Một lực lượng khác cũng nhiệt tình theo sát quá trình đổi mới của Seaprodex. Đó là các nhà văn, nhà thơ, nhà báo. Từ thực tế đổi mới của đất nước và ngành thủy sản, nhà thơ Nguyễn Duy viết bài thơ hay Đánh thức tiềm lực, nhà văn Triệu Xuân viết những cuốn tiểu thuyết dũng cảm dự báo và ủng hộ sự nghiệp đổi mới như Giấy trắng, Trả giá, Sóng lừng… và nhiều ký sự, phóng sự về thủy sản, nhà làm phim Xuân Phượng, các nhà báo Trần Vinh (báo Nhân dân), Minh Huệ (Thông tấn xã Việt Nam)… đã hết lòng ủng hộ mô hình Seaprodex.
Nhà văn Triệu Xuân viết cuốn tiểu thuyết Trả giá năm 1987, xuất bản lần đầu năm 1988, rất thành công, được Giải thưởng Văn học về đề tài công nhân của Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam giai đoạn 1986-1990; được các nhà xuất bản tái bản tái bản nhiều lần trong 22 năm qua1. Tôi gặp Triệu Xuân lần đầu tiên do anh Tư Hà, Phó Tổng Giám đốc giới thiệu. Anh Tư Hà bảo có một nhà báo đến phỏng vấn tôi. Đó là dịp Hội nghị Tổng kết năm 1981. Trước đó tôi đã nghe nói nhiều về cuốn tiểu thuyết Giấy trắng nổi tiếng2. Anh Trương Thanh Hà là một trong những người rất say mê Giấy trắng, mỗi khi Giấy trắng tái bản, anh đều mua về, đóng bìa bọc da để trang trọng trên tủ sách! Triệu Xuân là một nhà báo năng động, có nhiều phóng sự điều tra phát trên Đài Tiếng nói Việt Nam và in trên một số tờ báo, đến nay tôi vẫn lưu giữ. Thế nhưng tôi đâu có biết rằng ngoài chuyện viết phóng sự, anh gắn bó với Seaprodex còn là để viết văn! Sau sáu năm trời lăn lộn với thực tế của ngư dân Nam Bộ, của các doanh nghiệp thủy sản từ miền Trung vào tới Cà Mau, Rạch Giá, nhà văn Triệu Xuân đã tích tụ vốn sống để viết cuốn Trả giá. Phải chăng nhờ thế mà tiểu thuyết Trả giá ngồn ngộn chất sống, nóng hổi hiện thực, hiện thực của một thời nhiều nỗi buồn đau xót xa, bức xúc... nhưng cũng đầy vinh quang. Tôi rất mê hình tượng ông Hai Mắm, một ngư dân bị áp bức tới mức không chịu nổi đành phải trốn đi, tha hương vào Nam lập nghiệp. Nhờ tình yêu biển, yêu nghề như yêu thương vợ con mình, nhờ tài năng và lòng dũng cảm, nghị lực phi thường, Hai Mắm đã trở thành một người giầu có, một chủ xưởng đông lạnh. Trong kháng chiến chống Mỹ, gia đình ông đã hăng hái, tự nguyện đóng góp sức người và tài sản cho cách mạng, đã từng nuôi giấu cán bộ cao cấp thoát khỏi sự truy lùng của giặc. Vậy mà sau Giải phóng, ông bị cải tạo, bị chụp cho cái tội bóc lột, ôm chân Mỹ ngụy! Tài sản bị tịch thu, ông trắng tay, con trai lớn bị tù oan... Ông Hai Mắm biệt tích! Kẻ xấu tung tin ông vượt biên. Thực ra, ông lẳng lặng vào sâu trong rừng tràm, rừng đước lập nên một ngư trang nuôi tôm, nuôi cá... Ông làm ăn phát đạt không phải để làm giầu một lần nữa mà là để chứng tỏ nhân cách của mình! Ôi con người Việt Nam đáng kính phục nể trọng vô cùng! Tôi rất thích lời đề trên đầu sách Trả giá: "Mỗi con người, mỗi gia đình, mỗi dân tộc đều phải trả giá rất đắt cho những thành đạt cũng như những sai lầm của mình"! Trả giá là tác phẩm ủng hộ, khích lệ cho Seaprodex và ngành thủy sản đi đầu trong công cuộc đổi mới. Trả giá dũng cảm phê phán những sai lầm, ấu trĩ trong đường lối, chính sách kinh tế xã hội những năm trước thời kỳ Đổi mới; lên án những cán bộ có chức có quyền tha hoá, biến chất, làm dân nghèo nước mạt; vạch trần những mảng tối của cuộc sống... Trả giá ca ngợi những con người có tâm đức, tài năng, ham lao động, sáng tạo, quên mình vì nghĩa lớn, vượt lên những khó khăn gian khổ, những oan khuất, để sống hết mình vì những điều tốt đẹp, nghĩa tình, có ích cho dân cho nước... Trả giá ca ngợi sức mạnh sáng tạo của nhân dân, nhấn mạnh một chân lý là: xa rời nhân dân thì chỉ có thất bại, xa rời nhân dân là có tội! Vào thời điểm của năm 1986-1987, khi nhà văn Triệu Xuân sáng tác Trả giá, thể hiện được điều đó là rất dũng cảm. Tác phẩm mang tính dự báo cao. Tôi nhấn mạnh cuốn tiểu thuyết này để nói rằng Đổi mới là phải trả giá, cả cuộc đời tôi là sự dấn thân, trả giá!
***
Mô hình Seaprodex là công lao của tập thể cán bộ, công nhân viên Seaprodex trong việc thực hiện thành công nhiều nhiệm vụ cụ thể, để Seaprodex trở thành “anh cả đỏ”, là người bạn đồng hành, cũng là chỗ dựa vững chắc cho các địa phương suốt hơn mười năm trời, từ 1981 đến đầu thập niên 1990. Đó là các anh phó giám đốc Seaprodex như Trần Tôn, Tám Xích, Trần Minh Phú, Trương Thanh Hà, Ngô Văn Nghiêm, Trần Nhất Anh, Nguyễn Chước, Kiều Văn Quơ, Lê Văn Phát, Nguyễn Ngọc Sơn; là giám đốc các đơn vị thành viên như Năm Tạo, Hai Hoa, Ba Dung, Ba Đời, Thái Xứng, Hai Trứ, Sáu Sáng, Đặng Tấn Mai, Trần Hùng, Nguyễn Hữu Thắng…, có cả những gương mặt nữ như các chị Thái Song Nguyệt, Nguyễn Thị Nguyệt, Trần Thị Gia Ninh, Nguyễn Thị Thanh, Đỗ Thị Quảng… cùng các trưởng phòng ban và nhiều cán bộ, chuyên viên khối văn phòng công ty như Phạm Văn Cúc, Bùi Văn Tâm, Nguyễn Chiến Thắng, Hà Quang Hiến, Lê Xuân Toàn, Lê Quang Huỳnh, Lê Văn Minh, Phan Xuân Trang, Lê Hữu Dinh, Lương Khắc Dũng, Nguyễn Xuân Sính…
Có thể khẳng định rằng cơ chế Tự cân đối tự trang trải đem lại thành công cho ngành thủy sản cà một số ngành khác là nhờ sự đóng góp của rất nhiều người, từ những người ủng hộ để Nhà nước cho phép làm thử đến các cán bộ ngành thủy sản tại các địa phương và bà con ngư dân cùng nhiều bạn bè ngành khác, hoạt động trong những lĩnh vực khác. Cơ chế Tự cân đối tự trang trải không phải là của riêng Seaprodex, mà là của toàn ngành thủy sản. Thế nhưng, khi tổng kết quá trình đổi mới của ngành thủy sản thì thực tế đó không được đánh giá đúng mức. Khi đó tại Seaprodex đang có những lục đục nội bộ, Bộ Thủy sản đành phải gắng gượng gán cho Công ty Xuất nhập khẩu thủy đặc sản (Seaspimex) và Công ty Xuất nhập khẩu thủy sản miền Trung (Seaprodex Đà Nẵng) danh hiệu Anh hùng lao động trong thời kỳ đổi mới. Lẽ ra, ngành xuất khẩu thủy sản mới đáng được suy tôn là anh hùng. Thiết nghĩ, Hội Nghề cá Việt Nam và Hiệp hội Chế biến, Xuất nhập khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) nên nghiên cứu để có dịp phù hợp thì suy tôn ngành xuất khẩu thủy sản và khẳng định thực tế đó trong lịch sử xây dựng và phát triển nghề cá Việt Nam.
Có lần, tôi gặp anh Nguyễn Tấn Trịnh (lúc đó đã không còn làm bộ trưởng nữa) đề nghị hàng năm nên tổ chức một ngày họp mặt truyền thống. Nên mời những người có công đầu trong việc xây dựng cơ chế mới, ôn lại truyền thống, góp sức xây dựng tài liệu lịch sử phát triển nghề cá Việt Nam, tiến tới hình thành bảo tàng truyền thống của nghề cá Việt Nam. Tiếc rằng ý tưởng ấy không được thực hiện. Lẽ ra, hằng năm Bộ Thủy sản và Seaprodex phải tổ chức gặp mặt để thăm hỏi và cảm ơn các nhà khoa học, nhà văn, nhà báo và nhiều người khác đã gắn bó và có công với ngành trong suốt quá trình đổi mới, nhưng tiếc rằng cũng không làm được, thậm chí chiếc huy chương Vì sự nghiệp phát triển nghề cá cũng không trao tặng cho họ! Đến khi các doanh nghiệp chuyển sang dạng hình công ty cổ phần, lẽ ra những người có công phải được mua cổ phần, để một mặt ghi công họ, mặt khác tạo ra sợi dây gắn bó họ với doanh nghiệp mà trước đây họ đã hết lòng, hết sức cống hiến nhưng chẳng ai đếm xỉa đến cả. Đó là sự đối xử không công bằng, không có trước có sau, không biết ơn người đi trước và là một vết xấu đáng buồn.
Sau khi tôi nghỉ hưu, Bộ giao cho thứ trưởng Huỳnh Công Hòa phụ trách Liên đoàn Xuất nhập khẩu thủy sản nhưng Liên đoàn bị mất phương hướng hoạt động, tách rời khỏi Seaprodex mà không biết dựa vào ai, hơn nữa Seaprodex đã bị bẻ ghi, hoạt động như một doanh nghiệp riêng lẻ đơn thuần, không còn là đơn vị tài trợ cho các hoạt động chung của ngành được như trước (trước đây, Seaprodex lo chu cấp mọi khoản chi phí, nặng nhất là các chuyến đi khảo sát thị trường nước ngoài cho các địa phương, có chuyến đi tốn tới 70 ngàn USD). Liên đoàn không thể tồn tại lắt leo như vậy, trong khi các cơ sở sản xuất - kinh doanh xuất khẩu thủy sản và nhịp độ xuất khẩu bị chựng lại nên phải làm thủ tục giải thể. Mặt khác, do cơ chế đã thay đổi, đến lúc phải lập ra một tổ chức phi chính phủ, mang tính chất là hội nghề nghiệp, hội quần chúng cho phù hợp với hoàn cảnh. Bộ Thủy sản đã mời tôi làm trưởng ban vận động thành lập Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam và tôi đã nhận lời. Tôi cùng các thành viên của ban vận động đã hào hứng đặt những viên đá đầu tiên để xây dựng nền móng cho Hiệp hội, được các doanh nghiệp trong ngành và các địa phương nhiệt liệt hưởng ứng, mọi việc chuẩn bị cho sự ra đời của Hiệp hội khá suôn sẻ. Dưới sự chỉ đạo của Bộ Thủy sản, chúng tôi đã tổ chức đại hội thành lập Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) vào tháng 6 năm 1998. Sau khi bầu xong Chủ tịch đoàn để điều khiển đại hội, tôi đại diện ban vận động thành lập VASEP đọc báo cáo bàn giao cho Chủ tịch đoàn để tiếp tục hoàn tất các nội dung đại hội. Tiếc rằng bản báo cáo có tính chất lịch sử ấy đã bị thất lạc, tôi chỉ có thể tóm tắt lại vài điều cơ bản sau đây: Thời gian qua, Seaprodex đã được bẻ ghi sang hướng khác, không còn giữ được ngọn cờ của ngành, Liên đoàn Xuất nhập khẩu thủy sản vì thế cũng không còn sức hoạt động như trước, mất phương hướng nên phải giải thể. Đó là một bài học đắt giá, cho thấy một khi Seaprodex và Liên đoàn không kịp đổi mới để thích nghi với những đòi hỏi của thực tế thì tất yếu không thể giữ được vị trí và vai trò lịch sử được nữa. VASEP ra đời đúng lúc và có khả năng đáp ứng được những đòi hỏi ngày một lớn, đa dạng và phức tạp của sản xuất - kinh doanh - dịch vụ xuất nhập khẩu thủy sản. Đang có nhiều cơ hội để VASEP phất cao ngọn cờ tiếp nối truyền thống Tự cân đối tự trang trải cùng triết lý Mở và hội tụ, tìm ra những phương thức hoạt động mới, sáng tạo hơn để tiếp tục giữ vững sự hội tụ các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu thủy sản, nâng cao phong trào sản xuất – kinh doanh xuất nhập khẩu thủy sản trong toàn quốc, hướng tới mục tiêu đạt giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản 1 tỷ USD và tiến đến vài tỷ USD…
Đánh giá một cách công bằng, suốt hơn mười năm qua, VASEP đã khá thành công trong việc tập hợp lực lượng các nhà chế biến và xuất khẩu thủy sản, giúp các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản đi ra thế giới, đảm bảo tốt việc cung cấp thông tin thị trường và còn chủ động đại diện các doanh nghiệp trong việc đấu tranh chống các thủ đoạn đánh thuế bán phá giá tôm cá của Việt Nam tại Mỹ và một vài nước châu Âu. Bản thân tôi luôn gắn bó với VASEP cũng như với Hội Nghề cá Việt Nam, luôn mong hai tổ chức này hợp tác, liên minh với nhau và thường xuyên đổi mới, trước hết là đổi mới tư duy để trở thành lực lượng đại diện cho mọi thành phần sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong nghề cá, đáp ứng được nguyện vọng của các hội viên, theo kịp những đổi thay của kinh tế - xã hội đất nước, của thị trường nhằm góp phần tích cực đưa nghề cá nước nhà phát triển bền vững.
Cách đây khoảng ba năm, trong lần đi trên đường Đồng Khởi, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh, tôi gặp lại anh Nguyễn Văn Ích, nguyên phó chủ nhiệm Văn phòng V7 của Hội đồng Bộ trưởng. Anh Ích là người rất am hiểu về Seaprodex, đã giúp đỡ chúng tôi rất vô tư. Tôi cùng anh ấy rẽ vào số 4 Đồng Khởi - Văn phòng Tổng công ty Thủy sản Việt Nam - ngồi chuyện trò. Anh Ích nhắc lại những chuyện xưa rồi kết luận:
- Số anh kể cũng không may. Nếu cứ để anh làm việc tiếp một thời gian nữa thì Seaprodex có thể đã thành một tập đoàn vững mạnh của ngành thủy sản, của đất nước rồi! Nhớ lại hồi đó, chúng tôi đã giúp được cho Seaprodex nhiều việc, nhưng giỏi lắm là được các anh biếu một chai rượu Tây! Còn bây giờ thì khác xa ngày xưa lắm.
Sự thật là như thế! Nếu lúc đó tôi cho phép chi tiêu rộng rãi hơn, chịu khó quan hệ ngoại giao và quà cáp như thời nay thì cũng có thể công việc thuận lợi hơn. Nhưng biết đâu, làm như vậy chúng tôi chắc gì đã thoát được sự nhòm ngó, xem xét vì “đi đêm lắm cũng có ngày gặp ma” và chắc gì đã thoát khỏi tai bay vạ gió.
***
Có một câu hỏi được nhiều người đặt ra: Seaprodex là một đơn vị có công lớn trong quá trình đổi mới của ngành thủy sản, nổi lên như một điển hình làm ăn hiệu quả trong thập niên 1980. Vậy tại sao từ năm 1992 đến nay cứ liên tục sa sút, rơi vào thế khủng hoảng triền miên và tiếp tục trì trệ, bất ổn, không tìm được lối ra, bị các doanh nghiệp khác trong ngành tại các địa phương bỏ xa khoảng mười năm, trong khi trước đây Seaprodex đã vượt xa hơn họ hàng chục năm? Câu trả lời khó mà dễ. Khó là nhiều người không hiểu bản chất của sự việc, không nắm vững được nguyên nhân quan trọng nhất mà Seaprodex đã tồn tại và phát triển được là luôn hướng về nghề cá nhân dân. Seaprodex theo sát những nhu cầu phát triển của từng địa phương và sẵn sàng đáp ứng mọi đòi hỏi, trên cơ sở nền tảng là mạnh cả về tri thức, kinh nghiệm quản trị, công nghệ lẫn vốn liếng, thị trường. Ngay từ đầu thập niên 1980, để vận động các địa phương cùng vận dụng cơ chế Tự cân đối tự trang trải, Seaprodex đã cử nhiều đoàn cán bộ xuống các tỉnh Minh Hải, Kiên Giang, Hậu Giang… bám trụ hàng năm trời để huấn luyện và xây dựng chế độ quản lý các nhà máy chế biến thủy sản đông lạnh mà không hề lấy một đồng thù lao (trước đó một số địa phương không quản được, đã xin trả lại nhà máy cho Bộ Thủy sản). Từ đó, một tư duy chiến lược thống nhất, liên hoàn hợp tác đã hình thành trong toàn ngành, phát triển đồng đều từ khâu đánh bắt, nuôi trồng đến vận chuyển, chế biến, kho bãi, kỹ nghệ lạnh, xây lắp, tài chính - tín dụng, tin học, thông tin, quảng cáo… Địa phương nào gặp khó khăn, đề nghị giúp đỡ là Seaprodex luôn sẵn sàng. Chẳng những có nhiều bạn hàng quốc tế tin cậy, Seaprodex còn có quan hệ chặt chẽ với các địa phương thông qua các mối quan hệ liên doanh, liên kết. Chính vì vậy, khi Seaprodex gặp rủi ro, mà điển hình là vụ cháy Xí nghiệp Thủy sản đông lạnh số 6, tất cả các doanh nghiệp thủy sản trung ương và địa phương lập tức chung tay hỗ trợ để cấp tốc khắc phục hậu quả. Tôi còn nhớ lúc xảy ra cháy thì tôi đang công tác ở Hà Nội. Anh Phạm Hùng, lúc đó là bộ trưởng Bộ Công an, đã gọi tôi đến chỉ thị về ngay để khắc phục hậu quả và còn lưu ý rằng địa bàn nơi có Xí nghiệp Thủy sản đông lạnh 6 thuộc một đơn vị anh hùng do Bộ Công an phụ trách, do đó phải mau chóng khôi phục lại sản xuất và an ninh trật tự tại khu vực đó. Từ Hà Nội, tôi về thẳng Xí nghiệp, thấy cảnh tượng nhà máy bị cháy trụi mà vô cùng bàng hoàng. Tôi liền triệu tập gấp các cán bộ chủ chốt và cử ngay anh Kiều Văn Quơ – phó giám đốc Seaprodex cùng một số cán bộ khác trực tiếp tổ chức điều hành việc thu dọn hiện trường và lên kế hoạch khắc phục hậu quả với mục tiêu trong vòng ba tháng đưa Xí nghiệp trở lại sản xuất bình thường, hoàn thành cho được kế hoạch sản xuất – kinh doanh cả năm. Mọi yêu cầu của Xí nghiệp đều được đáp ứng mau lẹ, nhân tài vật lực từ mọi nguồn được đổ về, nơi hỗ trợ máy móc, nơi ưu tiên vật liệu xây dựng, nơi chuyển giao nguồn nguyên liệu, vì vậy chưa đầy ba tháng, Xí nghiệp Thủy sản đông lạnh số 6 được khôi phục hoàn toàn và sau đó kế hoạch sản xuất – kinh doanh tại doanh nghiệp ấy cũng được hoàn thành xuất sắc. Khi mọi việc ở Xí nghiệp đã đi vào ổn định, tôi lên báo cáo với anh Phạm Hùng nguyên nhân cháy là do bị chập điện và đề nghị: Giám đốc Xí nghiệp ấy là anh Sáu Sáng đã bị thi hành kỷ luật, nhưng vì đã có công khắc phục hậu quả vụ cháy nên mong cơ quan chức năng không khởi tố. Anh Phạm Hùng đã chấp nhận đề nghị đó. Nói chung, trong giai đoạn 1981 – 1992, tất cả các doanh nghiệp thành viên của Seaprodex đều được ra đời từ công ty mẹ là Seaprodex nên có mối quan hệ rất khăng khít với nhau, nhiều doanh nghiệp trực thuộc sự quản lý của các địa phương vì mang nặng tình nghĩa, cũng sẵn sàng tham gia vào “dòng họ” Seaprodex để được cùng đi chung dưới một ngọn cờ Seaprodex. Trên thực tế, Seaprodex đã hoạt động như một tập đoàn và tên giao dịch quốc tế đã được đổi thành Seaprodex group.
Bước sang thập niên 1990, cơ chế Tự cân đối tự trang trải cùng triết lý Mở và hội tụ vẫn có thời cơ điều chỉnh nâng cao và tiếp tục làm cơ sở cho việc thúc đẩy sản xuất – kinh doanh của nghề cá nước ta, riêng Seaprodex có thể chuyển thành một tập đoàn thủy sản, có đủ năng lực giữ vai trò chủ đạo của ngành thủy sản. Thế nhưng, từ năm 1993 trở đi, do bị buộc phải thi hành nghị định 339/HĐBT, Seaprodex đã bị bẻ ghi sang hướng khác: cả hệ thống bị tách ra thành nhiều doanh nghiệp độc lập, mất đi tính gắn bó truyền thống trong một tập đoàn đã được xây dựng hơn chục năm, từ đó đâm ra bế tắc, mất phương hướng, bỏ bạn hàng, bỏ địa phương, bỏ thị trường, chỉ lo kinh doanh cho riêng mình, vì riêng mình, từ bỏ hẳn triết lý Mở và hội tụ. Đó chính là nguyên nhân cơ bản khiến Seaprodex suy yếu dần và trở thành một tổng công ty trung gian hành chính.
(còn tiếp)
Nguồn: Minh bạch. Tự truyện của Nguyễn Hồng Cẩn. NXB Văn học, 6-2010.
www.trieuxuan.info
|