tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Tiểu thuyết
01.09.2010
Nguyễn Hồng Cẩn
Minh bạch

 Trong hai ngày 30 tháng 5 và 1 tháng 6 năm 2008, tại Nha Trang, chúng tôi lại tổ chức một hội nghị khoa học bàn về đổi mới tư duy để tiếp tục phát triển bền vững nền kinh tế – kỹ thuật – xã hội nghề cá Việt Nam với sự tham dự của nhiều chuyên gia và nhà khoa học trong và ngoài ngành thủy sản. Nội dung hội nghị được ghi nhận trong bản tổng hợp ý kiến (trích đoạn) dưới đây.


Bản tổng hợp ý kiến trao đổi khoa học


ĐỔI MỚI TƯ DUY, TIẾP TỤC PHÁT TRIỂN
BỀN VỮNG NỀN KINH TẾ – KỸ THUẬT – XÃ HỘI NGHỀ CÁ VIỆT NAM


Trong hai ngày 31/5 và 1/6/2008, tại Viện nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản III (Nha Trang), cuộc trao đổi khoa học về đổi mới tư duy, tiếp tục phát triển bền vững nền kinh tế – kỹ thuật – xã hội nghề cá Việt Nam đã được Hội đồng Tư vấn và dịch vụ phát triển nghề cá thuộc Hội Nghề cá Việt Nam tổ chức.


Cuộc trao đổi khoa học này thu hút sự tham dự của bốn viện trưởng đại diện bốn viện nghiên cứu trong ngành thủy sản (ba viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản ở ba miền và Viện Hải sản), bốn nhà khoa học ngoài ngành thủy sản đã nhiều năm tâm huyết sát cánh cùng sự tiến bộ của nghề cá (các GS.TS Bùi Thế Vĩnh, Nguyễn Trần Trọng, Nguyễn Trọng Cẩn, Lê Tiến), ba đại diện tỉnh hội nghề cá (Khánh Hòa, Sóc Trăng, Cà Mau), bốn đại diện doanh nghiệp hoạt động trong ngành thủy sản (Seaprodex, Đồ hộp Hạ Long, Vị Xuyên, Tư vấn thiết kế công trình thủy sản) và một số chuyên gia tư vấn của Hội Nghề cá. Một vài đại biểu đại diện cho các doanh nghiệp địa phương (Seaprodex Minh Hải, NAVICO, Minh Phú…) và Viện Kinh tế và quy hoạch thủy sản do bận công việc đột xuất nên đã cáo lỗi không tham dự được.


Sau phát biểu khai mạc của chủ tịch Hội Nghề cá, đồng thời là thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Việt Thắng, chủ tịch Hội đồng Tư vấn và dịch vụ phát triển nghề cá Nguyễn Hồng Cẩn đã trình bày bản đề dẫn, nêu ra những vấn đề trọng tâm cần trao đổi. Cuộc họp đã được chuẩn bị trước nhiều tài liệu tham khảo, bao gồm:


 - Triển vọng phát triển của kinh tế – kỹ thuật – xã hội nghề cá sau khi Bộ Thủy sản hợp nhất vào Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn.


- Đổi mới và nâng cao vai trò, tầm vóc của Hội Nghề cá và các hiệp hội thủy sản.


- Những cơ may và thách thức mới của ngành kinh tế – kỹ thuật – xã hội thủy sản.


- Xây dựng tập đoàn thủy sản Việt Nam - một vài ý kiến nghiên cứu từ Seaprodex.


- Vài ý kiến về quá trình phát triển 50 năm của ngành thủy sản Việt Nam.


- Bối cảnh tác động đến sự phát triển thủy sản Việt Nam.


- Về việc thành lập Trường Đại học Thủy sản Sài Gòn.


- Đề xuất thành lập Hiệp hội Nghề mắm Việt Nam.


Các ý kiến tham luận, tranh luận và phản biện đã diễn ra rất sôi nổi, nhiều ý kiến có nội dung sâu sắc và rất tâm huyết. Dưới đây là tổng hợp những nội dung chính đã được trao đổi.


 


I. THÀNH TỰU LỚN CỦA GẦN 30 NĂM LIÊN TỤC ĐỔI MỚI


Nhờ sớm đổi mới tư duy, đoạn tuyệt với cơ chế quản lý hành chính - quan liêu - bao cấp, tìm ra cơ chế Tự cân đối tự trang trải, từ năm 1981, nghề cá Việt Nam từ thế “tụt dài, tụt theo chiều thẳng đứng” đã chuyển sang quá trình phát triển liên tục gần 30 năm với tốc độ cao. Từ chỗ năm 1980 chỉ xuất khẩu được 11 triệu USD, nay Việt Nam đã xuất khẩu được hàng thủy sản tới hơn một trăm thị trường trên thế giới, thu về 4 - 4,5 tỷ USD/năm, đảm bảo được nhu cầu cá ăn trong nước ngày một tăng.


 Nghề cá Việt Nam trong 50 năm qua đã từng bước chuyên nghiệp hóa, công nghiệp hóa khá thành công, tổng sản lượng thủy sản sẽ còn tiếp tục tăng lên đến 6 – 7 triệu tấn/năm, kim ngạch xuất khẩu có thể lên đến 5 – 7 tỷ USD/năm. Bên cạnh đó, nghề cá còn giữ vai trò quan trọng trong phòng chống thiên tai, bảo vệ an ninh vùng biển chủ quyền và giải quyết công ăn việc làm cho hàng triệu lao động. Đến nay, nghề cá Việt Nam đã hình thành được bốn trụ cột phát triển là (1) Nuôi trồng thủy sản; (2) Khai thác và nuôi trồng hải sản ven biển và trên biển; (3) Chế biến và xuất khẩu thủy sản; (4) Công nghiệp dịch vụ hậu cần kỹ thuật (logistics) trong mọi lĩnh vực hoạt động của nghề cá.


 


II. NHỮNG THÁCH THỨC KHÔNG NHỎ TRONG HOÀN CẢNH VÀ THỜI CƠ MỚI


- Đất nước ta có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sản xuất nghề cá, có nguồn lợi thủy sản dồi dào, phong phú và sẽ là vô tận nếu biết gìn giữ và tái tạo môi trường. Tuy nhiên, dù đã có quá trình phát triển với tốc độ cao, chưa thể nói nghề cá Việt Nam có được nền tảng để phát triển bền vững, mà rủi ro vẫn còn nhiều. Nghề nuôi có nhiều tiến bộ, diện tích mặt nước đã được sử dụng khá triệt để nhưng hiệu quả sản xuất chưa cao, chưa ổn định. Nuôi trồng thủy sản theo phương thức quảng canh chưa nâng cao được năng suất và vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Trong nuôi bán thâm canh và thâm canh, mức độ rủi ro còn lớn hơn, còn nhiều vấn đề cần được nghiên cứu, điều chỉnh, đúc kết cả về mặt công nghệ và hiệu quả kinh tế - xã hội. Việc vận dụng công nghệ sinh học trong nuôi trồng thủy sản chưa khẳng định được những quy trình công nghệ hợp lý nhất và khâu quản lý cũng chưa chặt chẽ. Khai thác hải sản còn lúng túng, chưa đạt hiệu quả và chưa có hướng ra, khai thác hải sản ở ven bờ và tuyến cận duyên vẫn dựa vào kỹ thuật thủ công, kinh nghiệm và mò mẫm, chưa định hướng khai thác tuyến viễn dương, lực lượng dịch vụ hậu cần trên biển còn quá yếu kém. Số lượng nhà máy chế biến thủy sản tăng nhanh nhưng công nghệ chế biến chưa chiếm lĩnh được đỉnh cao, tỷ lệ sản phẩm có giá trị gia tăng vẫn chưa đạt được yêu cầu, chưa chủ động đảm bảo được tính sạch của sản phẩm vì chưa quản lý được toàn diện quy trình sản xuất từ khâu đầu đến khâu cuối. Công nghiệp dịch vụ hậu cần kỹ thuật trong mọi lĩnh vực sản xuất của nghề cá đã hình thành nhưng chưa được định hướng và quy hoạch, cơ bản là chạy theo nhu cầu trước mắt của thị trường, chưa khẳng định các quy trình công nghệ phù hợp để gìn giữ, tái tạo môi trường sinh thái. Tóm lại, trong thời gian tới, nếu không nâng cao trình độ quản lý một cách toàn diện thì nghề cá Việt Nam vẫn có nguy cơ suy thoái, chậm tiến.


- Vấn đề xã hội nghề cá còn nhiều nan giải. Mức sống của những người lao động trực tiếp làm ra nguyên liệu còn thấp, cuộc sống nhiều hộ nuôi thủy sản và khai thác hải sản vẫn bấp bênh vì gặp nhiều rủi ro. Sự phân chia kết quả lao động cuối cùng chưa hài hòa, chưa công bằng, mà phần thiệt thường rơi vào người nuôi. Tình hình giá cả leo thang và thiếu vốn trong thời gian gần đây còn gây thêm ách tắc cho sản xuất. Trình độ văn hóa, an sinh xã hội của người lao động nghề cá còn rất khiêm tốn. Trình độ tri thức và công nghệ còn thấp hơn nhiều.


- Đã và vẫn đang thiếu hụt lực lượng lao động chuyên nghiệp, nhất là lao động có trình độ cao, đăc biệt là trong nghề khai thác hải sản và công nghiệp dịch vụ hậu cần. Lực lượng cán bộ quản lý, quản trị kinh doanh cũng còn yếu và thiếu.


- Lực lượng doanh nghiệp đông đảo nhất trong nghề cá nằm ở lĩnh vực chế biến thủy sản. Đã nổi lên một số doanh nghiệp có sức phát triển tốt nhưng đang lúng túng với việc định hướng chiến lược phát triển, chưa thật sự hợp tác, liên kết, liên minh để hình thành những tập đoàn kinh doanh có đủ sức mạnh cạnh tranh thành công trên thị trường quốc tế và điều hòa lợi ích của các thành phần kinh tế tham gia tạo nên giá trị của chuỗi sản phẩm thủy sản.


- Các cơ quan hành chính sự nghiệp của ngành thủy sản (viện, trường) sau nhiều năm được đầu tư đã có nền tảng tương đối khá, đã vận dụng được nhiều công trình nghiên cứu vào thực tiễn sản xuất nhưng năng lực tự cân đối, tự đầu tư phát triển chưa rõ, chưa dứt khoát, chưa mạnh dạn ứng dụng công nghệ và kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất ở quy mô vừa và lớn, cũng chưa gắn bó chặt chẽ được với giới doanh nghiệp trong khi khả năng đầu tư từ phía Nhà nước lại có hạn.


- Trong nghề cá đã hình thành được nhiều hội, hiệp hội. Ngoài Hội Nghề cá là tổ chức mang tính xã hội – nghề nghiệp, các hiệp hội khác chuyên sâu về nghề nghiệp cũng đã có những hoạt động tích cực nhưng thiếu định hướng thống nhất, thiếu tầm nhìn và tư duy toàn cục. Bản thân Hội Nghề cá chưa tạo được sức mạnh cần thiết nên khả năng vận động cũng như thực hiện các chương trình phát triển còn bị hạn chế và đang cần đổi mới mạnh mẽ, toàn diện.


- Thu hút đầu tư nước ngoài, đặc biệt là FDI còn rất thấp vì chưa có sự quan tâm xây dựng các dự án khả thi, cũng chưa có chính sách hấp dẫn nhằm vận động các đối tác trong, ngoài nước.


 - Ngành thủy sản Việt Nam đã trải qua 50 năm hình thành và phát triển nhưng đến nay vẫn chưa đúc kết được truyền thống văn hóa - lịch sử gắn với truyền thống dựng nước và giữ nước của cả dân tộc, cũng chưa xây dựng được khu vực bảo tàng đủ quy mô và tầm cỡ để giáo dục, định hướng cho thế hệ mai sau và để quảng bá hình ảnh nghề cá Việt Nam ra thế giới.


Từ sau khi Bộ Thủy sản sáp nhập vào Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đã có thêm một số thách thức mới là:


- Có lo lắng rằng ngành thủy sản sẽ ít được quan tâm thúc đẩy phát triển như trước vì từ khi Bộ Thủy sản sáp nhập vào Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thì đã bộc lộ sự thiếu hụt về chỉ đạo quản lý chuyên ngành (chỉ còn một thứ trưởng lo quán xuyến phong trào ở các địa phương, trong khi trước đây có bộ trưởng, ba thứ trưởng và nhiều cục vụ). Tại các tỉnh, trước đây mỗi sở thủy sản có từ bốn đến năm phòng chuyên môn, một chi cục bảo vệ nguồn lợi, một trung tâm khuyến ngư, tổng cộng là tám đầu mối. Nay cũng ở cấp tỉnh có tới 42 đầu mối, gồm chín chi cục, tám phòng và hơn hai chục đơn vị sự nghiệp khác. Việc sắp xếp bộ máy thủy sản vào chung nông nghiệp không có sự chuẩn bị chu đáo và đổi mới cách thức quản lý nên cán bộ hoang mang, bỏ mặc chuyên môn để đi tìm việc mới. Có sở nông nghiệp hiện nay có tới chín phó giám đốc nhưng công việc chỉ đạo lại yếu đi, kém nề nếp hơn trước. Hiện ngành thủy sản ở các địa phương vẫn đang hy vọng, mong chờ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có những điều chỉnh phù hợp trong quản lý, đáp ứng được những đòi hỏi cấp bách và lâu dài của sản xuất - kinh doanh.


- Ngành thủy sản nhờ sớm đổi mới tư duy và cơ chế làm ăn nên đã sớm chuyên nghiệp hóa, trình độ công nghiệp hóa cũng khá cao so với mặt trận nông nghiệp nói chung, đã vận dụng tốt tính liên hoàn, liên kết trong sản xuất – kinh doanh, biết coi trọng tính hàng hóa, tính nhạy cảm thị trường, tính quốc tế hóa…, do đó cần có sự quản lý ở trình độ thích hợp. Nếu chần chừ, chờ đợi và chỉ đơn thuần vận dụng theo kiểu quản lý chung của toàn mặt trận nông nghiệp thì nguy cơ thủy sản bị mai một, chựng lại rất có thể xảy ra.


 


III. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VỚI HỘI NGHỀ CÁ VIỆT NAM CÙNG BỘ NÔNG NGHIỆP & PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN:


1. Sau khi Bộ Thủy sản hợp nhất vào Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, để thúc đẩy ngành thủy sản tiếp tục phát triển, cần biết khai thác, tận dụng sức mạnh và quyền lực của bộ quản lý đa ngành ở mặt trận nông nghiệp – mặt trận kinh tế - kỹ thuật - xã hội rộng lớn nhất của nền kinh tế quốc dân. Trong quá trình thảo luận, có một ý tưởng được nêu ra là Hội đồng Tư vấn và dịch vụ phát triển nghề cá nên đăng ký với Hội Nghề cá và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện đề tài khoa học “Chủ thuyết phát triển nền kinh tế – kỹ thuật – xã hội thủy sản Việt Nam”. Nhiều đại biểu dự họp cho rằng đây là vấn đề lớn, có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự phát triển nghề cá Việt Nam. Lý do là chỉ khi giữ vững và nâng cao trình độ chuyên nghiệp, công nghiệp và khả năng hiện đại hóa của ngành thủy sản trên cơ sở tôn trọng những tính chất đặc thù của nghề cá thì mới nâng cao được hiệu quả khai thác nguồn lợi, đồng thời giữ gìn, tái tạo được nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường sinh thái một cách căn cơ, hợp lý, lâu dài và hiệu quả.


Đảng và Nhà nước đang chuẩn bị nghị quyết quan trọng về tam nông, nhưng trong các đề cương đã soạn thảo chưa thấy đề cập vai trò, vị trí và tác động của nghề cá. Vì vậy, các ý kiến trong cuộc họp đề nghị Hội Nghề cá nên chuẩn bị tài liệu về vấn đề này để bổ sung khi được yêu cầu.


2. Để chấn chỉnh phương thức chỉ đạo, tổ chức quản lý ngành thủy sản cho phù hợp với đòi hỏi của sự phát triển và tương xứng với các tính chất đặc thù, với trình độ chuyên nghiệp hóa, công nghiệp hóa của ngành, cũng nhằm chủ động tránh sự hụt hẫng trong quản lý điều hành sản xuất – kinh doanh thủy sản, các ý kiến dự họp thống nhất đề nghị lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sớm xem xét và quyết định thành lập Tổng cục Thủy sản trực thuộc Bộ.


3. Việc khảo sát, đánh giá lại hệ thống doanh nghiệp và cơ sở sản xuất - kinh doanh - dịch vụ của ngành thủy sản sau 50 năm xây dựng và phát triển, đặc biệt là trong sự nghiệp đổi mới cũng như sau một thời gian tiến hành cổ phần hóa cũng rất cần thiết. Công việc này nhằm tới mục đích tìm tòi, phát hiện và xây dựng các mô hình doanh nghiệp và cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ kiểu mới có sức thích nghi với hoàn cảnh, đồng thời phát huy được đầy đủ các tính chất nghề nghiệp đặc thù cũng như đáp ứng được đòi hỏi của quá trình công nghiệp hóa, chuyên nghiệp hóa, hiện đại hóa nghề cá Việt Nam. Nó cũng sẽ phát hiện ra các khả năng hình thành tập đoàn doanh nghiệp thủy sản nhân dân, hướng đổi mới hoạt động của các viện, trường để ngày một gắn bó với đời sống sản xuất – kinh doanh. Hội đồng Tư vấn và dịch vụ phát triển nghề cá sẽ thiết kế một chương trình khảo sát, đánh giá để đề xuất với Hội Nghề cá và phối hợp với các viện, trường cùng thực hiện. Hội Nghề cá nên báo cáo với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn vấn đề này để được ủng hộ và chỉ đạo cụ thể.


4. Một khi sản xuất, kinh doanh, dịch vụ thủy sản càng được công nghiệp hóa và chuyên nghiệp hóa thì các hội, hiệp hội nghề nghiệp trong nghề cá cũng xuất hiện ngày một nhiều, trong tương lai có thể sẽ lên tới cả trăm tổ chức phi chính phủ chuyên về nghề nghiệp như vậy. Là tổ chức xã hội – nghề nghiệp có vị trí tổng hợp, đại diện cho nhiều thành phần của xã hội nghề cá Việt Nam, Hội Nghề cá nhất định phải nâng cao vị trí, vai trò và tác động của mình trong việc nêu lên tiếng nói chung của các hội viên, thúc đẩy hoạt động của các hội nghề nghiệp, liên minh liên kết với các hội, hiệp hội nghề nghiệp khác trong ngành thủy sản để tạo nên sức mạnh ngày một to lớn, đảm bảo hài hòa lợi ích, tăng được sức cạnh tranh cho nghề cá Việt Nam. Hội Nghề cá phải là tổ chức không chỉ của ngư dân, nông dân nghèo, mà phải là nơi hội tụ mọi lực lượng sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoạt động trong mọi lĩnh vực của nghề cá.


VASEP trong thời gian qua đã phát huy được tác dụng trong khối doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu thủy sản, vì vậy Hội Nghề cá và VASEP nên cùng nhau bàn bạc để xây dựng các chương trình phối hợp hành động thống nhất vì lợi ích chung của toàn ngành. Đã có ý kiến đề nghị thành lập thêm Hiệp hội Cá ngừ, Hiệp hội Nuôi cá nước lạnh, Hội Giống thủy sản, Hiệp hội Tôm, Hiệp hội Cá tra - cá basa đồng bằng sông Cửu Long, Hiệp hội Tôm hùm miền Trung, Liên minh Thủy sản khu vực Hải Phòng, Hiệp hội Nghề mắm Việt Nam, Hiệp hội các doanh nghiệp nước ngoài trong ngành thủy sản… do đó, đề nghị Hội Nghề cá nên có bộ phận chuyên theo dõi về việc này để đánh giá sơ kết, tổng kết hoạt động của các hội, hiệp hội nghề nghiệp, phát hiện những mô hình hội, hiệp hội nghề nghiệp thích hợp nhất để nhân rộng, coi đó là một trong những nội dung quan trọng để xây dựng đề án đổi mới Hội Nghề cá Việt Nam, cũng để báo cáo với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Nội vụ để được chỉ đạo, phân cấp quản lý cho thích hợp.


5. Trước nhu cầu về lao động chuyên nghiệp và có trình độ chuyên môn cao ngày một lớn của ngành thủy sản, trong khi hệ thống đào tạo cả đại học và trung học chuyên nghiệp trong ngành lại đang bị thu hẹp, suy giảm, đề xuất thành lập Trường Đại học Thủy sản Sài Gòn theo dạng hình dân lập (góp vốn cổ phần) được các thành viên dự họp nhất trí cao và đề nghị cử ra Ban trù bị để bắt tay ngay vào việc chuẩn bị hồ sơ xin phép Chính phủ cho thành lập trường (hoặc học viện), đồng thời vận động các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân đóng góp công sức và vốn để sớm hình thành và đưa vào hoạt động cơ sở đào tạo mới.


6. Xoay quanh câu hỏi tại sao đến nay mới chỉ có vài ba liên doanh đầu tư hoặc công trình đầu tư 100% vốn nước ngoài trong ngành thủy sản, mà lại chỉ tập trung trong lĩnh vực dịch vụ là chính, nhiều ý kiến cho rằng phải coi xây dựng các đề án, dự án có sức hấp dẫn (quan trọng nhất là đối tượng đầu tư và chính sách thu hút đầu tư) để mời gọi các nhà đầu tư trong, ngoài nước là việc quan trọng, cần thực hiện ngay của Hội Nghề cá cũng như Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Trong khả năng của mình, các đại biểu dự họp sẽ đăng ký tham gia nếu có sự khởi xướng của Hội và Bộ.


7. Nền kinh tế - kỹ thuật - xã hội thủy sản có truyền thống lịch sử lâu đời, gắn với sông nước, biển cả, với những chiến công chống giặc ngoại xâm và chống thiên tai, địch họa. Sau 50 năm xây dựng và phát triển, có thể đúc kết thêm nhiều nét đẹp truyền thống, nhất là trong thời kỳ đổi mới. Vì vậy, Hội Nghề cá cần chủ động tìm nguồn tài trợ và mời các chuyên gia tham gia biên soạn bộ tài liệu về truyền thống lịch sử văn hóa của nghề cá Việt Nam. Đồng thời, nên lựa chọn một địa điểm phù hợp và đủ rộng ven biển để xây dựng một khu bảo tàng truyền thống nghề cá Việt Nam, kết hợp làm dịch vụ du lịch sinh thái phục vụ du khách trong, ngoài nước. Hai việc này cũng được coi là hai đề tài mà Hội đồng Tư vấn và dịch vụ phát triển nghề cá đề xuất với Hội Nghề cá nghiên cứu xúc tiến và triển khai từng bước trong năm 2008 này.


8. Hội Nghề cá đã ra quyết định thành lập Hội đồng Tư vấn và dịch vụ phát triển nghề cá và trong bước khởi đầu, Hội đồng đã mời một số nhà khoa học trong, ngoài ngành, một số doanh nghiệp, các viện, trường trong ngành tham gia. Sau cuộc trao đổi khoa học này, Hội đồng sẽ gửi thông báo tới các thành viên về mô hình tổ chức và quy chế hoạt động cùng chương trình hoạt động trong năm 2008, mong rằng sẽ nhận được sự tiếp tục ủng hộ và tham gia của các tổ chức và cá nhân.


Các thành viên dự họp đều đánh giá rằng tổ chức được cuộc trao đổi khoa học này là một cố gắng rất lớn của Hội đồng Tư vấn và dịch vụ phát triển nghề cá, của các viện nghiên cứu, đặc biệt là Viện nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản III, vì đã tập trung được nhiều nguồn chất xám để thống nhất nhiều vấn đề quan trọng, cấp bách nhằm xây dựng tư duy mới thúc đẩy nghề cá Việt Nam phát triển bền vững.


(còn tiếp)


Nguồn: Minh bạch. Tự truyện của Nguyễn Hồng Cẩn. NXB Văn học, 7-2010.


www.trieuxuan.info


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cõi mê - Triệu Xuân 25.03.2020
Giấy trắng - Triệu Xuân 25.03.2020
Anh em nhà Karamazov - FYODOR Mikhailovich Dostoyevsky 16.03.2020
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 15.03.2020
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 15.03.2020
Đêm Sài Gòn không ngủ - Trầm Hương 10.03.2020
Trong cơn lốc xoáy - Trầm Hương 10.03.2020
Ông cố vấn - Hữu Mai 26.02.2020
Đẻ sách - Đỗ Quyên 15.02.2020
Hòn đất - Anh Đức 13.02.2020
xem thêm »