Nhiều cơ sở sản xuất - kinh doanh thuộc các ngành kinh tế khác cũng nhờ liên kết, liên doanh với Seaprodex mà có lối đi ra, tránh được khủng hoảng và phát triển tốt như Dệt Thành Công, Len Vĩnh Thịnh, Xà bông Viso, Xăng dầu khu vực II, Vietronic…
Duy trì, đẩy mạnh quan hệ thương mại, hợp tác liên doanh trong nước là chính sách nhất quán mà Seaprodex theo đuổi suốt 11 năm qua theo phương châm “Bạn có lợi thì mình mới có lợi”. Tới nay, dù có những biến đổi lớn về môi trường kinh doanh, chúng ta vẫn kiên định giữ gìn và phát triển quan hệ hợp tác với các địa phương và các ngành khác trên nguyên tắc sòng phẳng, bình đẳng, cùng có lợi. Tất cả các liên doanh đều chuyển sang chế độ cổ phần, các liên doanh mới hình thành đều dưới dạng công ty cổ phần, phân định rõ trách nhiệm và quyền lợi của các cổ đông. Chúng ta cũng sẵn sàng tiếp tục hợp tác với các địa phương, các ngành tìm đầu ra, lôi kéo vốn, kỹ thuật nước ngoài vào thông qua các liên doanh nhiều bên để đầu tư vào sản xuất.
6. Không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất - kinh doanh, tích cực góp phần khẳng định tính đúng đắn của sự nghiệp đổi mới do Đảng và Nhà nước lãnh đạo.
Quá trình 11 năm vận động theo cơ chế mới đã khẳng định hiệu quả sản xuất - kinh doanh của Seaprodex. Trước hết, đó là sự ra đời và lớn mạnh nhanh chóng của các đơn vị thành viên mà tài sản tính chung đã vượt 130 triệu USD, trong đó vốn ngân sách chỉ chiếm khoảng 5%. Từ mức kinh doanh xuất khẩu toàn ngành chỉ đạt 11,2 triệu USD, tới nay mỗi năm toàn ngành xuất được trên 200 triệu USD (năm nay dự kiến đạt 230 triệu USD, trong đó Seaprodex đạt 120 triệu USD). Tổng kim ngạch xuất khẩu 11 năm của Seaprodex đã vượt trên 700 triệu USD, nhập khẩu trên 200 triệu USD.
Đối với ngân sách Nhà nước, trong mười năm từ 1981 đến 1990, Seaprodex đã nộp kết hối và các khoản thuế có giá trị 160,389 triệu USD, nộp lợi nhuận hơn 7 tỷ đồng, ngoài ra còn đóng góp vào kinh phí các địa phương làm công tác xã hội, ủy lạo khắc phục thiên tai hàng trăm triệu đồng. Vào thời điểm một số ngành thiếu hụt trầm trọng nguyên vật liệu, Seaprodex đã thực hiện yêu cầu của Nhà nước, vay vốn nhập khẩu hàng hóa cho các ngành khác khoảng 30 triệu USD.
Bên cạnh những thành công đó, cần nhận thức rõ những tồn tại và khó khăn để tìm giải pháp khắc phục. Đó là:
1. Trước những biến động lớn trên toàn cầu và trong khu vực, phải bám sát đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước để định hướng chiến lược, bước đi, xây dựng tư duy đổi mới thích nghi, nhằm vào mục tiêu “năm thu”: thu lợi nhuận, thu tín nhiệm, thu bạn bè, thu kinh nghiệm và thu tài năng. Suốt 11 năm qua, chúng ta đã tạo được khúc mở đầu tốt đẹp, làm tiền đề cho sự phát triển với tốc độ nhanh hơn, đa dạng hơn ở thập niên 90 và trong thế kỷ thứ XXI. Tôi hy vọng và tin rằng, với sự đồng tâm nhất trí của tất cả các thành viên trong hệ thống, sớm muộn Seaprodex cũng sẽ trở thành nhóm (group) sản xuất - kinh doanh - dịch vụ tổng hợp với cơ cấu sản phẩm là 60% là thủy sản và thực phẩm, 40% còn lại là sản phẩm công nghiệp và dịch vụ khác.
Vấn đề hết sức quan trọng cần được nghiên cứu và phải có chiến lược, chính sách rõ ràng là chuyển từ chế độ vô chủ sang hữu chủ. Tính chất và cơ cấu nguồn vốn tại Seaprodex đòi hỏi phải xác lập cơ cấu sở hữu mới (cổ phần), nếu không sẽ khó tạo được bước nhảy nhanh, mạnh và vững chắc. Từ cơ cấu sở hữu mới, với tầm nhận thức lớn và suy nghĩ táo bạo, chúng ta thiết kế các mối quan hệ dọc, ngang thật hợp lý. Đó là mối quan giữa các đơn vị thành viên, quan hệ với các địa phương, các ngành khác.
Cơ chế quản trị - điều hành ngay từ bây giờ đã đang cần phải tiếp tục điều chỉnh cho phù hợp với tính chất đa dạng của các loại thành viên. Không thể quay lại cách quản lý cũ theo kiểu trực tuyến vì nó sẽ gây trở ngại, mâu thuẫn trong quản trị và điều hành.
Hội đồng Thành viên và Ban Giám đốc Công ty nên sớm thiết kế cơ chế chỉ huy, điều hành hệ thống Seaprodex thông qua:
- Quan hệ tài chính cổ phần.
- Định hướng chiến lược, đường hướng chính sách của toàn hệ thống Seaprodex và cho các đơn vị thành viên, tháo gỡ những khó khăn cho họ, tổng kết rút kinh nghiệm, nâng tầm, nâng trình độ cho toàn hệ thống.
- Giám sát, kiểm tra, điều phối toàn hệ thống nhằm vào “năm thu”.
- Đào tạo cán bộ và xây dựng các mối quan hệ mới.
- Phát triển bảo hiểm và tín dụng.
2. Tài chính là khâu cực kỳ khó khăn và phức tạp đối với cả nước nói chung và từng doanh nghiệp nói riêng. Tài chính của Seaprodex cũng có vấn đề: Mặc dù xét về tổng thể thì vẫn cân bằng nhưng chúng ta chưa mở được đầu vào mạnh, trong khi đó lại chưa tạo được sức mạnh cho các đơn vị thành viên giải quyết dứt điểm công nợ. Vì vậy, mong các đồng chí hết sức quan tâm, chung sức xử lý tốt công nợ, tạo nền tài chính thật cân bằng, giữ gìn uy tín của Seaprodex. Cần rà soát lại và giao trách nhiệm cho các đơn vị thành viên giải quyết công nợ, đơn vị nào vay thì có nghĩa vụ trả. Đồng thời nên kiến nghị với Nhà nước giúp đỡ ta trả nợ, miễn giảm một số khoản phải nộp vào ngân sách.
3. Quá trình vận động, đổi mới của đất nước còn nhiều thử thách, chông gai nhưng có cơ sở để tin rằng đến năm 1993 hay muộn lắm là năm 1995 sẽ có những đổi mới rất cơ bản. Mặc dù vậy, chúng ta không được phép chờ đợi, càng không thể quay lại vận dụng cơ chế và những quy định đã lỗi thời nhưng chưa kịp điều chỉnh. Phải tiếp tục vận động Nhà nước cho phép làm thử cơ chế cổ phần cho phù hợp với tính chất, đặc điểm riêng của Seaprodex, nếu không sẽ gặp nhiều khó khăn.
Điều đáng lưu ý là trong giai đoạn chuyển tiếp hiện nay, cần giữ vững và tiếp tục mở ra các quan hệ hợp tác với nước ngoài, giữ cho được bạn hàng, tạo thêm những mối quan hệ mới cả về thương mại và liên doanh đầu tư. Đây là điểm then chốt để mở đầu vào và khai thông đầu ra. Để tắc nghẽn, đứt mạch sẽ gây ảnh hưởng, tai hại lớn tới kết quả sản xuất - kinh doanh của toàn hệ thống.
4. Tại một vài đơn vị thành viên có một số tồn đọng đã xử lý (như Trung tâm Thương mại xuất nhập khẩu, Công ty Kho vận) và cần tiếp tục xử lý (như Seaba International, Vatech, Xí nghiệp Thủy sản đông lạnh số 7) thì phải có kế hoạch phối hợp phân công giải quyết dứt khoát, dứt điểm. Nhân đây, tôi mong các đồng chí nghiêm túc kiểm tra lại hoạt động của đơn vị mình, nếu phát hiện ra những lệch lạc thì có biện pháp xử lý sớm để giữ gìn tài sản và giữ gìn cán bộ.
5. Việc đào tạo, rèn luyện và sử dụng con người Seaprodex trong những năm qua đã được quan tâm song chưa đều, chưa theo một kế hoạch tổng thể, toàn diện. Cần tiếp tục nghiên cứu tổ chức các hình thức đào tạo, bồi dưỡng hợp lý để nâng cao trình độ cán bộ, đáp ứng được những đòi hỏi ngày càng cao của thế giới kinh doanh. Bên cạnh đó, phải chú ý cài đặt các thê đội cán bộ, pháy huy hết năng lực của các loại cán bộ, nhất là thê đội trên dưới 30 - 40 tuổi và quan tâm thích đáng đến các cán bộ sắp nghỉ hưu. Đi đôi với công tác cán bộ, cần quan tâm xây dựng các mối quan hệ mới, con người mới, sống tình nghĩa, thủy chung, đoàn kết, biểu hiện sự tập trung tinh hoa của mọi miền đất nước.
Trên đây là những vấn đề tổng kết chung về Seaprodex. Đề nghị các đồng chí nghiên cứu và tham gia ý kiến. Tiếp tục nội dung bàn giao, tôi đề nghị đích thân giám đốc các đơn vị thành viên chuẩn bị báo cáo để bàn giao với tổng giám đốc mới. Trong báo cáo này có các nội dung chủ yếu là:
1. Đánh giá tình hình chung và định hướng phát triển trong thời gian tới.
2. Báo cáo tài chính, công nợ.
3. Báo cáo tổ chức nhân sự.
4. Những tồn đọng và hướng xử lý. Kiến nghị.
Mong các đồng chí dành thời gian làm sớm công việc này để nhanh chóng kết thúc bàn giao. Sắp tới, vào cuối tháng 12, theo sáng kiến của Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương và Học viện Nguyễn Ái Quốc, chúng tôi dự kiến sẽ tổ chức một hội thảo về mô hình Seaprodex. Đây là vấn đề đang được giới nghiên cứu và các nhà doanh nghiệp quan tâm. Do đó đề nghị các đồng chí ủng hộ, tham gia tham luận tại hội thảo này.
Về phần tôi, tôi đã nhiều lần tự kiểm điểm và gần đây nhất đã gửi bản kiểm điểm cá nhân tới các đồng chí để được đóng góp ý kiến. Tôi đã nhận được một số góp ý. Nhân đây tôi xin chân thành cảm ơn. Qua khoảng 12 năm cùng cộng tác với các đồng chí, có người còn lâu hơn nữa, chúng ta đã có nhiều dịp vui buồn chia sẻ cùng nhau và có nhiều kỷ niệm khó quên. Nay tôi đã tới tuổi nghỉ hưu theo chính sách nên xin trao lại công việc cho các đồng chí. Tôi cũng xin từ chức chủ tịch Hội đồng Thành viên, chủ tịch Liên đoàn Xuất nhập khẩu thủy sản Việt Nam và đề nghị các đồng chí trong những phiên họp tới bầu ra người thay thế. Riêng trong lĩnh vực hợp tác với nước ngoài, bộ trưởng và tập thể các đồng chí trong Ban Giám đốc Công ty yêu cầu tôi tiếp tục nhiệm vụ chủ tịch hoặc đồng chủ tịch các công ty liên doanh đã có và đại diện Seaprodex hoàn chỉnh các liên doanh sắp ra đời để tránh bị hụt hẫng. Tôi nhận công việc này và cố gắng trong thời gian nhắn nhất bàn bạc với bên nước ngoài để Seaprodex cử người thay thế tôi.
Cuối cùng, một lần nữa, tôi xin cảm ơn các đồng chí đã cộng tác cùng tôi vất vả trong suốt những năm qua. Chúc các đồng chí phấn chấn, tiếp tục làm ăn tốt, gắn bó vì sự nghiệp chung và vì Seaprodex. Vì thời gian không cho phép, tôi không tới tạm biệt các đơn vị thành viên được, nhờ các đồng chí chuyển lời chúc sức khỏe, chúc làm ăn phát đạt đến tất cả các cán bộ công nhân viên. Và cũng cho tôi gửi lời chúc hạnh phúc, an khang tới gia đình các đồng chí.
Ngạn ngữ xưa có câu: “Không bao giờ hạnh phúc lại đưa con người tới đỉnh cao đến nỗi không cần tới bạn bè nữa”. Vì vậy, điều tôi mong mỏi nhất là tập thể cán bộ Seaprodex luôn đoàn kết, gắn bó, thương yêu đùm bọc nhau để cùng tiến lên, tạo cuộc sống tốt đẹp cho chính mình và cho mọi người.
***
Sau khi anh Phát thay tôi làm giám đốc, sự can thiệp của bộ máy cục vụ Bộ Thủy sản vào Seaprodex thêm sâu, thêm trực tiếp và càng thêm nhiều ý kiến ngăn cản những dự án tôi đã làm dở dang. Thành thử, không có dự án nào đi đến thành công, ngoài dự án xây dựng nhà máy nước tinh khiết La Vie, nhưng lại không phải của Seaprodex!
Cũng cần nói thêm về dự án La Vie. Khi phía Pháp đề xuất hợp tác làm nhà máy nước tinh khiết, chúng tôi đều bỡ ngỡ vì người Việt Nam ta từ xưa tới lúc bấy giờ chỉ quen uống nước đun sôi để nguội. Ở nông thôn thì uống nước mưa chứa trong bể, có nơi uống cả nước từ vòi, thậm chí nước sông, nước suối. Theo tính toán của đối tác thì làm ra được một chai nước suối, giá thành phải vài ngàn đồng, nếu làm ra mà không bán được thì sao đây? Thế nhưng người Pháp đã thuyết phục chúng tôi rằng trước đây ở Indonesia cũng giống như ở Việt Nam, không ai dùng nước tinh khiết đóng chai cả, nhưng sau khi có sản phẩm tung ra thị trường thì sức tiêu thụ ngày một tăng. Họ còn đưa ra những con số chứng minh mức tiêu thụ rất lớn ở nhiều nước trên thế giới về nước tinh khiết đóng chai. Thế rồi hai bên quyết tâm thực hiện dự án đó. Tôi cho tách một nhóm cán bộ chuyên phối hợp với chuyên gia Pháp để đi tìm nguồn nước đạt tiêu chuẩn: phải thỏa mãn 34 tiêu chuẩn của Cộng đồng Châu Âu. Muốn có được nguồn nước tinh khiết, phải lấy nước ở độ sâu năm, bảy chục mét. Nếu tự phát hiện địa điểm rồi tự tổ chức khoan để lấy nước mẫu thì rất tốn kém nên chúng tôi đã có cách làm khá hiệu quả là căn cứ vào hệ thống các giếng mà tổ chức UNICEF của Liên Hiệp Quốc đã hỗ trợ cho các địa phương từ Huế vào tới Tiền Giang, đến từng điểm lấy mẫu nước về kiểm nghiệm. Mất hàng tháng trời lấy nước mẫu từ miền Trung trở vào mà không đạt. Đến mẫu lấy từ giếng khoan nằm ngay trong khuôn viên Trường Cao đẳng Sư phạm Long An thì thật may, nước ở đó đạt được tới 33 tiêu chuẩn cần thiết, chỉ có tiêu chuẩn hàm lượng sắt là hơi cao. Tuy nhiên, vấn đề này không khó giải quyết, chỉ cần lắp một bộ khử sắt là nước sẽ đạt đủ cả 34 tiêu chuẩn của Cộng đồng Châu Âu. Tiếp đó là vấn đề vốn đầu tư. Theo đề nghị của phía Pháp, hai bên chỉ sử dụng một số vốn nhỏ để góp vào liên doanh (khoảng 30% vốn đầu tư cần thiết), phần còn lại cùng cam kết vay trả từ một ngân hàng Pháp. Dự án được hai bên phối hợp thực hiện thành công và Ủy ban Hợp tác đầu tư với nước ngoài đã cấp giấy phép đầu tư cho ba bên, gồm Seaprodex, Pháp và tỉnh Long An. Đến khi chuẩn bị bắt tay vào thực hiện dự án thì cũng là lúc tôi nghỉ hưu. Trong khi phía Pháp rất mong tôi tác động để dự án nhanh chóng triển khai thì Ủy ban Hợp tác đầu tư với nước ngoài yêu cầu giám đốc mới của Seaprodex phải có văn bản cam kết sẽ thực hiện nghiêm túc dự án đã được cấp phép. Tôi giao trách nhiệm cho anh Nguyễn Chiến Thắng - phó ban Hợp tác liên doanh với nước ngoài của Seaprodex làm việc với anh Lê Văn Phát (giám đốc mới của Seaprodex) để ký văn bản trình lên Ủy ban và báo cáo với Bộ Thủy sản. Nhưng tiếc là anh Phát không ký, dù chính anh ấy đã trực tiếp gặp đối tác Pháp. Mãi sau này tôi mới biết lý do là các cán bộ lãnh đạo Seaprodex nghi ngờ, không tin tưởng vào dự án. Anh Thắng còn cho tôi biết rằng sau mấy lần vận động anh Phát, cuối cùng anh Phát tỏ ra khó chịu, sau này cho anh Thắng vào danh sách hơn hai trăm cán bộ khối Văn phòng Seaprodex tạm nghỉ việc, chờ đợi sắp xếp sau. Hầu hết số cán bộ này sau đó đã tự chuyển đi nơi khác mà không hề khiếu kiện gì vì cơ chế quản lý doanh nghiệp nhà nước lúc đó có sơ hở là cho giám đốc toàn quyền quyết định, Công đoàn chẳng có tiếng nói gì để bảo vệ quyền lợi của người lao động (sau này đã sửa sai). Tuy nhiên, trong số cán bộ bị sa thải hồi đó, sau này rất nhiều người làm ăn thành công, trở thành chủ doanh nghiệp giàu có. Có lần tôi gặp một cô tên là Thu, trước đây là cán bộ của Trung tâm Dịch vụ phát triển thủy sản Seaprodex, lúc đó đã trở thành giám đốc một công ty xuất nhập khẩu giấy có tiếng tăm, đồng thời là ủy viên Hội đồng Quản trị của Công ty Giấy Viễn Đông. Sau khi giới thiệu với tôi cơ ngơi bề thế của công ty mình, cô Thu khẳng định rằng chính nhờ cung cách làm ăn theo cơ chế Tự cân đối tự trang trải mà khi buộc phải rời Seaprodex, cô ấy cùng nhiều bạn bè khác đã tự thân vươn lên để cứu mình, từ tay trắng nay đã có sự nghiệp vững. Cô Thu còn tỏ lời cảm ơn tôi vì đã được làm việc và rèn luyện trong môi trường Seaprodex. Lần khác, khi gặp lại một vài cán bộ từng công tác tại Seaprodex, tôi được họ cho biết nhiều người trước chỉ là “cán bộ xoàng”, nay trở thành doanh nhân có tiếng tăm, chẳng hạn anh Hồ Huy, Tổng giám đốc Công ty Mai Linh…
Anh Thắng còn kể tôi nghe rằng đại diện phía Long An không thấy Seaprodex mặn mà với dự án La Vie đâm ra nghi ngờ vì “phải có nguyên nhân gì đặc biệt thì công ty mạnh và giàu kinh nghiệm như Seaprodex mới tự nhiên bỏ cuộc giữa chừng”. Họ tìm mọi cách khai thác thông tin từ anh Thắng và cuối cùng anh Thắng nói ra sự thật là Seaprodex do thay đổi lãnh đạo nên không tham gia dự án nữa. Ngay ngày hôm sau, báo Long An đăng tải tin lớn, thông báo rằng sau một quá trình tìm kiếm, Long An đã phát hiện nguồn nước tinh khiết tại tỉnh nhà và sẽ chính thức hợp tác với Pháp để sản xuất loại nước này!
Trước đó, tôi đã gặp cả anh Trịnh và anh Năm Phát đề nghị đừng bỏ liên doanh này. Biết cả hai người không mặn mà, tôi gặp anh Lê Ngọc Phước, lúc đó là chủ tịch Hội đồng Quản trị Tổng công ty Thủy sản Biển Đông để thuyết phục thế vào chỗ của Seaprodex. Nhưng anh Phước lại e dè, cho rằng Seaprodex mạnh thế mà còn bỏ thì Biển Đông làm sao đủ sức làm. Tính ra, Seaprodex đã bỏ ra vài trăm triệu đồng để làm dự án La Vie, nhưng cuối cùng bỏ mất “cơ hội vàng” vì chi phí sản xuất nước tinh khiết không bao nhiêu, giá bán ngày một cao, lượng tiêu thụ thật không ngờ nổi, hàng năm thu lãi hàng chục tỷ đồng suốt từ đó đến nay.
Các dự án khác như xây nhà số 2- 4- 6 đường Đồng Khởi, xây dựng nhà máy chế biến thủy đặc sản Vũng Tàu, hợp tác làm dịch vụ bảo hiểm, liên doanh Nga – Việt – Pháp tại vùng biển Viễn Đông, rất tiếc đều không được thực hiện tiếp. Như vậy không chỉ một, mà nhiều “cơ hội vàng” đã bị Bộ Thủy sản và Seaprodex bỏ lỡ.
(còn tiếp)
Nguồn: Minh bạch. Tự truyện của Nguyễn Hồng Cẩn. NXB Văn học, 7-2010.
www.trieuxuan.info
|