CẤT CÁNH SAU KHI HƯU
Cuối năm 1991, tôi sang Paris hội đàm với Tập đoàn Forey của Pháp về bốn dự án:
- Xây dựng liên doanh đánh cá Nga - Việt - Pháp tại vùng biển Viễn Đông của Nga.
- Xây lại khu nhà 2 - 4 - 6 Đồng Khởi thành cao ốc 17 tầng, phía Pháp đầu tư 100% vốn, Seaprodex được sử dụng một tầng trong vòng 15 năm, mỗi năm được chia lời 20 – 30%, sau thời hạn 15 năm, phía Pháp trả lại toàn bộ tòa nhà cho Seaprodex.
- Hợp tác với một công ty bảo hiểm của Pháp để đưa dịch vụ bảo hiểm vào Việt Nam (khi đó chưa có công ty bảo hiểm nước ngoài nào có mặt tại nước ta).
- Liên doanh xây dựng nhà máy nước tinh khiết La Vie tại Long An.
Đó là bốn dự án lớn, chắc chắn mang lại nguồn lợi lớn và lâu dài cho Seaprodex và cho nền kinh tế - kỹ thuật - xã hội thủy sản Việt Nam. Khi chúng tôi đang đàm phán dang dở, bộ trưởng Nguyễn Tấn Trịnh điện sang mời tôi về ngay: “cấp trên yêu cầu anh nghỉ hưu!”. Tôi đành phải thu xếp công việc với phía Pháp và mấy ngày sau về nước.
Khi tôi về tới Sài Gòn, bộ trưởng Nguyễn Tấn Trịnh và phó giám đốc Seaprodex Lê Văn Phát chờ đón với sự mừng rỡ. Sau đó mấy giờ, anh Trịnh tổ chức họp lãnh đạo Seaprodex phổ biến quyết định của Hội đồng Bộ trưởng do anh Võ Văn Kiệt ký ngày ngày 16 tháng 9 năm 1991, trong đó ghi rõ là từ ngày 1 tháng 11 năm 1991, tôi bắt đầu nghỉ. Sự việc diễn tiến rất nhanh gọn. Tôi linh cảm việc này xen lẫn một điều gì đó không bình thường nhưng vẫn chấp thuận vui vẻ.
Sau này, một lần anh Đỗ Mười gặp tôi có hỏi:
- Tại sao cậu còn khỏe, còn làm được vài năm nữa mà đã về hưu?
Tôi lấy làm ngạc nhiên vì chẳng nhẽ quyết định cho nghỉ hưu một cán bộ cấp thứ trưởng như tôi lại không cần phải thông qua ý kiến Ban Bí thư hoặc Ban Tổ chức Trung ương nữa hay sao? Trước đó đã có chuyện bất thường, không hay đối với anh Trần Nhất Anh, nguyên vụ trưởng Vụ Kế hoạch, nguyên viện trưởng Viện Thiết kế và Quy hoạch thủy sản thuộc Bộ Thủy sản. Số là khi chúng tôi đề nghị Ban Cán sự cho anh Nhất Anh chuyển về làm phó giám đốc Seaprodex, kiêm giám đốc Seaprodex Hà Nội thì được Ban đồng tình và ra quyết định. Hôm sau, bộ trưởng Nguyễn Tấn Trịnh đi công tác nước ngoài nhờ thứ trưởng Võ Văn Trác nhắn lại với tôi rằng anh Trần Võ Mân đang là giám đốc Seaprodex Hà Nội nhưng xin ở lại làm tiếp một thời gian nữa, vậy hãy khoan chuyển anh Trần Nhất Anh về Seaprodex. Tôi hỏi lại anh Trác rằng đó là ý kiến quyết định của anh Trịnh hay chỉ là gợi ý, nếu là gợi ý thì tôi vẫn thi hành quyết định của Ban Cán sự và xin chịu trách nhiệm. Sau này, đến khi chuẩn bị nghỉ hưu, anh Nhất Anh để có tính dân chủ đã giới thiệu hai người có thể kế nhiệm mình ở Seaprodex Hà Nội là anh Hà và anh Bảo, đề nghị trực tiếp với anh Trịnh chọn anh Hà. Thế nhưng người được chọn lại là anh Bảo khiến anh Nhất Anh rất thất vọng. Trường hợp anh Nguyễn Chước – nguyên phó giám đốc Seaprodex kiêm giám đốc Seaprodex Đà Nẵng sau đó cũng vậy. Anh Chước chuẩn bị nghỉ hưu, có đề đạt với lãnh đạo Bộ Thủy sản cho phép kéo dài thêm ít ngày để chuẩn bị cho chu đáo. Thế nhưng lãnh đạo Bộ cử ngay anh Nguyễn Ngọc Hồng bay vào tận Đà Nẵng trao quyết định nghỉ hưu cho anh Chước. Anh Chước đã phản ứng gay gắt, đập bàn nói: “Các anh làm đảo chính à?” rồi bỏ đi. Việc cho cán bộ về hưu theo chính sách thì không có vấn đề gì đáng bàn, nhưng quả thật tôi không hiểu cách làm thiếu tế nhị, gây phiền lòng cán bộ như thế. Phải chăng khi đó có người nghi kỵ, sợ chúng tôi tranh thủ kiếm chác hay làm điều gì đó không thuận theo ý họ?
Vài ngày sau, Ban Cán sự Bộ Thủy sản mời các cán bộ lãnh đạo Seaprodex ra Hà Nội để lấy ý kiến lần cuối cùng về người thay tôi. Không hiểu sao anh Nguyễn Chước và anh Nguyễn Ngọc Sơn (đều là phó giám đốc Seaprodex) lại không tham dự. Trong cuộc họp hôm đó, anh Ba Se – chủ tịch Công đoàn kiêm thường vụ Đảng ủy Seaprodex đã ra sức đưa ra nhiều lý lẽ đề xuất anh Kiều Văn Quơ thay tôi. Anh Trần Nhất Anh đơn giản hơn, cho rằng ai làm cũng được. Anh Năm Phát và Tư Quơ không phát biểu. Đến lượt mình, tôi thấy không thể không phát biểu nên thẳng thắn nói:
- Anh Trịnh đã bỏ một tháng trời vào Nam nghiên cứu chuẩn bị người thay tôi và anh đã quyết định rồi. Cuộc họp này chỉ là hình thức! Nếu ý kiến của tôi không thống nhất với ý kiến anh Trịnh thì sao đây?
Cuối cùng không ai buồn tham gia ý kiến nữa. Ban Cán sự đã quyết định anh Lê Văn Phát thay tôi làm giám đốc Seaprodex. Tôi về thành phố Hồ Chí Minh, tổ chức ngay cuộc họp các giám đốc thành viên Seaprodex để thông báo quyết định tôi nghỉ hưu và tiến hành bàn giao. Tôi nhấn mạnh một số kế hoạch cần làm tiếp với phía nước ngoài để Seaprodex tiếp tục phát triển và sẵn sàng tư vấn cho những người thay tôi làm tiếp những gì đang dang dở. Nhưng tôi cảm thấy lãnh đạo Bộ và Seaprodex không mặn mà. Về việc bàn giao, tôi đã viết văn bản gửi cho tất cả giám đốc đơn vị thành viên và đề nghị anh Vũ Văn Rung, phó ban Tài chính - Kế toán Seaprodex trình báo cáo tài chính của Seaprodex đến trước ngày tôi nghỉ hưu. Theo đó, số vốn tự có tích tụ được trong thời gian tôi làm việc là khoảng 109 triệu USD (khoảng 1.400 tỷ đồng theo tỷ giá lúc bấy giờ. Hiện tôi vẫn còn giữ được bản gốc của báo cáo tài chính này). Trước và ngay dịp nghỉ hưu, tôi đã trình bày đề nghị Bộ Thủy sản nên duy trì cơ chế Tự cân đối tự trang trải và không nên quốc hữu hóa nguồn vốn tự có của Seaprodex. Số vốn này là do công lao đóng góp của hàng vạn cán bộ công nhân ngành thủy sản. Tiếc rằng đề nghị của tôi không được chấp nhận. Sau này, tình hình Seaprodex ngày càng sa sút, lụn bại, không ít kẻ xỏ xiên xúc phạm đến hơn chục năm phấn đấu gian khổ, đầy vẻ vang của Seaprodex. Dư luận xã hội, công chúng bị nhiễu thông tin, không rõ thực hư thế nào. Vì vẫn còn giữ được văn bản báo cáo bàn giao được đọc trong cuộc họp với tập thể lãnh đạo Seaprodex và đại diện các đơn vị thành viên, tôi muốn dẫn lại ở đây với mong muốn được chia sẻ với những anh em đã một thời phấn đấu vì sự phát triển của ngành thủy sản Việt Nam, của nghề cá nhân dân và của Seaprodex.
BÁO CÁO BÀN GIAO
Trình bày tại phiên họp Hội đồng Thành viên mở rộng, ngày 7 tháng 12 năm 1991.
Thưa các đồng chí!
Tháng 4 năm 1979, do yêu cầu cấp bách chặn đứng sự tụt dốc của xuất khẩu thủy sản và ngành kinh tế thủy sản, các đồng chí thủ tướng Phạm Hùng và phó thủ tướng Lê Thanh Nghị đã quyết định cử tôi trực tiếp làm giám đốc Công ty Seaprodex. Quyết định này do đồng chí Phạm Hùng ký, số 146/CP, ban hành thẳng, không qua Bộ Thủy sản, ngày 9 tháng 4 năm 1979.
Từ đó đến nay, đã trải qua 11 năm tôi cùng các đồng chí vật lộn với bao vất vả, gian lao, nếm bao nhiêu cay đắng ngọt bùi và cũng cùng nhau vui buồn chia sẻ suốt quá trình hình thành và phát huy tác dụng của cơ chế làm ăn mới, của mô hình Seaprodex - một mô hình tổ chức doanh nghiệp chưa hề có ở nước ta.
Tới hôm nay, tôi có quyết định nghỉ, cũng do chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ký và Bộ Thủy sản đã ra quyết định cử đồng chí Lê Văn Phát làm quyền giám đốc. Vì vậy, trong phiên họp lần này, tôi xin báo cáo bàn giao chung với Hội đồng Thành viên. Sau cuộc họp này, đồng chí giám đốc mới sẽ cùng các đồng chí bàn bạc các vấn đề khác một cách cụ thể.
Việc bàn giao này có tính chất nguyên tắc thủ tục, vì trên thực tế, về bản chất đã có một quá trình bàn giao, đó là:
1. Trong thời gian trung tuần tháng 11, khi tôi đi công tác vắng, bộ trưởng và các cán bộ của Bộ đã vào vận động dân chủ, công khai về tổ chức và nhân sự, thăm dò ý kiến cán bộ về người sẽ thay thế tôi làm tổng giám đốc và đã có kết luận.
2. Suốt hơn mười năm qua, kể từ khi tôi về Seaprodex, đã trải qua 22 đợt thanh kiểm tra của các cấp, các ngành, cũng đã nhiều lần kiểm điểm từng cá nhân trong tập thể giám đốc và tập thể giám đốc trước Hội đồng Thành viên.
3. Cũng hơn mười năm qua, chúng ta đã liên tục sơ kết, tổng kết hàng năm, nhiều năm gộp lại. Ngoài ra đã tổ chức nhiều hội thảo, hội nghị nghiên cứu mô hình làm ăn mới. Tính ra cũng có hơn 30 tài liệu tổng kết qua các năm và còn lưu lại, sắp tới sẽ in ấn đầy đủ.
4. Quá trình đổi mới cơ chế và xây dựng mô hình Seaprodex đã tạo cho các đơn vị thành viên quyền tự chủ mạnh mẽ. Seaprodex chỉ định hướng, các đơn vị tự tính toán phát triển sản xuất - kinh doanh và đội ngũ cán bộ sau 11 năm về cơ bản vẫn còn đó, có đủ năng lực tự chịu trách nhiệm trước pháp luật.
5. Ngày 19 và 20 tháng 11, Bộ đã mời các đồng chí trong Ban Giám đốc và Thường vụ Đảng ủy Công ty họp và tại cuộc họp này, đồng chí Lê Văn Phát đã thay mặt Công ty báo cáo về thực trạng của Seaprodex qua 11 năm cùng hướng phát triển trong thời gian tới.
Cuộc họp Ban Giám đốc Công ty ngày 3 tháng 12 năm 1991 đã thống nhất là trong phiên họp Hội đồng Thành viên này, tôi sẽ báo cáo bàn giao, không đơn thuần là bàn giao cho giám đốc mới, mà là bàn giao giữa chúng ta với nhau, cùng nhau tổng hợp, đánh giá, nhận định về nhóm (group) Seaprodex một cách khoa học, công khai, sòng phẳng. Tôi xin trình bày một số vấn đề chủ yếu như sau:
Qua 11 năm vận động theo cơ chế làm ăn mới, chúng ta đã thu được những thành công lớn là:
1. Tạo được sự đồng cảm, đồng tâm nhất trí, biểu tượng cho sự tập trung trí tuệ và tài năng Bắc - Trung - Nam, luôn năng động tìm lối đi ra, đi lên, thích nghi với hoàn cảnh, góp sức xây dựng mô hình Seaprodex, một mô hình tổ chức doanh nghiệp kiểu mới có sức đột phá tiến lên thành một tập đoàn sản xuất - kinh doanh mạnh của đất nước, có khả năng mở nhiều đầu vào cho chính mình và cho các ngành kinh tế khác.
Trong những năm qua, mặc dù đất nước lâm vào tình trạng khủng hoảng, lạm phát, nhiều đơn vị sản xuất - kinh doanh lớn cũng bị phá sản nhưng trải qua nhiều thăng trầm, Seaprodex vẫn đứng vững và phát triển. Đây là thành quả vô cùng quý giá, là phần thưởng cho sự nỗ lực của tập thể cán bộ công nhân viên Seaprodex. Năm 1985 đã có câu hỏi đặt ra: “Liệu mô hình Seaprodex sẽ tồn tại được bao lâu hay cũng rơi vào tình trạng đổ vỡ như các mô hình trước đó?”. Tổng kết mười năm thực hiện cơ chế mới, chúng ta đã khẳng định sự tồn tại và phát triển của Seaprodex, đồng thời thấy được xu hướng trở thành một tập đoàn sản xuất - kinh doanh mạnh, có tầm cỡ quốc gia, quốc tế. Hiện nay, dù còn nhiều khó khăn, thách thức, nhưng thời cơ và triển vọng ngày một rõ ràng: Seaprodex có đủ lực để đẩy nhanh tốc độ, tới 1995 có khả năng đạt giá trị kim ngạch xuất khẩu 300 triệu USD và kết thúc thập niên 90 có thể đạt trên tỷ USD.
2. Luôn xác định được chiến lược phát triển, có bước đi đúng và hợp quy luật, nhờ đó đã tạo lập được cơ sở vật chất kỹ thuật tương đối hiện đại, nâng cao được trình độ công nghệ, từng bước đáp ứng được đòi hỏi của thị trường.
Nếu năm 1981, năng lực cấp đông của các xí nghiệp thuộc Seaprodex mới có 13 tấn/ngày thì tới nay đã lên đến 84 tấn/ngày, sản xuất nước đá từ 25 tấn/ngày đã lên tới 200 tấn/ngày, năng lực bảo quản cũng tăng tới 7.980 tấn, gấp mười lần so với năm 1981. Nhiều đơn vị từ tay không hoặc trên bãi rác đã tự tạo lập được cơ ngơi lớn giá trị hàng triệu USD như Chi nhánh Seaprodex Hà Nội, Công ty Xuất nhập khẩu thủy đặc sản, Công ty Vận tải biển, Công ty Kỹ nghệ lạnh… Tới nay, trong hệ thống Seaprodex đã có tới 50 đơn vị hoạt động trên nhiều lĩnh vực khác nhau, rất đa dạng cả về quy mô lẫn nội dung và kiểu cách làm ăn, song đều rất giống nhau ở chỗ biết sáng tạo tìm tòi, lấy hiệu quả làm thước đo và có khả năng hỗ trợ nhau để cùng phát triển. Sản phẩm của Seaprodex ngày một phong phú, thêm nhiều mặt hàng mới như cá, sò, điệp, nem, chạo tôm, đồ hộp, trái cây, trăn, rắn, gỗ, gạo, cao su, trang thiết bị chế biến, panel cách nhiệt… và nhiều dịch vụ mới như xây lắp, khách sạn, quảng cáo tiếp thị… Cơ cấu sản xuất - kinh doanh vì vậy đã khác hẳn trước đây: xuất khẩu 50,9%, sản xuất công nghiệp 18,4%, vận tải - bảo quản và dịch vụ khác 11,3%.
3. Hình thành được đội ngũ cán bộ tương đối đồng tư duy, trung thành và nhiệt huyết, già trẻ đan xen, có năng lực kinh doanh và nhạy cảm với thời cơ, biết làm ra lợi nhuận.
Phải nhìn nhận rằng khó có đơn vị sản xuất - kinh doanh nào ở nước ta có được đội ngũ cán bộ được trang bị tư duy mới và biết cách làm ăn, có kinh nghiệm thực tiễn phong phú như ở Seaprodex. Uy tín của Seaprodex được nâng cao cũng nhờ ở tư duy và phong độ của những người cầm cờ, những nhà quản trị kinh doanh. Mặc dù trong quá trình vận động, đôi khi cũng phát sinh những biểu hiện coi nặng lợi ích cục bộ hơn lợi ích chung của toàn hệ thống, nhưng trong tiềm thức của đội ngũ cán bộ, Seaprodex là một thực thể thống nhất, cấu thành từ hàng chục đơn vị thành viên từ Nam chí Bắc, mỗi cán bộ, mỗi công nhân, nhân viên là một tế bào hoạt động vì sự tồn tại và phát triển của thực thể đó.
4. Không ngừng mở rộng thương mại với quốc tế, nắm bắt thời cơ chuyển từ thương mại sang hợp tác liên doanh đầu tư.
Chính từ khâu đột phá mở lối ra thế giới, Seaprodex đã bắt nhịp được với bước đi của thời đại, tranh thủ được vốn liếng, kỹ thuật của nước ngoài để tạo thế và lực, cũng như tạo được uy tín cho chính mình. Trong những năm gần đây, do chính sách phân tán xuất nhập khẩu, các giao dịch thương mại với các công ty nước ngoài có giảm bớt, nhưng Seaprodex vẫn là đầu mối thương mại lớn, thu hút sự quan tâm của đông đảo bạn hàng. Nhằm có được sức cạnh tranh mạnh hơn, chúng ta đã và đang tiếp tục tạo điều kiện cho tất cả các đơn vị thành viên trực tiếp buôn bán với nước ngoài theo sự hướng dẫn thị trường và giá cả từ Seaprodex.
Trong lĩnh vực liên doanh đầu tư với nước ngoài, Seaprodex đã đi tiên phong, khéo léo tìm cách góp vốn và tìm được cách hoạt động có hiệu quả. Seaprodex cũng là nơi có những liên doanh với nước ngoài rất đa dạng, qua đó phát hiện được nhiều vấn đề sâu sắc, lý thú để hòa nhập vào thị trường thế giới. Trong số các liên doanh đã được cấp giấy phép, có liên doanh hoạt động tốt, có liên doanh chưa tốt, thậm chí thua lỗ, nhưng thực tiễn giúp ta khẳng định rằng liên doanh đầu tư với nước ngoài là hướng chiến lược quan trọng hàng đầu để đi nhanh, bắt kịp trình độ thế giới. Chắc chắn trong thời gian tới, chúng ta sẽ có thêm nhiều cơ hội mới liên doanh không chỉ với Liên bang Nga và các nước cộng hòa độc lập tách ra từ Liên Xô, mà còn với Nhật, Pháp, Canada, Mỹ, Trung Quốc… Tôi hy vọng và tin rằng các đơn vị thành viên hiểu rõ tầm quan trọng và lợi ích của liên doanh với nước ngoài để nhanh nhạy nắm bắt thời cơ trong những năm tới và lần lượt chuyển thành các công ty liên doanh với nước ngoài.
5. Phát triển hợp tác liên doanh trong nước, cuốn hút các địa phương, các ngành kinh tế khác cùng đổi mới, cùng làm ăn theo cơ chế mới, tạo được khí thế phấn chấn, góp phần phát triển kinh tế - xã hội vùng biển, hội tụ lực lượng, tạo lập sức mạnh tổng hợp của nhiều thành phần kinh tế thuộc nhiều địa phương, nhiều ngành nghề khác nhau.
Một thực tế rõ ràng là các địa phương và một số ngành kinh tế đều khẳng định nhờ có dự hợp tác của Seaprodex, họ mới giải phóng được sức kìm hãm bên trong và đẩy mạnh được sản xuất, có được những thành quả như hôm nay. Sự hợp tác, giúp đỡ của Seaprodex không chỉ là cơ chế, cách làm mới, không chỉ là vốn liếng, kỹ thuật, mà còn cả cán bộ, thị trường. Từ phương thức ứng trước sang cho vay đầu tư, rồi liên doanh liên kết, Seaprodex đã dồn không ít tiền của, sức lực xuống các địa phương để tạo nguồn nguyên liệu xuất khẩu. Có thời gian đã hình thành được hơn 40 công ty liên doanh với địa phương. Số vốn đầu tư và cho các địa phương vay trong 11 năm qua vượt 100 triệu USD, trong đó có 16,5 triệu USD trực tiếp dùng vào xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật. Đến nay, các địa phương và các đơn vị trong ngành thủy sản vẫn còn thiếu nợ chúng ta hàng chục triệu USD. Nhiều trường hợp Seaprodex cho địa phương vay bằng hàng có tỷ giá cao, nhưng khi lấy lại vốn cho vay phải chấp nhận tỷ giá rất thấp.
(còn tiếp)
Nguồn: Minh bạch. Tự truyện của Nguyễn Hồng Cẩn. NXB Văn học, 7-2010.
www.trieuxuan.info |