xô – Việt. Tôi và ông Guschenco - thứ trưởng Bộ Nghề cá Liên Xô làm đồng chủ tịch, nhiệm kỳ mười năm. Nhận thấy các cơ hội kinh doanh và đầu tư tại Liên Xô, cụ thể là ở vùng Viễn Đông rất thuận lợi, sau khi bàn bạc kỹ với đối tác là Liên hiệp Ngư trang Sakhalin, chúng tôi lập ra một liên doanh mới mang tên SEASAFICO tại Sakhalin. Mỗi bên góp 50% vốn đầu tư, mô hình quản lý có đồng chủ tịch và đồng tổng giám đốc, thời gian hoạt động 21 năm. Lấy liên doanh này làm bàn đạp, Seaprodex mở tiếp quan hệ hợp tác đánh cá ba bên (thêm đối tác Nhật Bản) tại vùng biển của Nga. Sự hợp tác ngay từ bước đầu đã rất thuận lợi. Vùng biển này rất nhiều cá, thường một mẻ có thể thu hoạch được tới 400 tấn cá và chính SEASAFICO đã làm được như vậy. Sau khi chế biến, xuất khẩu, mỗi năm đạt khoảng trên dưới 200 triệu USD, lợi nhuận rất cao. Sau một thời gian hợp tác, nguồn vốn của SEASAFICO đã lên 50 triệu USD. Từ đó, chúng tôi lên kế hoạch mở rộng hoạt động bằng cách thu hút thêm vốn của nước khác là Pháp, Nhật, Hàn Quốc và Úc.
Để tiến tới ký kết hợp đồng liên doanh nhiều bên, chúng tôi tổ chức một chuyến tham quan nghiên cứu thị trường Nga. Tôi là trưởng đoàn, còn thành viên là các nhà đầu tư Pháp, Nhật, Hàn Quốc và Úc, nhưng dưới danh nghĩa là chuyên gia của phía Việt Nam, được Đại sứ quán Liên Xô tại Hà Nội cấp visa. Khi đoàn tới vùng Sakhalin, phía Nga đón tiếp rất chu đáo, dùng máy bay trực thăng đưa khách đi khảo sát. Các nhà đầu tư Pháp, Nhật, Hàn, Úc đều rất ngạc nhiên và thán phục Việt Nam có thể hợp tác được chặt chẽ với Nga như thế, vì cơ sở vất chất của Seasafico đã có nhà máy chế biến thủy sản, cầu cảng, cơ sở dịch vụ hậu cần khá hoành tráng, bền vững. Thế là các nhà đầu tư Pháp tin tưởng, bỏ tiền đầu tư trước hết vào Việt Nam để sau đó sẽ đầu tư tiếp sang Nga, dự kiến xây dựng một khu liên hợp Xô - Việt - Pháp. Phía Liên Xô đã sẵn sàng cấp cho liên doanh này quota khai thác cua biển hàng năm từ ba đến bốn trăm tấn (loại cua lớn, mỗi con nặng tới bảy ký, giá bán 50.000USD/tấn).
Phía Nhật và Hàn Quốc đề xuất thành lập một hiệp hội khai thác cá biển gồm Nga, Nhật, Hàn, Việt, Úc. Chúng tôi bàn để lập một ủy ban hỗn hợp quốc tế và đối tác phía Nhật đã làm thủ tục để đại diện các bên Việt, Nga, Hàn làm việc với Bộ Nghề cá Nhật Bản. Tuy nhiên, Bộ Nghề cá Nhật Bản cho rằng họ không có đủ thẩm quyền cho phép thành lập một hiệp hội với đối tác nước ngoài, mà phải đề đạt lên tận Quốc hội, rất tốn kém công sức và thời gian. Họ khuyên chúng tôi nên thành lập Ban Điều phối khai thác cá tại vùng biển Nga - Nhật - Triều và tôi được đề cử làm trưởng ban. Lúc đầu tôi không nhận vì không rành về nghề đánh cá, mà lại đánh ở vùng biển lạ. Nhưng các đối tác nước ngoài cứ cố gắng thuyết phục, nói là tôi chỉ cần giữ vị trí danh nghĩa đảm bảo cho việc hợp tác trôi chảy, còn công việc cụ thể đã có lực lượng đầy đủ rồi. Tôi chỉ phải ký vào các văn bản cần thiết và dự họp sơ kết, tổng kết. Cuối cùng tôi nhận lời cùng sự trợ giúp của anh Trần Nhất Anh, giám đốc Seaprodex Hà Nội. Sau khi ký kết các văn bản hợp tác, tôi đến Tokyo gặp đại sứ Việt Nam tại Nhật Bản là anh Võ Văn Sung. Anh Sung lấy làm ngạc nhiên khi biết chúng tôi được Bộ Nghề cá Nhật Bản tiếp đón chu đáo và long trọng quá vì cách đó không lâu, một thứ trưởng của ta sang công tác mà họ chỉ cử một vụ phó đón tiếp. Thế mới biết người Nhật rất biết giá trị của cái họ cần: họ biết chúng tôi là các doanh nhân đi làm kinh doanh và tạo ra được lợi ích cho tất cả các bên tham gia, trong đó có lợi ích của người Nhật, nên có cách tiếp đón phù hợp, không theo kiểu xã giao thông thường. Tôi còn nhớ khi cùng các khách Nga đi siêu thị của Nhật, một anh giám đốc ngư trang Nga nói đùa rằng:
- Hàng hóa của Nhật không ưu việt bằng hàng của Nga!
Tôi biết là anh ấy nói vui, hỏi lại:
- Thật vậy à?
- Hàng Nga không cần chọn, mua được ngay. Còn hàng Nhật thì không biết chọn thứ gì vì… nhiều quá!
Kết thúc vụ đánh cá đó, điều tôi không ngờ tới là các đối tác quyết định trả công chắp mối và thù lao cho chức trưởng ban Điều phối khai thác cá những 7 triệu USD! Họ nói tôi muốn gửi số tiền đó vào tài khoản nào, ở đâu cũng được. Dù ở thời điểm nào thì số tiền đó cũng quá lớn. Lúc ấy, thật sự là tôi chỉ nghĩ lãnh đạo anh em làm sao tạo được hiệu quả cao để tiếp tục phát triển quan hệ hợp tác với nước ngoài, không hề nghĩ gì đến quyền lợi cá nhân. Vì vậy, tôi bàn với anh Trần Nhất Anh cho chuyển tiền vào tài khoản của Seaprodex Hà Nội, vì đơn vị này còn nghèo. Tôi yêu cầu anh Trần Nhất Anh dùng số tiền đó để đầu tư hai dây chuyền sản xuất mì ăn liền tại Nga, một dây chuyền chế biến surimi và xây dựng một nhà máy bia tại Hà Nội (vì trước đó, chúng tôi đã đã hứa với các anh Đỗ Mười và Võ Văn Kiệt sẽ đầu tư vào Hà Nội). Tiếc là Nhất Anh cứ chần chừ, do cấp dưới sợ đầu tư không có hiệu quả. Sau đó, Seaprodex Hà Nội dùng số tiền đó để kinh doanh. Đến khi Bộ Thủy sản và Bộ Tài chính kiểm tra tình hình tài chính đã phát hiện ra nguồn vốn đó, họ yêu cầu nộp toàn bộ số tiền 7 triệu USD vào ngân sách Nhà nước, còn dọa sẽ khởi tố. Tôi đã nói với anh Nhất Anh rằng nếu anh ấy thực hiện theo ý kiến tôi thì kết quả đã quá tốt đẹp. Đó là nguồn vốn tự có được Nhà nước cho phép sử dụng, làm sao mà khởi tố được, cũng chẳng phải nộp cho ai cả, chỉ sợ Seaprodex Hà Nội sử dụng nó không rõ ràng, minh bạch mà thôi. Seaprodex Hà Nội đã phải mất công giải trình mãi, rốt cuộc Bộ Tài chính thông cảm, chỉ bắt nộp 3,5 triệu USD vào ngân sách Nhà nước, 50% còn lại được phép giữ lại làm vốn kinh doanh. Một số anh em sau này khi biết chuyện đã cho rằng tôi quá khờ, quá cuồng tín, giá như biết sớm thì họ tư vấn cho tôi cách xử lý số tiền đó một cách dễ dàng. Tôi chỉ cười thầm.
Nếu nói dại khờ thì đúng là tôi không biết tranh thủ kiếm chác cho bản thân. Khi tôi làm chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Seaprimfico, liên doanh này có ý định ưu tiên bán chịu cho tôi căn nhà là tài sản của họ tại số 100 đường Lê Thị Hồng Gấm, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh, ba năm sau mới phải trả hết số tiền 65 ngàn USD, nhưng tôi cũng từ chối. Căn nhà ấy sau đó có người mua với giá gần 500 cây vàng.
(còn tiếp)
Nguồn: Minh bạch. Tự truyện của Nguyễn Hồng Cẩn. NXB Văn học, 6-2010.
www.trieuxuan.info
|