tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Tiểu thuyết
14.09.2010
Nguyễn Hồng Cẩn
Minh bạch

NGHĨ VỀ NGƯỜI THỦ TRƯỞNG MÀ TÔI GỌI LÀ BÁC


Nguyễn Chiến Thắng


Chuyên viên Tổng công ty Thủy sản Việt Nam


Đã hơn 25 năm tôi phục vụ tại Seaprodex. Nay nhìn lại, tôi thấy mình đã gặp nhiều may mắn và cả những điều không may.


Tôi may mắn vì ngay từ năm 1985, khi từ Trường Đại học Bách khoa thành phố Hồ Chí Minh chuyển về Seaprodex, tôi đã được làm việc gần với thứ trưởng Bộ Thủy sản kiêm giám đốc Seaprodex Nguyễn Hồng Cẩn. Tôi vẫn còn nhớ khi được giới thiệu gặp ông ở lầu 8 nhà 87 Hàm Nghi, quận Nhất, chỉ sau khoảng nửa giờ hỏi chuyện, ông đồng ý tiếp nhận tôi về Văn phòng Công ty. Ngay khi về Seaprodex, tôi được giao nhiệm vụ nghe ông trình bày về chiến lược phát triển thủy sản Việt Nam giai đoạn 1990 – 2000 để viết thành văn bản. Lúc đó, công việc tại Seaprodex hết sức tất bật; nhưng hàng tuần, ông thường dành một buổi sáng để làm việc với tôi theo lối “thầy giảng, trò nghe và chép”. Trong khi làm việc, vì tuổi ông cao hơn tuổi cha mẹ tôi nên tôi gọi ông bằng bác. Với nhiệt tình của một anh lính mới, tôi hào hứng nghe và cố gắng thể hiện những suy nghĩ của ông thành văn bản cho thật tốt. Khi đó, tôi chưa có bao nhiêu hiểu biết về chiến lược, nhất là chiến lược phát triển một ngành kinh tế. Vì vậy, tôi tìm tòi sách, gạn lọc ra những nội dung thiết thực nhất để lồng vào văn bản. Ai ngờ, sau khoảng ba, bốn tháng làm việc miệt mài, văn bản chiến lược đầu tay đó do tôi viết chỉ được bác Cẩn xem là… một bản nháp thử sức lần đầu!


Sau này, là phó văn phòng phụ trách tổng hợp, tôi được thường xuyên dự họp hành do bác Cẩn chủ trì. Bất cứ cuộc họp nào, ông đều khởi động với nhiệt huyết rất cao, giọng nói sang sảng và có hồn, vì vậy tạo được sức hút, sức thuyết phục lớn đối với người nghe. Thường trực trong suy nghĩ của ông là sự tìm tòi đổi mới để vượt lên nhanh hơn, táo bạo hơn. Để tổ chức các hội nghị, bao giờ ông cũng lo chuẩn bị tài liệu thật chu đáo nên chúng tôi luôn hết sức vất vả biên soạn các loại văn bản theo yêu cầu của ông. Có thể nói ông là con người cầu toàn bậc nhất về văn bản mà tôi biết trong đời. Một khi còn thời gian thì văn bản còn được chỉnh sửa vì ông luôn tư duy về nó, luôn muốn nó được hoàn hảo hơn, có sức thuyết phục cao hơn. Thế nhưng, tại bất cứ hội nghị nào, dù tài liệu đã được in ấn và chuyển tới tay từng đại biểu, khi lên diễn đàn, cũng cầm theo tài liệu đó nhưng ông không đọc, chỉ nói “vo” (vì mọi nội dung trong tài liệu ông đã thuộc làu). Những phát biểu của ông đều bao hàm nhiều ý tứ và luôn thể hiện được mục tiêu chiến lược đối với từng vấn đề cụ thể. Cũng vì đặc điểm ấy nên chúng tôi thường bị rơi vào trạng thái căng thẳng như dây đàn. Trước hết là phải viết sao để thể hiện được mọi ý tưởng mới mẻ, táo bạo của ông, nhưng phải bằng cách mà người đọc nếu vì bất cứ lý do gì muốn phản bác, thì khó mà vặn vẹo được. Chúng tôi gọi cách viết như vậy là theo “lý thuyết mờ”. Ông có thể triệu tập bất kỳ cán bộ nào đến lầu 8 nhà 87 Hàm Nghi để trao đổi công việc vào bất cứ lúc nào. Riêng anh em chúng tôi thì sáng sớm cũng như đêm khuya, ngày thường cũng như ngày nghỉ hay ngày lễ, khi ông cần là bị triệu đến ngay, mà cách nhanh nhất và cũng cưỡng bức nhất là ông cử lái xe Thành đánh xe đến tận nhà yêu cầu cấp tốc lên xe! Phải nói trong thời gian còn làm việc, bác Cẩn luôn vận động với cường độ rất cao, lúc nào cũng hừng hực như hành quân ra trận. Vất vả là thế, nhưng quả thật chúng tôi cũng được tôi luyện nhiều, học được ở ông nhiều kinh nghiệm quý báu.


Một trong những cái giỏi của bác Cẩn là thuật dùng người. Ông nắm được sở trường, sở đoản cũng như chỗ mạnh, chỗ yếu của cán bộ nên sử dụng từng con người vào từng trường hợp cụ thể rất “đắt”. Đặc biệt, ông rất biết giá trị tư duy của các nhà khoa học, biết lắng nghe những vấn đề họ nêu ra và nhanh chóng chắt lọc được những điều hay để làm giàu kho tri thức của mình. Thời kỳ 1986 – 1990, Seaprodex có hẳn một hội đồng khoa học do chính ông làm chủ tịch và tôi làm thư ký. Hội đồng có hơn bốn chục thành viên, đều là những nhà khoa học giỏi, có tiếng tăm từ Bắc vào Nam, thường sinh hoạt ba tháng một lần. Mỗi lần tổ chức sinh hoạt hội đồng, ông yêu cầu Văn phòng Công ty phải chuẩn bị hết sức cẩn thận, từ nội dung họp đến vé máy bay cho các thành viên hội đồng, chỗ ở khách sạn, nước uống, chế độ ăn trong một, hai ngày họp. Cách đối xử chu đáo như vậy của ông luôn khiến các nhà khoa học hài lòng và sẵn sàng tham luận với nhiệt tình và chất lượng cao.


Sau khi cơ chế Tự cân đối tự trang trải đã có tiếng vang, học tập theo cách làm của các tập đoàn quốc tế, ông cùng chúng tôi xây dựng triết lý kinh doanh cho Seaprodex, cũng như cho toàn ngành xuất khẩu thủy sản. Ý tưởng về triết lý kinh doanh khá rõ ràng, nhưng tìm được slogan để thể hiện ngắn gọn và bao hàm được toàn bộ ý tưởng không phải dễ. Chúng tôi phải mất khá nhiều thời gian tham khảo rất nhiều tài liệu của nước ngoài, đề ra nhiều slogan khác nhau, mãi rồi Mở và hội tụ mới được ông chấp nhận.


Từ năm 1989, nhận thấy cơ chế Tự cân đối tự trang trải đang dần biến thành cái chung trong nền kinh tế quốc dân, ông tự tìm hiểu và đốc thúc chúng tôi nghiên cứu để nâng cao cơ chế này. Sau một thời gian, đề án Cổ phần hóa Seaprodex ra đời. Đó là công trình mà chúng tôi rất tâm huyết. Bản chất của đề án này là xóa bỏ lối suy nghĩ và thái độ làm việc “vô chủ”, nâng cao hiệu quả kinh doanh bằng cách cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.


Để khơi đường dư luận về đề án mới của Seaprodex, tôi gửi báo Sài Gòn giải phóng bài“Thử đưa ra một chiến lược đổi mới cơ chế quản lý trong những năm 90: Xí nghiệp, Công ty Quốc doanh cổ phần”. Sau khi gửi bài đi, tôi nóng lòng chờ đợi, thỉnh thoảng lại điện thoại hỏi xem bài được duyệt chưa. Mấy lần, người bạn bên báo ấy nói bài tôi viết nêu ra nhiều vấn đề quá mới về quan điểm quản lý doanh nghiệp nhà nước nên Ban Biên tập rất đắn đo, phải xem xét kỹ. May thay, cuối cùng báo Sài Gòn giải phóng cũng quyết định đăng (có người nói là Ban Biên tập phải dũng cảm lắm mới quyết định đăng bài này). Bài viết khá dài, chiếm gần hết một trang báo trong số ra ngày 15 tháng 3 năm 1990. Hiếm khi tôi mừng rỡ vì viết báo được đăng như thế. Lý do là nó vừa công khai hóa được đề án của Seaprodex, vừa là lần đầu tiên báo chí đề cập vấn đề mới mẻ này. Thế nhưng một đề án tiến bộ và lẽ ra đã tạo được cú hích mạnh cho Seaprodex tiến lên nhanh hơn lại không được Bộ Thủy sản chấp nhận. Trong lần đem đề án ra Hà Nội bảo vệ tại Bộ Thủy sản, chúng tôi gặp phải nhiều ý kiến phản đối của lãnh đạo các cục, vụ. Một vài quan chức ở Bộ còn cho rằng chúng tôi có ý đồ “tư bản hóa, tư nhân hóa tài sản Nhà nước”! Sau đó, chế độ thí điểm cổ phần hóa đã có kết quả tốt tại một đơn vị thành viên cũng bị loại bỏ rất đáng tiếc. Nếu khi đó, tất cả các đơn vị thành viên Seaprodex đều được cổ phần hóa theo phương án do Seaprodex chủ động xây dựng thì chắc chắn hôm nay, Seaprodex đã rất hùng mạnh, có uy tín và tài sản rất lớn, đúng tầm cỡ của một tập đoàn quốc gia.


Nếu nói về cái không may tôi đã gặp phải khi làm việc tại Seaprodex thì cũng nhiều. Nhưng có lẽ điều không may nhất là cho dù đã xây dựng chiến lược con người, có văn bản đầy đủ về chính sách đào tạo, sử dụng và đãi ngộ cán bộ nhưng trên thực tế, Seaprodex làm không được bao nhiêu. Thậm chí sau khi bác Cẩn nghỉ hưu, Seaprodex còn làm trái ngược với quan điểm xây dựng mẫu người Seaprodex và nền văn hóa Seaprodex đã kiến tạo trước đó. Chỉ bằng một tư duy đơn giản mà nhiều người gọi là “kiểu võ biền”, quyết định của giám đốc mới thay thế bác Cẩn đã đẩy hơn hai trăm cán bộ, nhân viên khối Văn phòng Công ty và ba Trung tâm trực thuộc thành những kẻ thất nghiệp. Tôi bị lên danh sách “đẩy ra” rất sớm, chỉ theo lệnh đơn giản của vị quyền trưởng ban Tổ chức - Cán bộ lúc đó là “Cứ để mọi sách vở, tài liệu đúng vị trí rồi về nhà nghỉ, bao giờ Công ty sắp xếp xong sẽ gọi”. Bốn tháng sau, tôi được anh Bùi Thiết - phó giám đốc Công ty Thông tin đến nhà mời về làm việc với anh, nói là Seaprodex gợi ý như thế. Ở thế có nhiều khó khăn và hoàn cảnh gia đình riêng cũng lấn bấn, cuối cùng, sau hai lần anh Thiết tiếp tục mời, tôi nhận quyết định về Công ty Thông tin làm… nhân viên!


Tôi cho rằng thế hệ lãnh đạo Seaprodex thứ hai, thứ ba không thành công một phần quan trọng là do chọn người không đúng, mà bác Cẩn cũng có lỗi, cho dù ông không được quyền chủ động chọn người ở những ngày tháng cuối cùng trước khi nghỉ hưu. Nếu trước đó một năm, ông chuẩn bị và công khai hóa người sẽ thay mình làm giám đốc Seaprodex thì có thể lựa chọn đó sẽ được sự ủng hộ cao trước hết trong Seaprodex, sau đó là Bộ Thủy sản, cũng như các doanh nghiệp cùng “dòng họ” này.


Ngạn ngữ có câu “Nhân vô thập toàn”. Rất gần gũi bác Cẩn nên tôi hiểu rõ cả những điểm mạnh, điểm yếu của ông. Tuy nhiên, xét tổng thể thì ông là một người lãnh đạo giỏi, đặc biệt là có tư duy chiến lược sắc sảo, luôn say sưa tìm tòi đổi mới, luôn không hài lòng với chính mình. Ở tuổi đã gần chín chục, ông vẫn vận động không ngừng với sức lực cùng một khối óc minh mẫn mà rất hiếm người cùng tuổi theo được. Có lúc tôi phải thán phục ông, nói rằng: “Cháu chỉ ước ở tuổi bảy mươi mà được như bác bây giờ là đã quá hạnh phúc!”.


 


 


XUÂN CANH DẦN NHỚ VỀ ANH HỒNG CẨN


GS. TS. Nguyễn Trần Trọng


Mùa hè năm 1984, chúng tôi gồm bốn người, hiện nay là GS-TS Cao Cự Bội, PGS-TS Nguyễn Anh Hoài, GS-TS Nguyễn Trần Trọng, GS-TS Bùi Thế Vĩnh được anh Hồng Cẩn mời đến Đồ Sơn (Hải Phòng) để nghe anh trình bày về mô hình “Tự cân đối, tự trang trải” và đề nghị chúng tôi nghiên cứu mô hình này. Anh Hồng Cẩn lúc bấy giờ là Thứ trưởng Bộ Thủy sản, kiêm Tổng giám đốc Tổng công ty Xuất khẩu Thủy sản (Seaprodex).


Tháng 10 năm 1984, anh Hồng Cẩn cử cán bộ và cho xe đưa chúng tôi đi khảo sát, nghiên cứu thực địa. Chúng tôi đã đến các tỉnh ven biển đồng bằng Bắc Bộ; Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung; Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long. Chúng tôi đã đến tận Nam Căn, sông Ông Đốc, xã đất mũi Cà Mau. Vào những ngày cuối năm 1984, chúng tôi quay lại thành phố Hồ Chí Minh, tổ chức tọa đàm, và ngày 31 tháng 12 năm 1984, bay về Hà Nội.


Bộ Thủy sản và Tổng công ty Xuất khẩu Thủy sản (Seaprodex) tổng kết mô hình “Tự cân đối, tự trang trải”. Chúng tôi trình bày những kết quả nghiên cứu của mình. Chúng tôi khẳng định tính đúng đắn và tầm quan trọng của mô hình, phù hợp với thực tiễn và lý luận phát triển kinh tế, góp phần tìm ra lối thoát mới cho cuộc khủng hoảng kinh tế và đề nghị hoàn thiện. Chúng tôi hoan nghênh anh Hồng Cẩn và các chiến hữu của anh đã trăn trở, đổi mới tư duy, sáng tạo ra mô hình năng động, đầy sức sống này.


Chúng tôi thấy rằng tìm ra mô hình mới đúng là rất khó. Nhưng khó hơn gấp nhiều lần là biến mô hình thành hiện thực; giữ vững, tồn tại và phát triển trong điều kiện cơ chế quản lý kinh tế cũ - cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp.


Đấy là cuộc đấu tranh giữa cái mới đang manh nha, trỗi dậy với cái cũ thâm căn, lỗi thời, nhưng đầy quyền uy. Cái cũ có thể bóp chết cái mới bằng mọi cách. Thế nhưng anh Hồng Cẩn và các chiến hữu của anh đã có đủ tâm, chí, trí dũng để vượt qua. Chúng tôi vô cùng kính trọng, quý mến các anh.


Công cuộc đổi mới kinh tế của Việt Nam năm 1986, đã tạo điều kiện thuận lợi cho mô hình “Tự cân đối, tự trang trải” phát triển và hòa vào dòng chảy của cơ chế quản lý kinh tế mới - cơ chế thị trường.


Tại Hội nghị tổng kết ngành thủy sản 1991, chúng tôi được nghe anh Hồng Cẩn nói những điều tổng kết từ thực tiễn thành triết lý “Mở và hội tụ” trụ cột của ngành thủy sản Việt Nam. Thật là thú vị! Chúng tôi thu hoạch được nhiều điều bổ ích.


Thế rồi, mãi đến năm 2008, chúng tôi mới gặp lại anh Hồng Cẩn tại cuộc hội thảo khoa học của Hội nghề cá Việt Nam tại Nha Trang. Chúng tôi tay bắt, mặt mừng, ôm chặt nhau với những mái đầu nhuộm trắng màu thời gian. Lần này, chúng tôi lại nghe anh Hồng Cẩn đề cập vấn đề “Nâng cao sự đổi mới toàn diện và triệt để nhằm đưa xã hội nghề cá đến giàu mạnh”.


Cuối năm 2009, chúng tôi gặp anh Hồng Cẩn tại cuộc họp do Hội nghề cá Việt Nam tổ chức tại Hà Nội. Anh Hồng Cẩn với tư cách Chủ tịch Hội đồng Tư vấn và Dịch vụ phát triển nghề cá, nêu ra những vấn đề nóng hổi cần nghiên cứu trong năm 2010 như thành lập tập đoàn thủy sản nhân dân; phát triển ngành thủy sản góp phần phát triển kinh tế và bảo vệ vùng biển đảo Việt Nam với những thời cơ và thách thức mới v.v…


Thật đáng trân trọng biết dường nào! Anh Hồng Cẩn vài ba năm nữa là tròn tuổi 90, thế mà tràn đầy tâm huyết, tràn đầy say mê, tràn đầy trách nhiệm, đang canh cánh những suy tư cho việc phát triển ngành thủy sản Việt Nam trước mắt và lâu dài. Quả là một nhân cách, tấm lòng quý hiếm!


Xuân Canh Dần, chúng tôi xin chúc anh sức khỏe, mọi việc tốt đẹp và vạn sự như ý.


Hà Nội, Xuân Canh Dần 2010


 


NHỮNG TRĂN TRỞ, NIỀM TIN VÀ HY VỌNG


Nhà tôi hiện ở trên đường Lê Đức Thọ, ngay gần Công viên Văn hóa Gò Vấp. Công viên này đã được quy hoạch rộng trên 40 hecta, có đường sá, cơ sở hạ tầng, đã xây dựng mười lăm năm qua, nhưng chắc còn đang kêu gọi chủ đầu tư và nhanh nhất cũng phải chục năm nữa mới xây dựng xong. Buổi sáng, tôi thường ra công viên tương lai này tập thể dục. Một hôm, sau khi đi bộ, tôi tới chỗ người ta hay ngồi nghỉ ngơi sau khi tập (gọi là câu lạc bộ thư giãn), thấy mấy người đang ngồi chuyện trò. Tôi nán lại nghỉ đôi chút và lắng nghe câu chuyện của họ. Họ đều là cán bộ hưu trí, thấp cũng đã trên dưới sáu mươi, già hơn thì trên bảy mươi, đang sôi nổi bàn luận về tình hình quốc tế, về nạn tham nhũng ở nước ta và những cách thức kiếm chác cá nhân bằng những thủ đoạn và cách làm lách luật, lách cơ chế rất tài. Thế rồi, một người tỏ ra rất cứng rắn:


- Nếu tôi là người lãnh đạo cao nhất nước này, tôi sẽ cho bắn bỏ hết bọn tham nhũng, bắn bất kỳ ai, ở bất cứ vị trí, cương vị nào!


Lập tức có ý kiến đáp trả dõng dạc của người khác:


- Tôi lại khác, nếu có được vị trí càng cao, tôi ăn càng dày, càng đậm. Tội gì mà không ăn khi cơ hội ngàn năm có một nó đến. Thời nay, ai cũng tranh thủ ăn, tranh thủ kiếm chác vì đã có cơ chế che chắn, bảo vệ an toàn. Chưa biết ai bắn ai đấy!


Những chuyện tương tự như vậy trong các quán xá, tại những nơi đông người tụ họp bây giờ cứ nhan nhản. Người ta chẳng ngại ngùng, chẳng e dè, chẳng sợ sệt gì, cứ trút bầu tâm sự đủ mọi chuyện, thật có, tiếu lâm có, mà hầu hết là những chuyện tiêu cực, kể xấu vị lãnh đạo này, chê bai ông lãnh đạo kia. Tại sao hiện tượng đó xảy ra? Các nhà lãnh đạo tư tưởng chắc chắn đều biết mà sao sự thể vẫn như vậy? Phải chăng đấy là một cảnh báo về sự mất niềm tin, mất hy vọng của quần chúng? Thiết nghĩ các nhà khoa học, các nhà lý luận của Đảng phải nghiên cứu, đánh giá tình hình tâm lý, tư tưởng của quần chúng, có kết luận có hay không tiêu cực, nếu có thì ở mức độ nào, hậu quả ra sao, sau đó tìm đúng nguyên nhân để có các biện pháp khắc phục. Không nên để tình trạng như thế kéo dài mãi. Đó thật sự là điều trăn trở và lo lắng của tôi.


Cuộc cách mạng Tháng Tám đã chấm dứt gần một trăm năm đất nước bị đô hộ. Chín năm kháng chiến trường kỳ chống Pháp kết thúc bằng chiến thắng Điên Biên Phủ vẻ vang, lừng lẫy toàn cầu. Hai mươi năm “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” được đánh dấu bằng nhiều sự kiện lịch sử, trong đó có trận Điện Biên Phủ trên không và đặc biệt là chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975 đại thắng, quét sạch bóng thù, thống nhất toàn vẹn đất nước. Những thắng lợi vĩ đại đó chứng minh sức mạnh vô biên của nhân dân ta, quân đội ta dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Nhà nước. Gần đây, việc công bố những tài liệu giải mật của cựu tổng thống Nixon và hồi ký của cựu bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mc Namara càng chứng tỏ không thể lấy gì biện bạch cho cuộc chiến phi nghĩa của Mỹ tại Việt Nam. Chiến thắng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng là kỳ vĩ nhất trong lịch sử dựng nước và giữ nước. Sau hai cuộc kháng chiến trường kỳ, cả nước đi vào công cuộc xây dựng và đổi mới với niềm tin mãnh liệt rằng chẳng bao lâu nữa, Việt Nam sẽ trở thành đất nước có nền kinh tế phát triển, sánh ngang với các cường quốc khắp năm châu.


Sau những năm kiên quyết đổi mới, nền kinh tế đất nước đã đạt được những tiến bộ nhất định, đáng mừng. Chúng ta đã thực hiện khá thành công sự nghiệp đổi mới, vị trí tầm vóc của Việt Nam đã được nâng cao trên trường quốc tế, tốc độ phát triển kinh tế thuộc loại khá cao, ngay cả trong thời kỳ nền kinh tế toàn cầu bị khủng hoảng thì nền kinh tế nước ta không bị suy sụp mà vẫn đạt được kết quả dương. Tuy nhiên, chúng ta không nên quá say sưa nói về chiến thắng, mà cần phải biết mình đang đứng ở vị trí nào trong tương quan địa – chính trị toàn cầu. Năm 1976, GDP bình quân đầu người ở Việt Nam ngang bằng Trung Quốc: 200 USD, nhưng nay ta chỉ bằng 30% của Trung Quốc. Trước năm 1975, Hàn Quốc còn rất nghèo, họ thấy Việt Nam sản xuất được xe ô tô La Dalat mà thèm. Vậy mà nay xe hơi Hàn Quốc bán khắp thế giới. GDP bình quân đầu người của ta vẫn còn quá thấp, hiện chỉ bằng 3% của Hàn Quốc hoặc bằng 4,2% Đài Loan, bằng 2,1% Singapore, 12% Malaysia, 21% Thái Lan, 43% Indonesia, 50% Philippines... Phải cố gắng lắm thì 20 năm nữa Việt Nam mới bằng các nước tiên tiến trong khối ASEAN, nhưng lúc ấy có thể họ đã vươn tới mức khác, cao hơn nữa rồi!


Không lẽ một đất nước hòa bình, thống nhất, có gần 90 triệu dân, có mặt tiền là biển Đông giàu tiềm năng cùng với rừng núi, cao nguyên và vùng đồng bằng rộng, chằng chịt sông ngòi và đội ngũ lao động cần cù, lực lượng trí thức khá lớn, lại chịu tụt hậu mãi sao?


Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chiến lược, biện pháp cụ thể để củng cố quan điểm và lối sống cho cán bộ, đảng viên, nổi bật nhất là cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cuộc vận động này là cần thiết, nhưng đã đạt kết quả mong đợi chưa? Những người giữ trọng trách cao trong Đảng, chính quyền càng phải được rèn giũa một cách nghiêm túc và thiết thực để thể hiện cho được đạo đức và lối sống trong sạch, minh bạch, thật sự làm gương cho cấp dưới và cho quần chúng noi theo. Chúng ta đang sống trong một thế giới toàn cầu hóa, một thế giới luôn đổi mới với tốc độ nhanh chưa từng có. Từ thập niên 1970 đã bắt đầu xuất hiện làn sóng thứ ba của nhân loại, nghĩa là con người lấy tri thức, thông tin, thời gian làm nguyên liệu chủ yếu để sản xuất ra sản phẩm cho xã hội, khác hẳn với làn sóng thứ nhất và thứ hai chỉ dựa vào sức lao động, ruộng đất, tài nguyên thiên nhiên và ống khói nhà máy. Tôi nhớ hồi những năm 1990, tôi đã đọc một tài liệu quy cả thế giới về thành một ngôi làng có 100 người, trong đó 57 người Á, 21 người Âu, 14 người ở Bắc và Nam bán cầu và 8 người Phi, tựu trung có 30 người da trắng và 70 người da màu. Trong 100 người đó, có tới 80 người nghèo, chỉ có 8 người giàu nhưng chiếm trên dưới 50% của cải xã hội, 70 người không biết chữ, 50 người thiếu ăn, chỉ có 5 người có trình độ đại học và một người có máy vi tính. Nếu cập nhật số liệu hiện nay thì ngôi làng thế giới thay đổi vô cùng lớn. Sau Chiến tranh thế giới thứ II, chiến tranh lạnh kéo dài nhiều năm, rồi hệ thống Xã hội chủ nghĩa Liên Xô và Đông Âu bị sụp đổ, tiếp đó là các cuộc chiến tranh ở Afghanistan, Iraq, cuộc khủng bố ngày 11 tháng 9 ở Mỹ, việc Iran, Bắc Triều Tiên cố gắng chế tạo, thử nghiệm vũ khí hạt nhân… Khoảng 60 năm qua, đủ loại học thuyết, đủ các loại chiến tranh được vận dụng thử nghiệm, nào chiến tranh cục bộ, chiến tranh đặc biệt, rồi chiến tranh xâm lấn biên giới, chiến tranh vùng Vịnh, chiến tranh lạnh, chiến tranh khủng bố, chiến tranh chống khủng bố, chiến tranh dạy bài học, chiến tranh hăm dọa đe nẹt, chiến tranh dùng vũ khí hóa học, chiến tranh xâm chiếm tài nguyên, chiến tranh kinh tế, chiến tranh bao vây cô lập, chiến tranh ảo… để hòng chiếm ưu thế. Nhưng rồi vẫn chưa thấy đâu là thành công rõ ràng. Lúc người ta cho rằng thế giới đơn cực, lúc lại đa cực, lúc tạo nhóm “đại gia” G7, G8, khi lại lên đến G15, G20 nhưng vẫn không đủ sức giải các vấn đề quốc tế ngày một phức tạp. Gần đây, người ta nói đến nhóm BRIC (Brasil, Ấn Độ, Nga, Trung Quốc) sẽ vượt lên ngang cơ với G7. Tóm lại, thế giới ngày nay đã đa cực và các vấn đề nảy sinh phải được các nước cùng tháo gỡ. Địa - chính trị thế giới đang có những thay đổi lớn.


Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu diễn ra từ nửa cuối năm 2008 không còn đơn thuần là sự khủng hoảng theo chu kỳ của riêng chủ nghĩa tư bản, mà là cuộc khủng hoảng mang tính hệ thống trên toàn thế giới và nước nào cũng chịu ảnh hưởng cả. Trong sự suy thoái chung, tất cả các nước đều phải vận động mạnh mẽ, đổi mới triệt để nhằm thoát khỏi vòng xoáy khủng hoảng. Barack Obama là một người da màu mà đắc cử tổng thống cũng là một sự đổi mới to lớn ở nước Mỹ và rồi ông ta đã có những quyết định mới mẻ, khác hẳn các đời tổng thống trước. Lý do xem ra rất đơn giản: chính nước Mỹ phải đổi mới nhiều hơn cả, nhanh hơn cả. Nước Nhật cũng phải ráo riết cải tổ từ thượng tầng kiến trúc để mong thoát khỏi tình trạng trì trệ liên tục nhiều năm qua. Trong từng khu vực ở khắp các châu lục, các nước nhỏ đã phải liên kết với nhau chặt chẽ hơn, cam kết nhiều hơn để tìm kiếm hướng phát triển chung. Hệ thống Xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu tan rã là do xa rời nhân dân, không lắng nghe tâm nguyện người dân, không tôn trọng dân chủ, không kịp đổi mới. Có ý kiến cho rằng cựu tổng bí thư Gorbachov và cựu tổng thống Reagan chính là hai người “có công” làm sụp đổ hệ thống này! Điều đó không đúng. “Họa phúc hữu mối phi nhất nhật” (cái họa, cái phúc có nguyên do không phải một ngày). Sự sụp đổ là kết quả tất yếu của sự khủng hoảng toàn diện, triền miên của cả hệ thống. Trong bối cảnh đó, Việt Nam đã nhanh chóng, tích cực đổi mới. Nếu không nhanh chóng và quyết tâm đổi mới thì chúng ta không thể có ngày hôm nay.


Suốt 30 năm qua, quá trình đổi mới đã diễn ra ở khắp nơi trong cả nước, xuất phát từ thực tiễn cuộc sống ở cơ sở, do quần chúng nhân dân táo bạo thực hiện và Đảng, Nhà nước tập hợp, phát động thành phong trào, thành sự nghiệp. Nếu đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI phát động công cuộc đổi mới thì đại hội X đã khẳng định phải tiếp tục đổi mới toàn diện với nhiệm vụ chiến lược là làm sao cho dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng và văn minh, nhanh chóng thoát ra khỏi danh sách những nước chậm tiến. Kết quả ban đầu của công cuộc đổi mới đã rõ, đã có đủ cơ sở để khẳng định chủ thuyết phát triển cũng như chiến lược phát triển, có thể tiếp tục đổi mới thành công hơn mà không phải đi sao chép từ đâu, của ai.


Khi làm cuộc cách mạng chống đế quốc, thực dân để giành chính quyền, Đảng và nhân dân ta đã đồng thuận tuyệt đối vì chúng ta không mất gì, chỉ mất xiềng xích của đời nô lệ. Đổi mới ngày nay, Đảng và dân ta cũng chẳng mất gì ngoài cái nghèo khó chung của toàn xã hội và đặc quyền, đặc lợi của một nhóm người. Các vị lãnh đạo tiền bối của Đảng ta nhờ sự tận tụy hy sinh vì nước vì dân, trong sáng, minh bạch mà được nhân dân tin cậy tuyệt đối. Dân tộc ta, nhân dân ta luôn có đủ trí tuệ, đủ khả năng nhận thức và đồng thuận đi theo Đảng nếu Đảng kiên quyết đổi mới, đổi mới trước hết từ trong Đảng, từ trên xuống dưới, càng cấp lãnh đạo cao càng phải gương mẫu đi đầu đổi mới, thật sự lo lắng cho dân cho nước, xây dựng cơ chế dân chủ, minh bạch thì nhất định nhân dân sẽ ủng hộ, sẽ theo Đảng tới cùng và thắng lợi của đất nước trong công cuộc đổi mới là tất yếu.


Trong cuộc sống, chúng ta tôn trọng lời nói đi đôi với việc làm vì đó là nét văn hóa cần thiết đối với mọi người, bất kể tầng lớp, giai cấp, nghề nghiệp nào. Một khi nói và làm không đi đôi với nhau thì xã hội mặc nhiên tồn tại lối sống vô cảm, giả dối, hậu quả là chắc chắn dân mất lòng tin, mà mất lòng tin là mất hết động lực phấn đấu. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Đảng ta đã thực hiện tốt phương châm nói đi đôi với làm, đồng thời biết đấu tranh phê bình thật sự để sửa sai, điều chỉnh, nâng cao năng lực chiến đấu, nhờ đó đã vận động được toàn dân dốc lòng chiến đấu, hy sinh vì Tổ quốc. Từ sau năm 1975, do ấu trĩ, duy ý chí, bệnh thành tích, chứng báo cáo sai, báo cáo láo đã khá phổ biến. Sau quá trình đổi mới ở thập niên 1990, bệnh báo cáo sai có giảm đi, nhưng hiện tượng nói không đi đôi với làm lại gia tăng hầu như trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Vì sao có tình trạng đó? Phải chăng vì đặc quyền đặc lợi, vì lợi ích cục bộ mà người ta hô hào phải làm cái này, phải chống cái kia, nhưng trong thâm tâm lại nghĩ khác, không vì lợi ích chung của toàn dân, của đất nước, mà chỉ coi trọng vinh thân phì gia, theo kiểu “Nói vậy nhưng không phải vậy”. Có phải từ việc nói không đi đôi với làm mà phát sinh ra những căn bệnh khác như “sống chết mặc bay, tiền thày bỏ túi”, đùn đẩy, trốn tránh trách nhiệm, lừa đảo, mua quan bán tước, hàng giả, bằng giả, cán bộ giả, bác sĩ giả… đến nỗi có em học sinh phổ thông viết trong bài thi câu “Sống trung thực là sai lầm, là kém cỏi, là bất tài!”. Đã có không ít trường hợp lừa đảo nhau, hèn hạ trả thù nhau cũng chỉ xuất phát từ thói giả dối. Đây là một trong những vấn đề nổi cộm trong lối sống, xâm hại ghê gớm nền tảng đạo lý rất cần sớm được phanh phui, mổ xẻ, xử lý nghiêm túc để lấy lại lòng tin trong nhân dân khi chưa quá muộn. Tại sao ở các nước khác, một quan chức cấp bộ, cấp chính phủ hoặc nghị sĩ quốc hội nếu vi phạm điều gì về mặt đạo đức hay trách nhiệm thì lập tức bị phát giác và bị xử lý nghiêm túc, còn ở ta, nhiều vụ sai phạm bị phát hiện, sau một thời gian ồn ào lại dễ dàng bị “chìm xuồng”? Ở nước khác, tài sản của công chức, kể từ tổng thống, thủ tướng đến quan chức cỡ trung đều được công khai trên báo chí, còn ở ta, tại sao việc đơn giản hơn nhiều là kê khai tài sản của công chức mất mấy năm rồi vẫn chưa thể làm được? Hơn lúc nào hết, công khai, minh bạch đang là nhu cầu cấp bách trong mọi hoạt động của xã hội Việt Nam!


Mọi thành công, mọi thắng lợi của một tổ chức nếu nói ở quy mô nhỏ, của cả một đất nước nếu nhìn nhận một cách tổng quát, đều phụ thuộc rất nhiều vào đội ngũ cán bộ. Ngày nay có điều kiện nên cán bộ được đào tạo qua trường lớp chính quy khá nhiều, được đào tạo ở nước ngoài cũng chẳng ít, thậm chí tại cả những trường đại học danh tiếng như Harvard. Thế nhưng vì sao người dân ít khi tỏ ra khen ngợi hoặc thán phục tài quản lý của người này, người kia, mà thường tỏ ta nghi ngờ năng lực, tư cách đạo đức của các quan chức từ cấp địa phương đến cấp cao? Người được cho là trong sạch thì lại bị tiếng “hiền như bụt” hay “ba phải”, người được tiếng là xông xáo thì lại “có vấn đề”. Chẳng lẽ thời buổi này quá phức tạp đến nỗi không thể có được thước đo đạo đức và tài năng cán bộ? Hay tại ta… quá hiếm nhân tài? Tôi tin rằng Đảng ta có truyền thống xây dựng đội ngũ cán bộ trung kiên, vì nước vì dân nên không thiếu bản lĩnh và tài năng đánh giá lại, điều chỉnh lại công tác cán bộ. Vấn đề là làm như thế nào và ai đứng ra làm, làm một cách triệt để, không khoan nhượng, không che đậy, nhất định phải minh bạch, công khai. Chỉ có thuốc đắng mới dã tật. Không sớm thì muộn, Đảng ta nhất định phải kiên quyết chỉnh đốn cán bộ để làm trong sạch đội ngũ, thu hút nhân tài vào hệ thống chính trị. Nên chăng tổ chức một hội nghị kiểu như Diên Hồng để phát động toàn Đảng, toàn dân cùng nhau kiên quyết loại trừ căn bệnh giả dối ra khỏi xã hội?


Đất nước ta, dân tộc ta đã gắn bó với Đảng hơn 70 năm qua, từ khi còn là Đảng Cộng sản Đông Dương, đến Đảng Lao động Việt Nam và nay là Đảng Cộng sản Việt Nam. Có lẽ chỉ ở Việt Nam, quần chúng mới gọi tắt Đảng Cộng sản là Đảng, khi nói hay viết cũng chỉ cần vắn tắt một từ “Đảng” là đủ. Đảng đã lãnh đạo toàn dân trải qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp, chống Mỹ với những chiến công hiển hách. Đảng tiếp tục lãnh đạo, triển khai sự nghiệp đổi mới, đạt được những thành tựu chưa từng có và đang mở ra được những lối đi đầy triển vọng. Mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh mà đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X vạch ra là rất thực tế và đúng đắn, là khát vọng của toàn dân. Khi lấy đó làm mục tiêu cao nhất thì nhân dân kỳ vọng và tin tưởng sự lãnh đạo của Đảng. Tuy nhiên, trên con đường đi đến mục tiêu ấy là cả một đại dương đầy thử thách, sóng gió, đòi hỏi sự kiên trì định hướng, bản lĩnh lãnh đạo và sự tinh tường trong việc xử lý mọi tình huống. Trí tuệ của quần chúng ngày một sắc sảo, đòi hỏi Đảng phải nhanh nhạy nắm bắt mọi xu hướng tư tưởng và kịp thời có các biện pháp thích hợp để lãnh đạo quần chúng. Trên thực tế, thường xuyên nảy sinh những ý kiến, quan điểm khác nhau, thậm chí trái ngược nhau nên Đảng phải khách quan lắng nghe, cho phép trình bày, phản biện để tìm ra chân lý.


Nên chăng, cần nghiên cứu kỹ lịch sử đất nước, đặc biệt là các triều đại cực thịnh và cực suy để rút ra những bài học có tính lịch sử của dân tộc. Từ đó, kết hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh, với nhận thức về thế giới hiện đại mà hình thành cương lĩnh và chiến lược phát triển cho thời kỳ mới của đất nước. Nhân dịp kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội, thiết nghĩ Đảng ta phải đúc kết được những bài học sâu sắc mới và đề ra hệ thống giải pháp để toàn dân nâng cao niềm tự hào của dân tộc, từ đó phấn đấu vươn lên bằng tinh thần, khí chất hào hùng của con ngườiViệt Nam.


Vai trò của đảng Cộng sản là rất to lớn trong sự tiến bộ của nhân loại. Không có đảng Cộng sản Liên Xô thì phát xít Đức cùng phe Trục đã thống trị cả thế giới. Không có các đảng Cộng sản ở khắp các châu lục thì thế giới không có được sự yên ấm như ngày nay, vì vậy không thể bác bỏ được vai trò của đảng Cộng sản như cách nói của đôi ba vị tổng thống Mỹ. Trên thế gian này, đảng cầm quyền nào mà chả từng mắc sai lầm. Vấn đề là phải biết tìm ra nguồn gốc sai lầm và kiên quyết sửa sai. Ở nước ta, qua hai cuộc kháng chiến, vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam càng rõ rệt hơn, càng đi sâu vào lòng dân hơn vì những hy sinh và thành quả lớn lao mà hàng triệu đảng viên đã cống hiến cho Tổ quốc. Tuy vậy, lịch sử vẫn là lịch sử và thời gian vẫn cứ không ngừng trôi đi. Những giá trị lịch sử vẫn còn mãi nhưng tác động của chúng không phải là bất biến. Đảng muốn không ngừng lớn mạnh thì tất phải không ngừng đổi mới, không ngừng tự điều chỉnh cho hợp quy luật phát triển, hợp với tâm nguyện của nhân dân.


Có khá nhiều tâm tư, tình cảm dằn vặt, lo lắng rằng thế hệ trẻ ngày nay đang sống trong môi trường với nhiều cơ hội và thời vận rất lớn của đất nước, có thể nói là chưa từng có trong lịch sử, nhưng nếu không biết tiếp tục phấn đấu bằng ý chí và quyết tâm lớn như cha ông thì có nguy cơ sẽ làm mất đi bao nhiêu công sức của các thế hệ đi trước. Tới đây, con đường phát triển của đất nước sẽ theo hướng nào? Cần tạo nên sự đồng thuận trong toàn dân từ tư tưởng tới đường lối, chính sách như trước đây chúng ta đã thực hiện cao trào khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám hoặc những phong trào tình nguyện lên đường chống Pháp, chống Mỹ, bảo vệ quê hương. Sau 35 năm đất nước thống nhất, nhờ quyết tâm đổi mới, chúng ta đã đạt được những thành quả rất đáng mừng, Việt Nam đã thoát khỏi nhóm những quốc gia chậm phát triển, đã tạo lập được vị trí xứng đáng trên trường quốc tế, nhưng xem ra, sự đồng thuận trong việc nhìn nhận, đánh giá về thực trạng xã hội, về cương lĩnh, chiến lược phát triển, về cung cách quản lý Nhà nước pháp quyền… vẫn chưa cao. Ai cũng rõ một điều là trình độ công nghiệp hóa của nước ta vẫn còn thấp so với ngay các nước trong vùng, nhưng tình trạng tham nhũng thì lại nặng nề, năng lực cạnh tranh thấp, chỉ số sử dụng vốn đầu tư (ICOR) thấp hơn nhiều so với các nước xung quanh (theo đánh giá mới nhất và lạc quan nhất thì chỉ số này của Việt Nam là 5,1, thua kém nhiều so với các nước khác, chẳng hạn Trung Quốc dù có tệ vẫn đạt 4,0; Indonesia đạt 3,7; Hàn Quốc, Hồng Kông và Đài Loan trong giai đoạn xây dựng mạnh chỉ từ 2,7 đến 3,0); tốc độ đô thị hóa nhanh làm giao thông luôn bị tắc nghẽn ở các thành phố lớn, nạn ô nhiễm môi trường ngày một trầm trọng, thực trạng ngành giáo dục vẫn tụt hậu và phức tạp… Những yếu kém nổi bật ấy đến bao giờ mới được xử lý hay là đổ tội cả cho “mặt trái của kinh tế thị trường”?


Dân tộc ta, Đảng ta, con người Việt Nam ta có thừa trí tuệ và sức lực để khắc phục những yếu kém đó. Quần chúng vẫn hướng về Đảng, vẫn trông đợi Đảng sẽ đề ra những quyết sách sáng suốt, nhất là trong đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI sắp tới. Nhân đây, thiết nghĩ chúng ta cũng nên quan tâm tới phát hiện của giáo sư người Mỹ Joseph S. Nye Jr., nguyên hiệu trưởng Trường John F. Kennedy thuộc Đại học Haward, rằng Việt Nam có nhiều lợi thế tạo nên “sức mạnh mềm”, có nghĩa là từ xa xưa, tổ tiên, ông cha chúng ta đã biết thông qua sự hấp dẫn về văn hóa, tư tưởng, chính trị và các chính sách đối nội, đối ngoại để đạt được tiến bộ, hòa bình, thịnh vượng (điển hình nhất là ngay sau khi đánh thắng giặc ngoại xâm mạnh hơn mình nhiều lần là tính toán giảng hòa, khi cần thì cống nạp báu vật). Ngày nay, “sức mạnh mềm” đôi khi tỏ ra sắc bén hơn “sức mạnh cứng” (tức là năng lực quân sự và sự vượt trội về kinh tế). Giáo sư Joseph Nye khẳng định trong thời đại ngày nay, nước nào biết khéo léo kết hợp “sức mạnh mềm” với “sức mạnh cứng” để tạo ra “sức mạnh thông minh” thì chắc chắn sẽ tiến nhanh hơn nhiều so với các nước khác. Vốn đã có nhiều lợi thế tạo nên “sức mạnh mềm”, đã có “sức mạnh cứng” nhất định, chúng ta hoàn toàn có đủ tài trí để sớm sở hữu được nguồn “sức mạnh thông minh” đậm chất Việt Nam. Gần đây, nước ta từng bước hiện đại hóa quân đội, chẳng qua là để tăng thêm sức mạnh mềm. Lẽ ra điều này phải thực hiện sớm hơn!


Thời gian qua, công luận nói nhiều về việc khai thác bauxite, rồi việc cho nước ngoài thuê rừng, việc giữ gìn chủ quyền biển Đông… chứng tỏ trình độ dân trí ngày một cao. Trong thời đại thông tin ngày nay, với sự trợ giúp của mạng internet, thông tin trở thành tài sản chung và nhờ đó, mọi người dân đều được tiếp cận đủ mọi loại tin tức, tốt lẫn xấu, tích cực lẫn tiêu cực. Nhà nước muốn tiến bộ thì phải thực thi dân chủ, mà đã dân chủ thì không thể cấm đoán thông tin, không thể tìm mọi cách “lọc” thông tin để che đậy sự thật, mà phải thông tin minh bạch. Chỉ có minh bạch mới tạo được niềm tin và sự đồng thuận trong quần chúng. Vấn đề quan trọng là thái độ và cách làm của Đảng như thế nào để khẳng định quan điểm và bản lĩnh chính trị của mình. Dân trí càng cao, tri thức càng rộng thì ý kiến càng đa dạng, đòi hỏi những người lãnh đạo phải có tầm trí tuệ cao và tôn trọng những ý kiến phản biện. Sáng suốt hơn cả vẫn là chủ động lắng nghe mọi nguồn tin, mọi dư luận và bằng thái độ cầu thị cho phép mở diễn đàn tranh luận, biện luận và phản biện chứ không thể chủ quan, độc đoán, duy ý chí gò ép mọi người phải theo một luồng tư tưởng khuôn mẫu cứng nhắc, thiếu tính thuyết phục.


 Phải trải qua hàng ngàn năm, dân tộc ta mới có được truyền thống vẻ vang, rất đáng tự hào và cũng phải trải qua nhiều chục năm, Đảng ta mới tạo được vị thế vững chắc trong lòng dân. Hướng tới một tương lai tốt đẹp hơn, đất nước phát triển phồn thịnh hơn, bền vững hơn để thật sự “sánh vai với các cường quốc năm châu” như ước muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cũng giống bao người đảng viên chân chính khác, tôi mong rằng các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước từ cấp Trung ương trở xuống, rộng hơn là tất cả những ai đang làm công tác quản lý, quản trị (mà dân gian thường gọi đơn giản là có chức, có quyền) luôn rèn luyện để giữ được nhân cách cùng phong cách làm việc Minh bạch. Đó chính là niềm tin và hy vọng của tôi và cũng là một trong những lý do mà tôi chọn Minh bạch làm tựa đề cho cuốn sách này.


Nguồn: Minh bạch. Tự truyện của Nguyễn Hồng Cẩn. NXB Văn học, 7-2010.


www.trieuxuan.info

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cõi mê - Triệu Xuân 25.03.2020
Giấy trắng - Triệu Xuân 25.03.2020
Anh em nhà Karamazov - FYODOR Mikhailovich Dostoyevsky 16.03.2020
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 15.03.2020
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 15.03.2020
Đêm Sài Gòn không ngủ - Trầm Hương 10.03.2020
Trong cơn lốc xoáy - Trầm Hương 10.03.2020
Ông cố vấn - Hữu Mai 26.02.2020
Đẻ sách - Đỗ Quyên 15.02.2020
Hòn đất - Anh Đức 13.02.2020
xem thêm »