tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Tiểu thuyết
24.08.2010
Nguyễn Hồng Cẩn
Minh bạch

Tôi đã công tác ở các địa phương duyên hải Bắc Bộ và trong ngành thủy sản hầu như cả cuộc đời. Tôi nhận thấy nhiều khi những người đứng đầu địa phương hay đầu ngành còn coi nhẹ, thiếu sự quan tâm đến những vụ việc móc ngoặc, tham nhũng, những lo lót phạm pháp của cán bộ công nhân viên dưới quyền của mình. Thành thử, khi xảy ra chuyện thì có hai trạng thái: hoặc thờ ơ, né tránh, hoặc vô cảm, thiếu trách nhiệm. Đất nước ta đang ở giai đoạn phát triển, có nhiều lĩnh vực mới mẻ mà chúng ta chưa có nhiều hiểu biết, nhiều kinh nghiệm nên phải cố gắng nhìn nhận khách quan, sơ kết, tổng kết để sửa sai, điều chỉnh, nâng cao trình độ nhận thức và quản lý. Người đứng đầu phải chịu trách nhiệm nếu cán bộ dưới quyền làm những việc sai trái, phạm pháp, kiếm chác, tham nhũng… và cũng phải chịu trách nhiệm trước những lề thói lạc hậu, thủ cựu, giáo điều, cản trở công cuộc đổi mới.


Trong số nhiều vụ án đã xảy ra trong ngành thủy sản, một số vụ khi được chính đơn vị và Bộ quan tâm tháo gỡ rốt ráo thì hậu quả không lớn, điển hình là trường hợp của anh Huỳnh Công Hòa. Khi tôi làm thứ trưởng kiêm giám đốc Seaprodex thì anh Hòa cũng làm thứ trưởng kiêm giám đốc Công ty Tây Nam. Lúc đầu chỉ nghe lào xào có tiêu cực gì đó ở Xí nghiệp đánh cá Chiến Thắng thuộc Công ty Tây Nam, sau đó tôi được anh Bá Phát – bí thư Ban Cán sự và anh Trịnh – bộ trưởng Bộ Thủy sản mời ra Hà Nội để bàn gấp về vụ việc có liên quan đến anh Hòa vì hôm sau cần phải làm việc với các cơ quan có liên quan để khởi tố anh Hòa. Ngay buổi trưa ra Hà Nội, tôi đề nghị Ban Cán sự với đầy đủ thành phần gấp rút gặp anh Hòa (lúc đó đã bị đình chỉ công tác) để nghe anh Hòa trình bày rõ vụ việc. Anh Phát nói rằng mọi việc đã chuẩn bị và đã gửi giấy mời họp ngày hôm sau rồi, gặp anh Hòa chiều hôm ấy sợ không kịp. Tôi cho rằng phải hiểu thấu tình hình mới có được ý kiến xác đáng nên đề nghị hoãn cuộc họp hôm sau. Trước thái độ kiên quyết của tôi, anh Phát và anh Trịnh đành đồng ý hoãn. Sau khi nghe anh Hòa trình bày, tôi phát biểu, phân tích những mặt đối lập nên qua bàn bạc, Ban Cán sự nhất trí rằng chưa đủ cơ sở để khởi tố vụ việc, đề nghị thẩm tra lại. Sau đó, Thường vụ Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh tổ chức họp bàn về vụ việc này, có mời đại diện Ban Công nghiệp Trung ương và Bộ Thủy sản cùng dự. Tôi đại diện Bộ Thủy sản và anh Bích đại diện Ban Công nghiệp Trung ương tới An Phú họp theo lời mời của Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh. Bí thư Thành ủy khi đó là anh Võ Văn Kiệt chủ trì cuộc họp. Căn cứ vào tài liệu đã chuẩn bị, anh Sáu Dân đặt câu hỏi:


- Cuộc họp có bảy ban của Thành ủy đồng ý khởi tố vụ việc này, gồm những ban nào?


Chị phó ban Nội chính Thành ủy báo cáo:


- Thưa anh, buổi sáng hôm đó họp thì có đủ bảy ban và bàn về nhiều vấn đề. Gần cuối buổi chiều mới bàn đến vụ việc anh Hòa thì chỉ còn có đại diện ba ban.


Anh Sáu Dân tỏ ra không hài lòng:


- Chỉ có đại diện ba ban sao không báo cáo với tôi?


Chị phó ban lý giải:


- Dạ vì đã có đầy đủ tài liệu để khởi tố, chỉ cần thông qua cuộc họp hôm đó là thi hành.


Kế đó, anh Sáu Dân yêu cầu đại diện Bộ Thủy sản phát biểu. Do vừa họp Ban Cán sự nên tôi phát biểu rất gọn, rất rõ. Đến lượt anh Bích, anh ấy cũng có ý kiến tương tự như Bộ Thủy sản. Vì vậy, anh Sáu Dân kết luận chưa thể vội vàng thông qua đề nghị khởi tố anh Hòa được, mà Thường vụ Thành ủy phải bàn kỹ, sau khi thống nhất ý kiến sẽ báo cáo với Ban Bí thư. Ngay sau khi cuộc họp kết thúc, anh Sáu Dân mời tôi ở lại trao đổi thêm. Kết quả cuối cùng là anh Hòa không bị khởi tố, được phục hồi chức thứ trưởng. Trước đó chưa có trường hợp thứ trưởng nào bị đình chỉ công tác mà lại được phục chức nhanh như vậy.


Tôi còn nhớ cả vụ anh Quán – nguyên giám đốc Nhà máy Cá hộp Hải Phòng hồi kháng chiến chống Mỹ. Anh ấy bị bắt tạm giam tám tháng vì tội ăn bớt nguyên liệu gia công lương khô cho quân đội. Sau tám tháng bị tạm giam, anh Quán đến các cơ quan có liên quan tường trình và được đánh giá là không có tội, nhưng không ai chịu đứng ra giúp giải oan cho anh ấy. Phải tới khi tổng cục trưởng Hoàng Hữu Nhân họp bàn trong lãnh đạo Tổng cục Thủy sản, khẳng định các cơ quan có thẩm quyền đã có kết luận, nhưng không cơ quan nào ra quyết định bằng văn bản thì Tổng cục sẽ ra văn bản và kể từ ngày ban hành văn bản, trong vòng ba tháng, nếu các cơ quan có liên quan không gửi ý kiến phản hồi thì coi như đã đồng ý với ý kiến của Tổng cục Thủy sản. Hết thời hạn ba tháng, không có ý kiến nào phản hồi, anh Nhân đã ký quyết định phục hồi chức vụ cho anh Quán!


Ở Seaprodex cũng có một trường hợp xảy ra hồi năm 1988, bị báo Công an thành phố Hồ Chí Minh (số 177, ra ngày 20 tháng 12 năm 1989) đặt tên là vụ án “bộ ba làm kinh tế”. Có sai sót của cấp dưới, nhưng anh Trương Thanh Hà, phó giám đốc Seaprodex, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra đề nghị đình chỉ công tác và khởi tố bị can. Lãnh đạo Seaprodex khi đó đã tập trung phân tích kỹ vụ việc và thấy rằng cần phải thận trọng làm rõ các vụ việc liên quan đến anh Hà, cử anh Bảy Cúc – trưởng ban Tổ chức Cán bộ làm việc với các cơ quan có thẩm quyền và mời cả luật sư xem xét biện hộ. Rất may là bằng chứng của cơ quan điều tra không đủ sức thuyết phục, Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao theo đơn đề nghị của anh Hà đã kiểm tra hồ sơ, cuối cùng ra văn bản khẳng định anh Hà không mắc sai phạm đến mức phải truy tố. Quyết định đình chỉ điều tra ban hành vào tháng 11 năm 1990. Sau khi anh Hà được giải oan, báo Công an thành phố Hồ Chí Minh, mà đích danh phó tổng biên tập Huỳnh Bá Thành, phải đính chính và công khai xin lỗi vì đã đưa tin thiếu chính xác, nhất là tin tức có liên quan đến đối tác nước ngoài trong vụ việc ấy. Tôi và nhiều người khác đánh giá cao việc làm như vậy của báo Công an thành phố Hồ Chí Minh. Trước đó mấy năm, anh Lê Văn Phát – nguyên phó giám đốc Seaprodex cũng bị Cơ quan Cảnh sát điều tra đề nghị tạm giam. Tập thể lãnh đạo Seaprodex cũng bàn bạc kỹ và thống nhất đề nghị các cơ quan có liên quan chưa vội thưc hiện (Seaprodex đứng ra bảo lãnh) để thu thập đầy đủ chứng cớ. Kết quả là sau đó anh Phát cũng không bị điều tra thêm nữa.


Nói lại những câu chuyện như vậy, tôi muốn gửi tới những người trẻ một lời khuyên rằng cần phải hết sức cẩn thận và tỉnh táo để không bị vi phạm khuyết điểm đến nỗi cơ quan điều tra phải vào cuộc. Vì khi đó, dù không phạm tội, vẫn rất khó được minh oan. Tôi cũng muốn nhắc nhở những cán bộ đương nhiệm hãy nhạy cảm hơn trước bất kỳ vụ việc nào mà cấp dưới có dấu hiệu vi phạm pháp luật, đồng thời phải chủ động giúp các cơ quan thực thi pháp luật làm sáng tỏ mọi vấn đề, không để lọt tội nhưng cũng đừng để người ngay bị oan sai. Đó là một trong những trách nhiệm của người người lãnh đạo.


***


Dù gặp những nỗi đau lớn trong đời như vậy, nhưng do bản tính không ngừng động não, luôn muốn tìm tòi cái mới nhằm đóng góp cho ngành, cho xã hội, nên tôi vẫn cố gắng tham gia vào các hoạt động trong ngành thủy sản. Chủ tịch Hội Nghề cá Việt Nam khi đó là Phó thủ tướng Vũ Đình Liệu đề nghị tôi tham gia đẩy mạnh hoạt động của Hội. Tôi đã nhận lời nhưng không nhận bất cứ chức vụ gì. Anh Tư Bình phân công tôi đại diện Hội Nghề cá Việt Nam tiếp xúc với tổ chức hội nghề cá của các nước khác, cùng anh ấy đi xuống cơ sở và xây dựng kế hoạch hợp tác với Seaprodex. Chúng tôi kết nối với Hội Nghề cá Đài Loan, tổ chức một chuyến thăm quan thực tế nghề nuôi cá biển ở Đài Loan, mời đại diện Hội Nghề cá Đài Loan sang Việt Nam. Sau đó, chúng tôi xây dựng được một phương án hợp tác có tên là “Liên minh quốc tế xúc tiến đầu tư, chuyển giao công nghệ và dịch vụ nuôi tôm hữu cơ BACS” (BACS viết tắt từ Bio - Aquaculture Clean System, nghĩa là hệ thống nuôi trồng thủy sản sạch bằng chế phẩm vi sinh), giới thiệu doanh nhân Đài Loan là Frank Liu vào hợp tác đầu tư nuôi tôm sú bằng chế phẩm vi sinh tại Công ty Sông Gianh ở Quảng Bình.


Trở về Seaprodex, tôi nhận thấy hoạt động của Công ty Tài chính tín dụng Seaprodex (là công ty tài chính tín dụng đầu tiên ở nước ta) đã kém hiệu quả hơn thời gian đầu vì gặp nhiều trở ngại. Sau khi bàn bạc, chúng tôi quyết định xây dựng đề án “Chuyển Công ty Tài chính tín dụng thành Ngân hàng Thủy sản Việt Nam”. Anh Thanh Châu - một chuyên gia kỳ cựu ngành ngân hàng đã tham gia cùng chúng tôi thiết kế tính toán xây dựng đề án này. Chúng tôi tổ chức các chuyến đi địa phương vận động góp vốn. Quá trình vận động và trù bị diễn ra khá suôn sẻ. Anh Tư Bình đề nghị và được thủ tướng Phan Văn Khải hứa: Chính phủ sẽ cho Hội Nghề cá Việt Nam vay 50 tỷ đồng để góp vào vốn điều lệ của ngân hàng. Sau đó, anh Tư Bình cử tôi ra Hà Nội để làm việc với các ban ngành có liên quan. Tiếc là vấn đề không đơn giản như chúng tôi suy nghĩ. Để có ý kiến đồng thuận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, cần phải lo khoản chi phí dịch vụ, có người “mách lối” chuẩn bị khoảng 120 triệu đồng là xong! Tôi cho rằng nếu cần phải qua dịch vụ thì cố gắng tìm nguồn để ứng trước, sau này ngân hàng đi vào hoạt động thì hoàn trả, nhưng anh Tư Bình phản đối. Đã vậy, khi gặp thủ tướng Phan Văn Khải thì lại nhận được lời khuyên “Các anh già rồi, phải thận trọng kẻo bị lợi dụng!” và cho biết sẽ không bỏ 50 tỷ đồng để Hội Nghề cá góp vốn lập ra Ngân hàng Thủy sản nữa. Tôi thất vọng, đứng dậy ra về, chỉ nói: “Các anh đánh giá thấp chúng tôi quá!”. Khi nghe tôi báo cáo sự tình, anh Tư Bình cũng rất phiền lòng. Cuối cùng, đề án làm tốn bao công phu đành phải bỏ, làm chúng tôi cứ tiếc mãi. Tôi nhớ trong cuộc họp có đông đảo cán bộ trong ngành, anh Tư Bình phát biểu: “Một trong những thất bại lớn nhất trong đời tôi, khiến tôi rất buồn, là không thành công trong việc thành lập Ngân hàng Thủy sản Việt Nam, mà nguyên nhân là do chúng tôi quá tin tưởng vào những người có chức trách”.


Nguyên phó thủ tướng Vũ Đình Liệu đúng là một nhà lãnh đạo luôn hết mình vì nước, vì dân, là tấm gương rất đáng học tập. Ở tuổi đã ngoài 80, ông vẫn không nề hà đi xuống tận các địa phương, ra Bắc vào Nam, bằng uy tín và sự quen biết của cá nhân để tìm mọi cách lo cho Hội Nghề cá Việt Nam. Khổ nỗi cơ sở vật chất của Hội quá nghèo nàn, lực lượng cốt cán của Hội hầu hết là các cán bộ đã nghỉ hưu, không chuyên nghiệp, nên hiệu quả hoạt động của Hội không thể cao, chỉ mang tính chất vận động và hướng dẫn nông dân, ngư dân nghèo cải thiện đời sống bằng các hoạt động nuôi trồng thủy sản. Khi sức khỏe đã suy giảm nhiều, anh Tư Bình muốn tìm người khác làm chủ tịch Hội Nghề cá thay mình và hỏi ý kiến chúng tôi về anh Khánh, nguyên bí thư Tỉnh ủy An Giang. Tôi cho rằng anh Khánh có khả năng làm được, nhưng có hai cái khó. Thứ nhất là anh ấy ở An Giang, xa cả Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh nên điều hành không thuận tiện. Thứ hai, bộ máy và nguồn kinh phí của Hội đều chưa mạnh nên phải cố gắng lắm mới vượt qua được. Ngay từ khi được đề nghị thay anh Tư Bình làm chủ tịch Hội Nghề cá Việt Nam, anh Khánh đã lưỡng lự, nhưng sau đó cũng rất cố gắng để hoàn thành hết nhiệm kỳ của mình và chuyển trách nhiệm đó cho thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Nguyễn Việt Thắng trước khi anh Thắng nhận quyết định nghỉ hưu.


Anh Việt Thắng còn khỏe, đã nhiều năm công tác ở Viện nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản II, tham gia lãnh đạo Bộ Thủy sản thời anh Ngọc làm bộ trưởng. Có tâm huyết với ngành nên sau khi nghỉ hưu, anh bắt tay ngay vào công việc của Hội Nghề cá và tỏ ra rất nỗ lực. Chúng tôi đã nhiều lần trao đổi công việc với nhau, tạo được sự đồng cảm và nhất trí cao, nhanh chóng thực hiện những công việc cấp bách để nâng cao vị trí và vai trò của Hội Nghề cá Việt Nam như định hình tư duy chiến lược phát triển nghề cá Việt Nam, củng cố Văn phòng Hội, tổ chức Hội đồng Tư vấn và dịch vụ phát triển nghề cá để quy tụ các nhà khoa học, các chuyên gia cùng tham gia vào các dự án, đề án do Hội xây dựng… Nhờ đó, Hội đã có một số văn bản có tính chất chiến lược kịp thời gửi tới Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và Chính phủ để được chỉ đạo và hỗ trợ, bao gồm:


- Chiến lược chống và chế ngự thiên tai, địch họa, gìn giữ an ninh vùng biển, mặt tiền của Tổ quốc.


- Chiến lược bảo vệ, gìn giữ, tái tạo tài nguyên, môi trường sinh thái kết hợp với khai thác nguồn lợi hợp lý để phát triển nghề cá bền vững.


- Chiến lược đổi mới toàn diện, đổi mới triệt để nhằm phát triển kinh tế - kỹ thuật - xã hội nghề cá giai đoạn 2010 – 2020, tập trung vào xây dựng bốn trụ cột của nghề cá Việt Nam.


Ngoài ra, chúng tôi còn phối hợp nghiên cứu, tìm tòi địa điểm phù hợp để xây dựng khu bảo tàng truyền thống lịch sử văn hóa nghề cá Việt Nam, kết hợp làm dịch vụ du lịch sinh thái cho du khách cả trong và ngoài nước. Vấn đề biên soạn tài liệu truyền thống lịch sử nghề cá Việt Nam cũng đã được bàn bạc và tìm giải pháp thực hiện.


***


Liên tục hơn hai chục năm qua, ngành kinh tế thủy sản nước ta từ chỗ bế tắc, trên bờ vực phá sản đã có lối đi ra, đi lên và liên tục phát triển với tốc độ khá cao, đặc biệt nghề nuôi tôm ở Việt Nam đã có những sự thay đổi lạ kỳ. Khởi đầu từ việc Liên doanh Vatech giữa Seaprodex và đối tác Australia du nhập nghề nuôi tôm sú vào các tỉnh miền Trung hồi những năm cuối thập niên 1980. Nghề nuôi tôm sú nhanh chóng lan rộng xuống các tỉnh khu vực đồng bằng sông Cửu Long và ra phía Bắc. Trong suốt thập niên 1990, nuôi tôm được triển khai ở cả ba miền, lúc đầu thể hiện hiệu quả kinh tế cao nên xuất hiện một phong trào tự phát “người người nuôi tôm, nhà nhà nuôi tôm”. Nhưng chỉ sau vài ba vụ nuôi đầu có kết quả thì càng nuôi, nguy cơ rủi ro càng lớn. Hàng năm, tình trạng tôm bị bệnh chết hàng loạt ở các địa phương liên tục xảy ra. Thực tiễn cho thấy chúng ta không xây dựng được một quy trình công nghệ hợp lý. Ngay cả các tài liệu hướng dẫn nuôi tôm trong những năm trước, nếu xem lại sẽ thấy nhiều vấn đề kỹ thuật được dẫn giải khá lạc hậu, nhất là hướng dẫn dùng các loại hóa chất vô cơ để xử lý, làm sạch ao nuôi, dùng các loại thuốc kháng sinh phòng trị bệnh cho tôm. Nghề nuôi tôm ở Việt Nam vẫn ở tình trạng “siêu rủi ro”.


Từ cuối thập niên 1990, một số chế phẩm sinh học từ nước ngoài du nhập vào thị trường Việt Nam và sau một thời gian, có tới hàng trăm loại chế phẩm sinh học được quảng cáo và chào bán. Do một vài loại chế phẩm phát huy được tác dụng nên từ kinh nghiệm nuôi, người nuôi tôm ở một số địa phương vùng đồng bằng sông Cửu Long đã nhận thức được rằng phải sử dụng chế phẩm sinh học trong nuôi tôm. Mặc dù vậy, vẫn chưa có đúc kết và khẳng định rõ nên dùng những loại chế phẩm sinh học nào và theo quy trình công nghệ nào để đảm bảo việc nuôi tôm tránh được các rủi ro, có hiệu quả và bền vững. Tình trạng phát triển nghề nuôi tôm vẫn tự phát kéo dài sang những năm đầu thế kỷ XXI, công nghệ nuôi tôm chuẩn mực vẫn chưa được đúc kết; hậu quả tất yếu là môi trường ở một số vùng nuôi tôm tập trung đã bị ô nhiễm nặng nề, nuôi tôm kém hiệu quả, người nuôi đành phải bỏ đất hoang hóa. Điển hình nhất là huyện Cần Giờ của thành phố Hồ Chí Minh. Sau khoảng ba năm phát triển rầm rộ, nghề nuôi tôm ở đây phất lên rất nhanh, tưởng đã hình thành được một “mô hình nuôi tôm công nghiệp quy mô lớn nhất cả nước”, nhưng nay đã bị tê liệt vì môi trường bị ô nhiễm nặng nề. Tương tự như vậy, phong trào nuôi tôm trên cát ở miền Trung phát triển rất mạnh trong vòng hai năm 2000 - 2002 nhưng sau đó đã rơi vào thảm kịch mà nguyên nhân cơ bản vẫn là ô nhiễm môi trường nuôi. Nhiều nhà khoa học cả trong và ngoài nước đã cảnh báo rằng một khi môi trường nuôi đã bị ô nhiễm nặng nề thì phục hồi lại rất khó và những hậu quả tồn đọng ảnh hưởng tới cả một vùng địa lý rộng lớn, gây thiệt hại khó lường về lâu dài.


Nuôi trồng thủy sản đã được xác định là hướng phát triển chiến lược của ngành thủy sản nước ta. Nếu năm 1986 sản lượng nuôi trồng chỉ chiếm khoảng 25% tổng sản lượng thủy sản thì hiện nay đã lên tới 41%. Nuôi tôm là ngành sản xuất đi đầu, đã góp phần rất lớn vào việc nâng cao giá trị xuất khẩu thủy sản của Việt Nam nhưng lời giải cho bài toán nuôi tôm tránh được rủi ro, hiệu quả và bền vững vẫn còn bỏ ngỏ. Làm thế nào để vực dậy nghề nuôi tôm sú ở những vùng đã một thời phát triển mạnh như Cần Giờ, như Ninh Thuận từng phát triển 200 hecta nuôi tôm sú trên cát? Làm thế nào để đúc kết quy trình công nghệ nuôi tôm sú sạch, hiệu quả và bền vững? Đó là một thách thức lớn đối với ngành thủy sản Việt Nam. Vì vậy, tôi đứng danh nghĩa chủ tịch Liên hiệp Hợp tác Phát triển khoa học, công nghệ và kinh tế (STED - trực thuộc Hội Khoa học kinh tế Việt Nam) tập hợp một nhóm các nhà khoa học, công nghệ và chuyên gia về môi trường và nuôi tôm để tìm một giải pháp thỏa đáng cho vấn đề trên. Sau một thời gian tìm tòi, đánh giá và phân tích, nhóm đã xây dựng được một công trình khoa học ứng dụng - một đề án có tên là “Thí điểm mô hình nuôi tôm sú sạch, hiệu quả và bền vững tại môi trường bị ô nhiễm”.


Công trình này là kết quả của sự phân tích, chọn lọc từ nhiều giải pháp công nghệ khác nhau để chắt lọc ra một quy trình công nghệ nuôi tôm thâm canh hợp lý, an toàn, bền vững và hoàn toàn có khả năng thực hiện thành công trong thực tế. Để thấy rõ được kết quả và hiệu quả của công nghệ này, nhóm chuyên gia quyết định chọn một địa điểm nuôi vào loại kém thuận lợi ở khu vực nuôi tôm đã bị ô nhiễm môi trường của huyện Cần Giờ để thử nghiệm, cũng là để xây dựng mô hình mẫu (pilot). Mỗi thành viên trong nhóm nhận một nhiệm vụ cụ thể, đi theo một công nghệ cụ thể, từ việc sử dụng các loại chế phẩm vi sinh, thuốc bổ bồi dưỡng vật nuôi -trùn quế- đến thiết bị tạo khí ôxy cho ao nuôi, thức ăn cho tôm… Tiếc rằng đến khi chuẩn bị bước vào vụ nuôi thì hai thành viên quan trọng trong nhóm không thể tham gia được (một người góp ao nuôi, một người lo trực tiếp điều hành quá trình nuôi) nên dự án phải đình lại.


***


Cũng trong khoảng thời gian này, thấy cung cách làm ăn của Seaprodex không có gì đổi mới, mà truyền thống văn hóa Seaprodex cũng bị nhạt nhòa, tôi đề nghị lãnh đạo Tổng công ty Thủy sản Việt Nam hỗ trợ tôi biên soạn một bộ tài liệu nhằm đúc kết lịch sử truyền thống của Seaprodex để làm tài liệu động viên, giáo dục cán bộ công nhân viên. Tôi đã bỏ công lục lại kho tư liệu của bản thân và sưu tra thêm các nguồn khác. Sau khoảng nửa năm, tôi đã hoàn thành hai tập tài liệu, mỗi tập dày khoảng 500 trang in khổ A4, có nhan đề là Mô hình Seaprodex. Đồng thời, tôi xuất bản cuốn sách Nghề cá Việt Nam nhìn từ Seaprodex (Nhà xuất bản Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2003), nhận được nhiều ý kiến khen ngợi, phản biện khác nhau. Trong hai tập tài liệu Mô hình Seaprodex, tôi đã tập hợp hầu hết các văn bản quan trọng liên quan đến cơ chế làm ăn mới và quá trình vận hành cơ chế trong thập niên 1990, rất nhiều báo cáo tổng kết hàng quý, hàng năm và tổng kết chuyên đề, có tác dụng cho việc nghiên cứu quá trình hình thành một doanh nghiệp lớn và những kinh nghiệm chắt lọc được khi doanh nghiệp vươn lên đến đỉnh cao, thấy được những thách thức trong tương lai và cách đổi mới tư duy để thích nghi với tình thế. Còn trong cuốn sách Nghề cá Việt Nam nhìn từ Seaprodex, dưới lăng kính của một nhà nghiên cứu thực tiễn đã gắn bó nhiều năm với ngành thủy sản, tôi thể hiện sự nhìn nhận, đánh giá quá trình đổi mới của nghề cá trong suốt hơn 30 năm qua, nêu ra những hướng cần ưu tiên đầu đầu tư để có đủ năng lực và cạnh tranh trong thời kỳ hội nhập với nền kinh tế toàn cầu.


Vào cuối tháng 8 năm 2006, xét thấy nên tổ chức một hội thảo khoa học để đánh giá rõ thực trạng và yêu cầu phải đổi mới, chấn hưng Seaprodex, chúng tôi dưới danh nghĩa Liên hiệp Hợp tác Phát triển khoa học, công nghệ và kinh tế (STED) đã phối hợp với một số nhà khoa học và cán bộ hưu trí tổ chức một cuộc hội thảo bàn về tương lai của Seaprodex. Dù đó chỉ là một cuộc hội thảo khoa học có quy mô nhỏ vì thành phần đại biểu được mời chỉ gói gọn trong 20 người, nhưng chúng tôi chuẩn bị báo cáo rất nghiêm túc, các ý kiến tham luận, trao đổi và phản biện đều chặt chẽ, khách quan, không thiên vị, không ca thán ai, nhằm tìm ra chân lý từ thực tiễn 28 năm tồn tại của Seaprodex.


(còn tiếp)


Nguồn: Minh bạch. Tự truyện của Nguyễn Hồng Cẩn. NXB Văn học, 7-2010.


www.trieuxuan.info

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cõi mê - Triệu Xuân 25.03.2020
Giấy trắng - Triệu Xuân 25.03.2020
Anh em nhà Karamazov - FYODOR Mikhailovich Dostoyevsky 16.03.2020
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 15.03.2020
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 15.03.2020
Đêm Sài Gòn không ngủ - Trầm Hương 10.03.2020
Trong cơn lốc xoáy - Trầm Hương 10.03.2020
Ông cố vấn - Hữu Mai 26.02.2020
Đẻ sách - Đỗ Quyên 15.02.2020
Hòn đất - Anh Đức 13.02.2020
xem thêm »