Hiện nay Seaprodex đang gặp hai mâu thuẫn chính:
- Thứ nhất, vẫn loay hoay chưa xác định được lối ra và hướng đi lên, hết chờ cổ phần hóa nốt khối Văn phòng Tổng công ty lại chờ sáp nhập ba tổng công ty Seaprodex, Biển Đông và Hạ Long làm một. Thời gian sáu năm trôi qua mà Seaprodex chưa có được hệ thống tư duy chiến lược rõ ràng nên chẳng có quyết định chiến lược nào mang tính đột phá. Trong khi bộ máy quản lý đầy đủ cả, hệ thống thành viên trải dài khắp miền đất nước, vốn có, thị trường có, nhưng vẫn không kiểm soát được tình của toàn Tổng công ty. Nhiều bộ phận chuyên môn thuộc khối Văn phòng Tổng công ty ở tình trạng bán thất nghiệp, một số đơn vị thành viên cứ chờ đợi định hướng phát triển chiến lược của Tổng công ty nhưng không thấy Hội đồng Quản trị đề ra được nghị quyết gì nên không có sự đồng thuận trên dưới.
- Thứ hai, trong gần 20 năm qua (từ 1993 đến 2010), mô hình tổ chức của Seaprodex chưa khi nào thật sự ổn định, cứ trải qua hết đợt khủng hoảng này đến đợt khủng hoảng khác. Từ tư duy đến cung cách quản trị, điều hành ngày càng sa vào lề thói trung gian hành chính, kém hiệu lực, xa rời sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, xa rời thị trường, bạn hàng, thậm chí sao nhãng, bỏ quên cả những tài sản nổi như dất đai, nhà cửa. Có thể lấy khu nhà 2 – 4 – 6 Đồng Khởi làm ví dụ. Sau khi tiếp quản Sài Gòn năm 1975, Ban Quân quản đã giao cho Tổng cục Thủy sản miền Nam trực tiếp quản lý khu nhà này và nghiễm nhiên tài sản đó được hiểu là Nhà nước giao cho Bộ Thủy sản. Vậy mà không hiểu bận bịu gì, việc làm giấy tờ, sổ sách khu nhà này không đầy đủ, thành thử năm 2004, cơ quan quản lý nhà đất của thành phố Hồ Chí Minh đã yêu cầu Seaprodex trả lại khu nhà này vì cho rằng đó là tài sản của thành phố. Lúc đó, tôi phải lên tiếng yêu cầu tổng giám đốc Nguyễn Đình Phương, rồi sau đó đề nghị cả chủ tịch Hội đồng Quản trị Võ Phước Hòa khiếu nại lên chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và nhờ Bộ Thủy sản gửi văn bản lên tận thủ tướng Chính phủ để có ý kiến can thiệp. Để mất khu nhà ấy thì Seaprodex bị mất lượng tài sản hữu hình rất lớn, chưa kể tài sản vô hình cũng bị mất theo, lại còn gây tiếng xấu cho Bộ Thủy sản. Thật may là gần đây, Bộ Tài chính đã thống nhất với thành phố Hồ Chí Minh sẽ hóa giá khu nhà 2 - 4 - 6 Đồng Khởi cho Seaprodex, chỉ còn chờ quyết định của thủ tướng Chính phủ. Không chỉ khu nhà này, một vài khu đất ở Vũng Tàu, Đồ Sơn, trong thành phố Hồ Chí Minh cũng bị chiếm dụng, có nơi đã bị địa phương dứt điểm đòi lại, Seaprodex mất hẳn quyền sở hữu… Đó không phải là thái độ vô chủ hay sao?
Có người nói Seaprodex đang là doanh nghiệp trả lương vào loại cao nhất trong số các doanh nghiệp trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Thời nay, thu nhập càng cao thì càng tốt, nhưng nó phải tương xứng với công sức đã bỏ ra, gọi là “đáng đồng tiền bát gạo”. Điều đáng nói là chính một số cán bộ tại khối Văn phòng Tổng công ty cũng thừa nhận rằng thu nhập và năng suất lao động chưa tương xứng, nhưng cơ chế Nhà nước cho phép, thậm chí có người một năm được lĩnh tiền tương đương với 24 tháng lương! Họ còn vui vẻ nói rằng thu nhập đó âu cũng là nhờ thế hệ thứ nhất làm ra, để lại cho thì hưởng, được đồng nào hay đồng nấy, được tháng nào hay tháng nấy. Có ý kiến cho rằng thu nhập cao cũng làm dịu đi một số mâu thuẫn nội bộ.
Tôi được biết từ đầu năm 2010, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã có chỉ đạo về việc sáp nhập Seaprodex, Biển Đông và Hạ Long làm một sau khi ba tổng công ty này chuyển đổi sang dạng hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Trong những lần gặp các anh lãnh đạo Bộ và Seaprodex, tôi đề nghị trước khi sáp nhập ba tổng công ty nên tiếp cận một số vấn đề dưới đây để tránh đi theo vết xe đổ mà Bộ Thủy sản đã mắc phải:
- Một là, cần tìm hiểu rõ nguyên nhân vì sao một số doanh nghiệp trước đây của Bộ Thủy sản không thành công, đành phải chôn cất mà không hề có kết luận gì. Vì sao hệ thống quốc doanh đánh cá, hệ thống cơ khí tàu thuyền, hệ thống các công ty nuôi trồng nội địa, hệ thống công ty kinh doanh thủy sản nội địa theo đủ ba cấp được đầu tư rất lớn, lúc đầu nghĩ sẽ thành công, nhưng sau bị tan biến một cách hợp lý, không kèn không trống? Cả ngành thủy sản mới có được một trường đại học chuyên ngành là Đại học Thủy sản Nha Trang nhưng rồi cũng bị biến hình thành đại học khu vực, đào tạo đa ngành, riêng các ngành chuyên môn về thủy sản thì bị thu hẹp vì lý do gì?
- Hai là, cần đánh giá đúng và thống nhất về sự tiến bộ của ngành thủy sản sau 50 năm xây dựng và phát triển, nhất là trong 30 năm gần đây (1980 – 2010). Nên đánh giá đúng thực chất của những thay đổi cơ bản như: (1) Chuyển từ chế độ sở hữu lấy quốc doanh và hợp tác xã nghề cá làm chủ đạo sang chế độ đa sở hữu; (2) Chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường; (3) Chuyển từ một sản phẩm xuất khẩu chủ lực (con tôm) sang nhiều sản phẩm có giá trị kinh tế cao, đặc biệt là cá tra, cá basa; (4) Chuyển từ sự liên doanh, liên kết sản xuất – kinh doanh sang liên minh, hợp tác phát triển thủy sản cả trong và ngoài nước; (5) Chuyển từ quy mô sản xuất nhỏ lên quy mô sản xuất lớn, hình thành được những doanh nghiệp có tư duy chiến lược vững vàng, có trình độ công nghệ và năng lực kinh doanh tốt, đủ sức cạnh tranh trên thương trường quốc tế…
- Ba là, cần nghiên cứu sâu hơn về sự phát triển kinh tế dân doanh trong ngành thủy sản (đặc biệt là các ngư trại) cũng như sự chuyển biến của các hội, hiệp hội nghề nghiệp của nghề cá Việt Nam. Trong những năm qua, đặc biệt là trong 20 năm gần đây, lực lượng kinh tế dân doanh đã góp phần không nhỏ vào việc xây dựng bốn trụ cột của ngành thủy sản là: (1) Khai thác tiềm năng biển; (2) Nuôi trồng thủy sản nước mặn, nước lợ, nước ngọt, nước lạnh; (3) Chế biến xuất khẩu và tiêu thụ nội địa; (4) Công nghiệp dịch vụ phức hợp cho mọi lĩnh vực hoạt động của nghề cá. Cần tập trung đầu tư xây dựng bốn trụ cột này một cách căn cơ, bám sát từng mục tiêu cụ thể theo từng giai đoạn để hình thành được nền tảng vững chắc, hợp lý, theo kịp được trình độ tiến bộ khoa học và công nghệ của thời đại.
Trong những năm tới, chắc chắn cả bốn trụ cột này sẽ còn nhiều cơ hội phát triển và các doanh nghiệp dân doanh sẽ có những đóng góp quan trọng hơn, những doanh nghiệp đã có ít nhiều uy tín và giành được thị phần nhất định nếu biết tận dụng cơ hội, biết tạo dựng sức mạnh bằng các quan hệ liên minh, hợp tác thì hoàn toàn có thể vươn mình trở thành những tập đoàn kinh doanh kiểu mới (khác hẳn các tập đoàn do Nhà nước ra quyết định thành lập), sở hữu nhiều nguồn tài sản quý báu và có năng lực thích nghi cao, vững vàng hơn trong tiến trình hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu.
- Bốn là, cần khẳng định rõ mục tiêu chiến lược và các định hướng chiến lược phát triển thủy sản nhằm đổi mới mạnh mẽ hơn, triệt để hơn, toàn diện hơn nền kinh tế – kỹ thuật – xã hội của nghề cá Việt Nam, trong đó chiến lược khai thác và gìn giữ môi trường biển và hải đảo là hết sức quan trọng, song song với chiến lược phát triển thủy sản ở vùng nội thủy. Một quốc gia có bờ biển dài và vùng biển chủ quyền rộng như Việt Nam không thể thiếu chiến lược phát triển kinh tế biển, trong đó phải định hình rõ chiến lược ven bờ, chiến lược cận duyên và chiến lược đại dương. Lời dạy của Bác Hồ khi người về thăm đảo Tuần Châu ngày 1 tháng 4 năm 1959 “Biển bạc của ta do dân ta làm chủ” là một chân lý và cũng là lời căn dặn hết sức quý báu mà tất cả chúng ta phải luôn khắc sâu trong tâm khảm để xây dựng và thực hiện thành công chiến lược kinh tế biển.
Đối chiếu với chiến lược phát triển của ngành thủy sản trong giai đoạn 2010 – 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, ba tổng công ty trên nếu tiếp tục tồn tại hoặc hợp nhất thì cần được xác định vị trí, vai trò, nhiệm vụ chiến lược và đường hướng chiến lược cụ thể ra sao để thật sự góp phần tích cực vào mục tiêu phát triển nghề cá Việt Nam mạnh mẽ hơn và bền vững hơn. Nên xem xét cả tính chất sở hữu và mô hình của các doanh nghiệp ấy trong thời gian tới.
- Năm là, coi trọng hơn nữa việc xây dựng truyền thống lịch sử nghề cá nước nhà. Nghề cá Việt Nam có truyền thống tốt đẹp từ bao đời nay, làm chủ và chế ngự thiên nhiên, vừa góp phần tích cực tạo ra nguồn dinh dưỡng chất lượng cao, không thể thay thế cho dân cư mọi vùng, vừa giữ gìn an ninh bờ cõi mặt tiền của Tổ quốc. Phải đề ra những chương trình và dự án cụ thể để nhanh chóng triển khai, trước hết là ý đồ hình thành một khu bảo tàng nghề cá kết hợp dịch vụ du lịch phục vụ cả khách trong nước và khách quốc tế, là việc biên soạn một bộ tài liệu có tính khoa học cao để vừa làm tài liệu giảng dạy trong các trường đào tạo, vừa làm cơ sở nghiên cứu đề ra các giải pháp chiến lược bám theo mục tiêu kết hợp khai thác với gìn giữ và tái tạo môi trường hợp lý nhất.
Vì Tổng cục Thủy sản đã được Chính phủ cho phép thành lập và sắp tới sẽ đi vào hoạt động, tôi rất mong các đồng chí lãnh đạo Tổng cục lưu tâm đến năm vấn đề vừa nêu trên để đổi mới công tác quản lý ngành thủy sản, trong đó có việc hợp nhất ba tổng công ty Seaprodex, Biển Đông và Hạ Long.
***
Gần 20 năm qua, tại Seaprodex có những điều chỉnh, sắp xếp lại, nhưng rõ ràng là chưa thành công. Có lần, anh Thái Xứng, nguyên trưởng ban Xuất khẩu của Seaprodex, nguyên giám đốc Công ty Vận tải biển Seaprodex, rồi Seaprodex Sài Gòn đến thăm tôi, tâm sự rằng hồi tôi còn làm việc có ít người giúp tôi quản các cơ sở rất phức tạp như hệ thống kho lạnh, kho vật tư, đội tàu, đội xe… Từ khi gộp các đơn vị đó lại, thành lập Công ty Seaprodex Sài Gòn thì anh ấy nắm mọi khâu dịch vụ cho xuất nhập khẩu nên triển vọng sẽ tốt hơn. Tôi chỉ nhắc khéo rằng khi còn là giám đốc Seaprodex, tôi không cho lập Seaprodex Sài Gòn vì Seaprodex phải trực tiếp tổ chức kinh doanh xuất nhập khẩu thủy sản ở phía Nam. Nếu có thêm Seaprodex Sài Gòn thì chính Seaprodex bị tước đi quyền kinh doanh và sẽ trở thành một tầng nấc hành chính trung gian, sẽ bị bất lực, không thể kiểm soát nổi các đơn vị thành viên của mình. Thực tế gần 20 năm qua đã cho thấy điều đó. Vậy trách nhiệm về tình trạng đó thuộc về ai? Khi còn Bộ Thủy sản, nhiều ý kiến đổ cho các thế hệ lãnh đạo Seaprodex là chính, nhưng cũng có ý kiến cho rằng những yếu kém đó thuộc về trách nhiệm của bộ trưởng Tạ Quang Ngọc. Riêng tôi, tôi lại cho rằng nếu công bằng mà xét thì sự tan vỡ của cả hệ thống quốc doanh đánh cá, rồi hệ thống cơ khí đóng sửa tàu thuyền, hệ thống nuôi trồng thủy sản và hệ thống các công ty thủy sản nội địa có nguồn gốc là sự sai sót kéo dài, mà nguyên nhân là thiếu một tư duy chuẩn mực, một tư duy chiến lược nhất quán, đồng thuận trong bộ máy lãnh đạo của Bộ Thủy sản và điều đó bộc lộ rõ từ thời bộ trưởng Nguyễn Tấn Trịnh. Bộ trưởng Nguyễn Tấn Trịnh là người có công ủng hộ cơ chế Tự cân đối tự trang trải, nhưng cũng là người đã bỏ lỡ nhiều cơ hội quý báu của ngành, trong đó có cơ hội giúp Seaprodex phát triển lên một tập đoàn theo đề án cổ phần hóa. Bộ trưởng Tạ Quang Ngọc tại vị hai nhiệm kỳ, trong tình thế đòi hỏi phải sáng suốt quyết đoán nhiều vấn đề, nhưng tiếc là anh Ngọc không làm được nên cũng có phần trách nhiệm.
Lại có người hỏi ý tôi nhận xét, đánh giá về các vị đứng đầu ngành thủy sản, từ thời tổng cục đến thời bộ ra sao. Tôi trả lời là hoàn toàn có thể đưa ra được những đánh giá đầy đủ, nhưng làm gì có ai yêu cầu góp ý, góp ý để làm gì, ai cho phép góp ý… Công tâm mà nói, việc đánh giá được trong số các nhà lãnh đạo đầu ngành trong suốt hơn 50 năm qua ai giỏi, ai làm tròn trách nhiệm là chuyện không đơn giản, thậm chí rất khó. Khó là vì muốn đánh giá thì phải có cơ chế, tổ chức đánh giá. Lẽ ra, trước khi nhận nhiệm vụ, người đứng đầu phải trình bày mục tiêu, phương hướng và các giải pháp để đi tới mục tiêu trong nhiệm kỳ công tác của mình và khi hết nhiệm kỳ phải làm bản tự kiểm điểm, tự đánh giá để cả cấp trên lẫn cấp dưới đều biết. Có vậy mới rõ ràng, mới công khai, minh bạch và mới giúp cho việc so sánh mức độ cống hiến của các nhà lãnh đạo được dễ dàng, chính xác, khách quan. Ngành thủy sản có gần 20 năm dưới thời tổng cục, trong đó anh Nguyễn Trọng Tỉnh làm tổng cục trưởng lâu nhất, khoảng 18 năm. Anh Tỉnh có công mở đầu khôi phục, cải tạo phát triển ngành kinh tế - kỹ thuật - xã hội thủy sản. Thời kỳ đó ngành được Nhà nước đầu tư xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng khá mạnh, hình thành nhiều doanh nghiệp khai thác cá biển, đóng sửa tàu thuyền và hệ thống các trường đào tạo từ trung cấp tới đại học. Khi đế quốc Mỹ mở chiến tranh phá hoại miền Bắc thì ngành thủy sản phải chuyển hướng chiến lược: vừa sản xuất, vừa chống chiến tranh phá hoại, vừa chi viện cho tiền tuyến. Do đó, công cuộc cải tạo và xây dựng các hợp tác xã nghề cá không thành công, thậm chí ngành còn lâm vào khủng hoảng vì rất nhiều cơ sở đứng bên bờ vực phá sản. Anh Hoàng Hữu Nhân là người được Trung ương điều về kế nhiệm anh Tỉnh. Điểm nổi bật của tổng cục trưởng Hoàng Hữu Nhân là quan tâm tập trung chấn chỉnh và củng cố nghề cá nhân dân, nhưng làm chưa được bao lâu thì giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và được điều về Ban Công nghiệp Trung ương. Sau khi thống nhất đất nước, đặt ra mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế biển, Đảng và Nhà nước quyết định thành lập Bộ Hải sản, cử ủy viên Bộ Chính trị Võ Chí Công làm bộ trưởng, nhưng anh Công chỉ làm việc được năm tháng thì lại trở về Trung ương. Người bộ trưởng thứ hai là anh Tám Tú (Nguyễn Văn Lâm) cũng chỉ tại vị được tám tháng, sau đó chuyển đi, làm bí thư Tỉnh ủy Nghĩa Bình. Anh Đỗ Chính sau khi hoàn thành nhiệm vụ ở Campuchia trở về được giao nhiệm vụ bộ trưởng, nhưng tiếc là do sức khỏe ngày một suy yếu, anh cũng chỉ làm việc được khoảng ba năm. Như vậy, ba vị bộ trưởng đầu tiên chỉ cống hiến được cho ngành thủy sản tổng cộng có năm năm. Bộ trưởng thứ tư là anh Nguyễn Tấn Trịnh, làm liên tục ba nhiệm kỳ. Bộ trưởng thứ năm là anh Tạ Quang Ngọc, được hai nhiệm kỳ. Khi anh Ngọc nghỉ cũng là lúc Bộ Thủy sản được sáp nhập vào Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (năm 2007). Quãng thời gian mà anh Trịnh và anh Ngọc làm bộ trưởng kéo dài 25 năm và đó chính là thời kỳ kinh tế - kỹ thuật - xã hội thủy sản trở nên sôi động, có nhiều đột phá, nhiều vấn đề rất đáng đánh giá, tổng kết, nhưng tiếc là không có cơ chế, không có tổ chức nghiên cứu sâu nên mọi việc lặng lẽ trôi qua. Đến khi Bộ Thủy sản theo hướng dẫn của Nhà nước làm công việc tôn vinh những tập thể và cá nhân có công trong sự nghiệp đổi mới của đất nước thì làm vội vàng và chủ quan, thành thử đã xảy ra tình trạng công lao của tập thể này, cá nhân này lại đem gán cho tập thể, cá nhân khác chưa xứng đáng.
(còn tiếp)
Nguồn: Minh bạch. Tự truyện của Nguyễn Hồng Cẩn. NXB Văn học, 6-2010.
www.trieuxuan.info
|