tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Tiểu thuyết
20.08.2010
Nguyễn Hồng Cẩn
Minh bạch

Đó là thời điểm 1989, khi đất nước ta đang cố gắng thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế, công cuộc đổi mới mới chỉ thực sự bắt đầu. Người bạn lớn của chúng ta là Liên bang Xô viết bị tan rã, đảng Cộng sản Liên Xô bị giải tán. Vào thời điểm đó, Seaprodex đang cực thịnh, nổi lên trên trường quốc tế như một món thức ăn vô cùng mới mẻ của Việt Nam, là hình ảnh thu nhỏ của kinh tế Việt Nam đang chuyển hướng và thắng lợi. Xin nhấn mạnh rằng Seaprodex đã nhiều lần, chỉ bằng uy tín quốc tế của mình đã đi vay vốn về góp phần cứu nguy cho nền kinh tế trong cơn khủng hoảng. Đã có cả một tác phẩm văn học viết về Seaprodex giai đọan cực thịnh này. Đó là cuốn Trả giá của nhà văn Triệu Xuân, tác phẩm được công chúng văn học đánh giá cao. Nhờ nhạy cảm phát hiện ra thị trường siêu lợi nhuận là vùng Sakhalin của Liên Xô, giới lãnh đạo Seaprodex đã thương thuyết thành công và thành lập Công ty liên doanh Seasafico, mà phía Việt Nam cử ông Hoàng Cổn làm đồng Tổng Giám đốc. Chính Seaprodex đã giúp cho Bộ Nghề cá Liên Xô mở cửa làm ăn với thị trường tư bản, nhờ ông Hoàng Cổn mà Công ty Searefico đã thắng thầu, đánh bại các công ty sừng sỏ của sáu nước tư bản, ký được hợp đồng 1/90 để thi công nhà máy chế biến thủy sản và căn cứ dịch vụ thủy sản tại Sakhalin. Lúc đó, ở Việt Nam mới vừa ban hành Luật Đầu tư nước ngoài dành cho các công ty nước ngoài đến làm ăn ở Việt Nam, chưa có luật cho các công ty Việt Nam đầu tư ra nước ngoài. Như vậy, công trình ở Sakhalin là tạo thêm một lĩnh vực đột phá nữa của Seaprodex và họ đã thành công. Việc đi ra nước ngoài thi công bị coi là làm chui, đến tai Tổng Bí thư Đỗ Mười và Phó Thủ tướng Võ Văn Kiệt. Bộ Thủy sản được yêu cầu báo cáo. Sau khi nghe báo cáo trực tiếp và xem xét tình hình, Tổng Bí thư và Phó Thủ tướng cho phép tiếp tục làm. Hợp đồng 1/90 đang thực hiện thì Công ty Searefico lại trúng thầu hợp đồng 2/90 và sau đó trúng thầu thêm hợp đồng số 3. Lợi nhuận thực tế mà hợp đồng này cho Công ty Searefico, cũng là cho đất nước được xác định lên tới hàng triệu USD. Trong khi nhiều nhà máy ngành cơ khí và một số chuyên ngành khác trong nước đang có nguy cơ bị sập tiệm thì Searefico và Seaprodex Hà Nội trong vòng ba năm đem quân đi đánh xứ người đã thu lợi nhuận khổng lồ: hơn 500 tỷ đồng khi mà Nhà nước không bỏ ra một đồng xu đầu tư!


Không thể không vẽ lại hình ảnh của Searefico vào năm 1984, năm mà ông Nguyễn Hữu Thắng về nhận chức giám đốc. Đó chỉ là một xưởng nước đá với thiết bị già cỗi, hư hỏng và một mảnh đất sình lầy vốn là một bãi rác. Trong mười năm trời (tính đến ngày bị bắt 1/4/1994), Giám đốc Nguyễn Hữu Thắng đã cùng với tập thể cán bộ công nhân viên Searefico đổ mồ hôi, nước mắt và cả máu nữa để kiến tạo nên một công ty với trang thiết bị hiện đại, sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế. Ngay cả đến bây giờ, khi Nguyễn Hữu Thắng đang đứng trước vành móng ngựa hầu tòa, toàn thể cán bộ công nhân viên Searefico đều thừa nhận và khen ngợi tài năng, công lao của Giám đốc Thắng.


Thưa ông chánh án! Thưa Quý tòa!


Trở lại vấn đề bản chất của vụ án, có những khái niệm và hiện tượng mà nếu ta cố tách rời chúng khỏi hoàn cảnh, khuôn chúng vào phạm trù đạo đức, tư cách người đảng viên cộng sản, thì khó mà xét đoán, minh định một cách khoa học. Ông Hoàng Cổn là người Việt Nam duy nhất trong ban lãnh đạo Công ty Seasafico chỉ trong vài năm đã thu lợi cho công ty này mấy triệu USD, có năm xuất khẩu tới 20 triệu USD. Năm 1990, Liên Xô tan rã, toàn bộ hệ thống kế toán cũ bị xóa bỏ, các doanh nghiệp chạy theo cơ chế kinh tế thị trường, cạnh tranh gay gắt. Việc một công ty của Việt Nam nhảy sang đó mà trụ vững được, đánh bật những đối thủ sừng sỏ của các nước Nhật, Đức, Hàn Quốc, Mỹ không phải là chuyện dễ. Lúc ấy, đâu phải đưa tình đồng chí, tình hữu nghị suông mà thắng được thầu. Một trong những luật không thành văn bản, nhưng lại chi phối toàn bộ công chuyện làm ăn của thế giới con người là tiền hoa hồng. Có hoa hồng có nghĩa là biết chơi, là fair play, có nghĩa là xuôi chèo mát mái.


Tôi sẽ không để quý tòa phải mất thời gian khi lặp lại những điều mà đồng nghiệp của tôi tại phiên tòa sơ thẩm đã nỗ lực thuyết trình về khoản tiền 95.000USD và khoản 100.000USD. Ở đây, tôi chỉ nhấn mạnh một điều rằng ông Nguyễn Hữu Thắng tình ngay mà lý không gian, nghĩa là ông Thắng chưa có cơ hội chứng minh rằng mình đã chi hoa hồng cho người Nga qua ông Cổn trong khoản 100.000USD. Ngay cả khoản 95.000USD do chính ông Thắng đã trả cho người Nga thì người ta đã xác nhận rồi, không hề có kiện cáo gì, nhưng tòa sơ thẩm đã không nhìn nhận những điều đó là có thật.


Được phép thì tôi thưa với ông chánh án và Quý tòa: Cứ cho rằng Seasafico không nhận được khoản 95.000USD, thì vì lý do gì mà họ lại cho Searefico quyết toán hợp đồng cũ, tiếp tục nghiệm thu hợp đồng mới? Chắc chắn là ông Thắng không thể lợi dụng chức quyền hay địa vị con ông cháu cha để ép buộc được họ.


Riêng khoản tiền 100.000USD, đã có những bằng chứng và nhân chứng chứng tỏ rằng tập thể ban lãnh đạo Searefico dùng chi cho người Nga, nhưng tòa sơ thẩm cũng không nhìn nhận những bằng chứng này. Tòa sơ thẩm cho rằng ông Thắng không giải trình được, nghĩa là không chứng minh được mình đã chi hoa hồng chứ không bỏ túi. Xin thưa, chứng minh bằng cách nào? Nhân chứng và bằng chứng không được nhìn nhận (hai chị phiên dịch) thì chỉ còn cách xuất trình biên nhận mà thôi! Nhưng xin được phép nêu: khi bạn tặng ai đó một món quà, bạn có đòi người nhận phải viết giấy biên nhận không? Ký xong một hợp đồng, một bản thanh toán, bao giờ người được hưởng lợi cũng phải đáp lễ, người gia ơn bằng bao thư hay quà cáp gì đó. Tập tục trong giới doanh nghiệp toàn cầu là vậy. Chẳng nói đâu xa, ở Việt Nam ta, từ hơn chục năm nay, chỉ riêng việc xét duyệt quota cho các doanh nghiệp hàng năm hầu như đã xuất hiện tập tục này. Thử làm một bài toán chia, trong suốt ba năm trời, Searefico phải tiếp hàng chục bao thư thì mỗi người nhận được bao nhiêu trong ba năm? “Thả con săn sắt bắt con cá sộp” là câu cha ông ta dạy kia mà!


Là một luật sư bào chữa cho ông Thắng, tôi không ngây thơ đến độ tin là thân chủ của mình không hề kinh doanh trong khoản này. Không ai tin được và thiết nghĩ cũng chẳng cần phải tin vào chuyện đó. Thế nhưng điều căn bản là một phần lớn số tiền 100.000USD quả là được chi hoa hồng cho người Nga bằng tiền của Nga, lại chi cho Nga để hợp lý của sự thỏa thuận hai bên. Nếu ông Thắng không chi cho người Nga thì trước hết ông Cổn không thể yên được với người Nga và người Nga không đời nào chuyển số tiền 700.000USD cho Searefico. Nếu phủ nhận điều này tức là cố tình phủ nhận một thực tế là Searefico đã thực sự kiếm được siêu lợi nhuận, lại còn được thêm khoản 700.000USD nữa. Còn nếu nhìn nhận thành quả này, đồng thời cố tình phủ nhận việc đã chi hoa hồng thì chỉ còn cách lý giải duy nhất là ông Thắng đã lợi dụng chức vụ của mình để ép người Nga phải cho Searefico trúng thầu và tuồn vô điều kiện cho Searefico! Nếu quả như thế thì ước gì nước nhà có thêm vài chục ông Thắng nữa!


Kính thưa ông chánh án! Thưa Quý tòa!


Như vậy, vì sao ông Thắng lại rơi vào tình huống tình thì ngay mà lý thì không ngay?


Vấn đề mấu chốt là ở lời cung sai sự thật của các bị cáo nhằm trốn tránh trách nhiệm, sợ bị pháp luật trừng trị dẫn đến sự phức tạp của vụ án. Khi vụ việc đã quá phức tạp rồi thì họ đâm lao phải theo lao và trút hết tội lỗi lên giám đốc của mình.


Thứ nhất là những lời cung sai sự thật của anh Tâm và chị Hoàng, hai người dính líu chủ chốt vào khoản 95.000USD. Anh Tâm chiếm dụng vốn để đi buôn rồi lại trút tội lên giám đốc của mình.


Thứ hai là những lời cung sai sự thật do hoảng loạn, sợ bị pháp luật trừng trị, rằng ông Cổn đã cùng với Tâm buôn bán quay vòng hàng hóa Việt-Nga-Việt nhằm chuyển USD về nước. Xin nhắc lại rằng trong những năm đó, mang ngoại tệ về không dễ như hiện nay. Việc ông Cổn chối rằng chỉ nhận 40.000USD, sau đó lại khai rằng chỉ nhận 20.000USD trong khoản 60.000USD thì bản chất sự việc vẫn thế. Không có biên nhận kia mà, ông Cổn chối là phải!


Thứ ba, có điều tệ hại hơn: việc những cộng sự của ông Thắng là hai phó giám đốc Hiền và Đán cùng với Cường, trong khi trốn tránh trách nhiệm gây thiệt hại tới 600.000USD ở hợp đồng 1/90 và 2/90, đã khai sai nhằm trút hết tội cho giám đốc của họ. Đây phải chăng là sự hèn nhát đáng thương và cố hữu của con người? Họ, những kẻ có tội thật sự thì nay đang sống nhởn nhơ ngoài đời!


Điều cuối cùng là việc gia đình ông Thắng nộp tiền cho cơ quan điều tra. Đây đơn thuần là xuất phát từ tình thương, mong muốn cho người thân thoát nạn. Trong cơn lửa bỏng dầu sôi, những người phụ nữ là mẹ và vợ của bị can làm sao có thể làm ngơ khi con họ, chồng họ lâm vòng tù tội? Mặt khác, gia đình ông Thắng được hứa hẹn rằng nếu nộp 20.000USD thì anh Bình sẽ không bị bắt. Nhưng sau khi đi vay chịu lãi suất cao tới 7% để nộp tiền rồi, anh Bình vẫn bị bắt!


Anh Nguyễn Hữu Bình là người vô can trong vụ án này. Công ty của anh Bình đã vay và trả cho Searefico 100.000USD. Đó là sự thật hiển nhiên. Không thể vì bất cứ duyên cớ nào buộc cho anh Bình tội tòng phạm tham ô được. Ngay cả tòa sơ thẩm cũng phải thừa nhận rằng anh Bình không hưởng chút gì trong số 100.000USD này. Hai anh em ruột, mà người bị án chung thân, người thì 14 năm tù. Đau xót thay! Oan ức biết chừng nào!


Dựa trên những chứng lý mà tôi có sẵn tại đây, tôi cho rằng ông Nguyễn Hữu Thắng không phạm tội tham ô tài sản Xã hội chủ nghĩa, không gây hậu quả gì nghiêm trọng như bản án sơ thẩm mà Tòa án Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên. Tôi kính đề nghị Quý tòa hủy bản án sơ thẩm, cho làm lại tiến trình điều tra và xét xử lại vụ án theo đúng tội danh. Dư luận và đặc biệt là giới doanh nghiệp trẻ nước nhà đang trông đợi vào quyết định anh minh của Quý tòa.


Xin cám ơn ông chánh án, cám ơn Quý tòa!


Tiếc rằng những lời bào chữa ấy không được xem xét nghiêm túc. Tuy vậy, tại tòa phúc thẩm, tội danh tham ô chiếm đoạt tài sản 196 ngàn USD được hủy bỏ vì có bằng chứng xác nhận từ phía Liên Xô đã nhận 96 ngàn USD, còn 100 ngàn USD họ gửi tạm vào tài khoản của Searefico để tránh sự phá sản, tan rã của hệ thống ngân hàng Liên Xô lúc đó. Số tiền ấy đã được Searefico chi trả dần. Rõ ràng số tiền bị cho là chiếm đoạt không phải là của Nhà nước Việt Nam, còn văn bản xác nhận của phía Liên Xô thì hoàn toàn thật, không phải giả như cơ quan điều tra đã khẳng định. Tuy nhiên, tòa chỉ công nhận Hữu Thắng đã chi 37 ngàn USD, nhưng cho rằng không có đầy đủ bằng chứng chi 43 ngàn USD, việc Hoàng Cổn đã chi 20 ngàn USD cũng không được công nhận, cuối cùng tuyên Hữu Thắng chịu 15 năm tù, Hoàng Cổn chịu bốn năm, còn Hữu Bình năm năm. Riêng tôi vẫn thắc mắc là việc vận dụng luật tố tụng hình sự trong vụ án này dường như có gì đó không minh bạch: Tại sao vụ án giả mạo chứ ký để tham ô 180 ngàn USD được chuyển sang vụ án chi hoa hồng mà không tiến hành điều tra lại từ đầu? Cách đây không lâu, tôi có dịp gặp lại luật sư Phan Minh Hùng. Luật sư kể rằng trong lần được gặp một số đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, ông đã nêu ý kiến là trong thời gian còn làm việc, ông thấy một số vụ án bị xét xử không chính xác, gây oan sai cho các bị cáo nên đến giờ, ở tuổi 80 rồi mà ông vẫn còn thấy bứt rứt. Ông cho rằng chúng tôi nên làm đơn đề nghị xem xét lại trường hợp của Hoàng Cổn, Hữu Thắng, Hữu Bình để minh oan cho ba người ấy. Tôi nghĩ rằng chuyện cũ đã trôi qua hơn 15 năm rồi, cả ba đã gánh chịu hậu quả quá đau xót rồi, thực hư thì những người trong và cả ngoài cuộc đều rõ cả, khiếu nại cũng chỉ đẻ thêm việc cho các cơ quan thực thi pháp luật, tốt hơn là để họ có thời gian làm cho tốt trách nhiệm của họ trong việc xử lý bao vụ việc phức tạp đã bị phát giác trong vài ba năm nay.


Lúc đó, một câu hỏi được đặt ra: Nếu Hữu Thắng không phải là con trai tôi thì có bị nặng tội như vậy không, vì có người ngộ nhận tôi là “người của ông Đỗ Mười, được ông Đỗ Mười bảo vệ”. Không “đánh” được tôi thì “đánh” con tôi cho bõ ghét. Đúng là chính tôi đã có lần chất vấn anh Đỗ Mười rằng tôi đã có một quá trình công tác gắn bó với anh từ khi anh là bí thư Khu ủy Tả ngạn, rồi bí thư Thành ủy Hải Phòng, chủ tịch Ủy ban Quân quản 300 ngày… nhưng đã có khi nào tôi nhờ vả anh bất cứ điều gì chưa. Anh ấy gật đầu nói không. Tôi hỏi tiếp: “Thế sao anh không dám bảo vệ tôi?”… Sau này anh Nguyễn Văn Ích - nguyên phó Văn phòng 7 của Hội đồng Bộ trưởng cũng nói tôi bị “tai bay vạ gió”. Đúng là “họa vô đơn chí”!


Sau hơn bốn năm trong trại giam, Hữu Thắng và Hữu Bình được ân xá. Riêng Hoàng Cổn bị ốm nặng đến mức phải đưa ra nằm ở bệnh xá trại giam, sau đó bệnh tình ngày một nặng thêm, được cho về nhà chữa bệnh nhưng không qua khỏi. Trong đám tang Hoàng Cổn, nhiều người đến viếng mà đau xót cho anh ấy. Ở cuốn sổ tang, Bộ trưởng Nguyễn Tấn Trịnh có viết vài dòng, đại ý là: Em (tức Hoàng Cổn) là người bị oan và anh (bộ trưởng Trịnh) sẽ có trách nhiệm tiếp tục tháo gỡ vụ việc để giải oan cho em! Sau, tôi gặp anh Trịnh để hỏi về việc giải oan cho Cổn. Anh Trịnh xác nhận: xuất phát từ tình cảm, đã viết như thế, nhưng thực tế đã không làm gì được để giải oan cho Hoàng Cổn!


Người không đáng chết đã chết rồi, người bị giam cầm cũng đã được tự do, nhưng đọng lại trong vụ án này là Hoàng Cổn và Hữu Thắng là những người có công, đóng góp tích cực trong quá trình đổi mới của ngành thủy sản đã bị oan sai mà không hề được giải tỏa. Trên thực tế, Nhà nước Việt Nam không mất tiền, phía Nga cũng không kêu mất tiền, Hữu Bình hoàn toàn vô tội mà trở thành có tội. Hoàng Cổn trước đây chỉ là một cán bộ bình thường của Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Thủy sản, nhưng khi được bổ nhiệm làm đồng Tổng Giám đốc Công ty Seasafico, sang tận vùng Viễn Đông của Liên Xô làm việc thì phát huy rất tốt năng lực, làm ăn rất hiệu quả, được phía Nga ca ngợi là “Mặt trời ở Sakhalin”. Hữu Thắng khi được bố trí làm giám đốc Công ty Kỹ nghệ lạnh đã tiếp nhận cơ sở vật chất không đáng kể gì, chỉ là một trạm sửa chữa cơ khí trên khu đất trước là bãi rác, nhưng sau vài năm lăn lộn, gắn bó chặt chẽ với hệ thống các nhà máy chế biến thủy sản đông lạnh trên toàn quốc, tổ chức dịch vụ hậu cần kỹ thuật có hiệu quả nên nhanh chóng gây dựng được cơ ngơi cơ điện lạnh khá mạnh, trị giá mấy triệu USD, chủ yếu là vốn tự có, đồng thời có những liên doanh tốt với các đối tác nước ngoài. Những con người có công như thế lẽ ra phải được tôn vinh và được bảo vệ, nhưng chỉ vì sơ xuất, sai sót nhỏ và do nội bộ mâu thuẫn, bè phái mà mọi công sức bị đổ xuống sông, xuống biển, thậm chí còn bị người đời hiểu lầm một cách vô cùng oan uổng. Đáng tiếc và cũng cay đắng làm sao!


Từ vụ án Hoàng Cổn, Hữu Thắng và Hữu Bình, tôi đã rút ra một bài học kinh nghiệm để truyền lại cho con cháu. Trong một lần con cháu họp mặt đông đủ, tôi đã tâm sự như sau:


- Các cháu ạ, qua sự cố mà bác Thắng và chú Bình gặp phải, ông đã rút ra được bài học đắt giá mà hôm nay muốn nhắn gửi lại cho các cháu. Cuộc đời của các cháu từ khi lọt lòng cho đến lúc 20 – 25 tuổi luôn được cha mẹ, gia đình, nhà trường dạy dỗ để trở thành người và có ích cho xã hội. Đó là một quá trình công phu và gian khổ. Vì vậy, ông mong các cháu cố gắng chăm ngoan, làm tốt những gì cha mẹ, ông bà hằng ngày giao phó để sau này vững vàng bước vào đời. Từ 20 – 25 tuổi đến 40 – 45 tuổi, các cháu phải làm được và vượt qua những thử thách sau đây thì mới mong cuộc đời thành đạt.


Thứ nhất, cái vốn vô giá và cũng là tài sản lớn nhất của đời người là tri thức và sức khỏe. Luôn rèn luyện để nâng cao tri thức và tăng cường sức khỏe cũng là một trong 14 điều mà Phật dạy chúng ta.


Thứ hai, gia đình êm ấm là nguồn động viên sức mạnh để giúp chúng ta phát huy năng lực, cống hiến cho đời.


Thứ ba, trong cuộc sống không được buông thả, mất cảnh giác mà từ đó có thể vô tình hay hữu ý lao vào sai lầm đến nỗi tan nát cuộc đời.


Thứ tư, phải phấn đấu tạo ra những thành quả nhất định trong sự nghiệp, đồng thời biết cần kiệm, tích lũy vốn liếng để không bị rơi vào cảnh túng quẫn, nghèo đói.


Dù không có được điều kiện như các cháu ngày nay nhưng ông đã cố gắng làm được hầu hết những điều đó. Ông tin vào thế hệ cháu chắt của ông và sẽ rất vui khi được chứng kiến những thành công của các cháu trong học tập, lao động và trong sự nghiệp của mình.


(còn tiếp)


Nguồn: Minh bạch. Tự truyện của Nguyễn Hồng Cẩn. NXB Văn học, 7-2010.


www.trieuxuan.info


 


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cõi mê - Triệu Xuân 25.03.2020
Giấy trắng - Triệu Xuân 25.03.2020
Anh em nhà Karamazov - FYODOR Mikhailovich Dostoyevsky 16.03.2020
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 15.03.2020
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 15.03.2020
Đêm Sài Gòn không ngủ - Trầm Hương 10.03.2020
Trong cơn lốc xoáy - Trầm Hương 10.03.2020
Ông cố vấn - Hữu Mai 26.02.2020
Đẻ sách - Đỗ Quyên 15.02.2020
Hòn đất - Anh Đức 13.02.2020
xem thêm »