tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Tiểu thuyết
17.07.2010
Phạm Thanh Quang
Hãy trả lại tình yêu

 Hằng mười bẩy, kém Hoàng 8 tuổi. Sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông, vì bố mất sớm, mẹ không có khả năng cho học tiếp đại học. Hằng người cân đối, nước da trắng mịn màng, ngực như cánh buồm căng gió. Tâm hồn Hằng cũng đẹp như bề ngoài của cô, hồn nhiên, dịu dàng, là nguồn cảm hứng cho thơ của Hoàng, sau này mỗi khi nghe ai nói về người đẹp là Hoàng nghĩ ngay đến Hằng.


 Sau chuyến đi Sầm Sơn họ trở nên thân thiết, thường đến thăm nhau, đi xem phim, đi ăn bánh tôm ở Hồ Tây. Rồi đêm xuống trăng lên đi dạo trên đường Cổ Ngư, ngồi ghế nhìn Hồ Tây dưới ánh trăng huyền ảo, nói chuyện mãi tới khuya. Đói bụng đi ăn phở Cầu Gỗ. Đêm ngủ mơ về nhau, nhưng chưa hề tỏ tình.


Lý tưởng của thanh niên thời đó là phấn đấu trở thành đảng viên. Ai là đảng viên được trọng nể, được coi là người thành đạt, có địa vị trong cơ quan, giữ vai trò lãnh đạo. Bí thư chi bộ trong cơ quan là người nói ra lửa.


 Hoàng và Hằng cũng theo trào lưu chung phấn đấu vào Đảng, đang ở tuổi thanh niên muốn vào Đảng, trước hết phải vào Đoàn. Hoàng muốn vào Đoàn phải phấn đấu gấp đôi người khác, vì lý lịch của Hoàng tuy không phải con địa chủ, cường hào, không làm tay sai cho phong kiến, đế quốc nhưng cũng chẳng thơm tho gì, vì Hoàng chỉ là dân “bạch vệ” nếu so với những người thành phần là bần cố nông, những người có bố mẹ là cán bộ, đảng viên, những người đã tham gia dân quân, du kích địa phương, đã đi dân công hỏa tuyến, đã làm công nhân ở công trường. Hằng thuận lợi hơn Hoàng rất nhiều vì nhà nghèo lại là con liệt sĩ. Cũng vì vậy mà tình yêu với Hằng, Hoàng phải nén lại, đây là tự giác, bởi tình yêu không có luật nào cấm cả, nhưng ý thức của Hoàng bắt làm điều trái ngược với trái tim để phấn đấu vào Đoàn, mà ý thức tự giác còn nghiêm hơn, hiệu quả hơn là cấm, vì cấm là làm theo bắt buộc. Hoàng thận trọng từng hành vi, cử chỉ của mình, ý thức cảnh giác rằng luôn có sự rình rập, soi mói lẩn khuất đâu đây, luôn có sự giám sát vô hình ở bên cạnh, nên đi với nhau trên đường Cổ Ngư đêm trăng rất đẹp cũng không dám nắm tay Hằng, ngồi ghế bên Hồ Tây với Hằng, muốn âu yếm cũng không dám vuốt tóc, thì còn nói gì đến chuyện hôn. Thời đó thấy nam nữ yêu nhau, kề vai, cầm tay nhau đi ngoài đường, ngồi sát bên nhau ở ghế công viên, người ta đã nhìn với con mắt không thiện cảm. Cán bộ nữ thời đó không dám dùng nước hoa, quanh năm mặc quần láng đen áo sơ mi trắng, tóc kẹp dài sau lưng. Nếu phụ nữ là đảng viên hoặc làm thư ký công đoàn thì mặc quần láng đen, áo ka ki đại cán. Còn nữ thanh niên ai mà thêu đăng ten bông hoa ở ngực, tóc phi dê súp lơ hoặc cắt ngắn thì bị lên án ăn chơi tiểu tư sản. Nam thanh niên không dám mặc áo chim cò, quần bó, quần loe. Cấm để tóc dài, nghe và hát nhạc vàng. Nếu ai vi phạm, cơ quan kiểm điểm lên kiểm điểm xuống, hết chính quyền đến công đoàn, và bị cắt lao động tiên tiến, ảnh hưởng đến tăng lương, đề bạt và đừng nói tới chuyện vào Đoàn. Hoàng sinh ra, lớn lên trong gia đình trí thức, thời kỳ kháng chiến sống ở Hà Nội, vùng địch chiếm đóng. Nên việc vào Đoàn phải phấn đấu rất gian nan.


Khi Hoàng đưa Hằng đến thăm nhà, sau khi chuyện trò thăm hỏi, mẹ Hoàng- bà Chính Tâm nói với Hằng:


- Tuy mới gặp, bác đã có cảm tình với cháu. Cháu thường xuyên lại chơi, cứ coi như người nhà.


 Rồi bà nói với Hoàng:


- Con đưa Hằng đi chào bố, anh Ngữ, chị Huyền, chị Bích Sang và thăm nhà cửa.


 Qua đó Hoàng đã hiểu ý của mẹ. Sau khi Hằng về rồi, mẹ Hoàng nói:


- Mẹ thấy ưng nó, vì tính tình nó xởi lởi, cái da, cái dáng, cái răng, cái tóc mẹ không chê vào đâu được. Nó mắn đẻ lắm đấy và nhiều sữa dễ nuôi con.


 Hoàng có người chị- Bích Sang là diễn viên kịch nói và đã tham gia đóng nhiều phim. Khi đưa Hằng đến, chị có nhận xét:


- Con bé da trắng mịn, người cân đối, chân dài rất hợp với nghệ thuật. Nhất là nó có đôi mắt lúng liếng “rất chèo”. Em nói với nó, nếu ưng chị giới thiệu học lớp đào tạo diễn viên múa.


 Rồi từ đó, vào dịp nhà có giỗ, ngày lễ, tết, Hằng thường đến nhà chơi. Chị Huyền, chị dâu Hoàng là bác sĩ và chị Bích Sang rất tâm lý. Mỗi khi Hằng đến, sau thủ tục chào hỏi bố, mẹ, các chị kéo Hằng về phòng riêng, nói chuyện phụ nữ với nhau hợp hơn.


 Mẹ Hoàng thường nói với Hoàng:


- Cưới vợ thì cưới liền tay


- Con với cô ấy chưa có gì đâu. Mẹ cứ để từ từ. Con còn phải phấn đấu. Ngoài ba mươi con mới lấy vợ. Thời nay lấy vợ sớm là lạc hậu, không như thời các cụ đâu.


- Việc cưới xin chậm một hai năm cũng được, trước hết phải làm cái lễ ăn hỏi, để con Hằng nó đi lại như dâu con trong nhà cho phải đạo. Hôm nào con đưa mẹ đến thăm mẹ của Hằng nhé.


 Hoàng rất hiểu mẹ khao khát đứa cháu nội. Anh Ngữ, anh trai Hoàng cũng là bác sĩ, cưới chị Huyền hơn hai năm rồi mà chưa có con, bởi anh chị còn “kế hoạch”. Mẹ Hoàng luôn gợi ý với chị Huyền:


- Mẹ mà có cháu đích tôn, sẽ dựng rạp ăn mừng, bố mẹ sẽ trẻ ra cả chục tuổi cho mà xem.


 Chị Huyền nói:


- Con ủng hộ ý kiến của mẹ, nhưng anh Ngữ còn “kế hoạch”.


 Ngữ nói:


- Thời buổi kinh tế khó khăn, sinh con không đủ điều kiện nuôi dưỡng nó, tội cho nó. Nuôi như bà con nông dân mình “trời sinh voi trời sinh cỏ” đẻ cả đàn, chúng nó còi cọc lắm, không phát triển được thể hình và trí thông minh. Sinh cả chục đứa “cù lần” không bằng một hai đứa làm được nhà giáo, bác sĩ.


 Cả nhà cười rộ lên vui vẻ.


3- TRẠM THỦY VĂN SÔNG CON


Chuyến xe U oát của Tổng cục Khí tượng Thủy văn chở ba cô học sinh, Thanh Hằng, Tuyết Nga, Diễm Thúy mới tốt nghiệp trung cấp khí tượng thủy văn lên làm việc ở Trạm Thủy văn Sông Con. Chiếc U oát chạy đến bản La thì hết đường ô tô. Từ đây vào trạm còn 8 cây số nữa phải đi bộ theo đường mòn của bà con địa phương.


 Trạm Thủy văn Sông Con là một trong những trạm ở lưu vực sông Đà, đo lưu lượng, mực nước để phục vụ xây dựng thủy điện.


 Ba cô gái tuổi đôi mươi, họ như bầy chim non ríu rít, luôn nói, cười, ca hát. Gần họ thấy vui lây. Trong ba cô, mới có Diễm Thúy được kết nạp Đoàn, còn Thanh Hằng, Tuyết Nga đang phấn đấu.


 Trạm trưởng là anh Đoàn, ngoài ba mươi tuổi cũng tốt nghiệp trung cấp thủy văn đã ngót chục năm nên ba cô gọi là đại ca. Đoàn đang học đại học hàm thụ, một năm vài tháng về Hà Nội học. Một kỳ nghỉ phép cả tháng về với vợ con ở Thái Bình, mà thường đi phép quá hạn với lý do chờ tàu xe khó khăn. Thỉnh thoảng về Cục họp sơ kết quí, tổng kết năm. Rồi họp huyện, xã, nên chẳng mấy khi có mặt ở trạm. Đoàn có mặt ở trạm chủ yếu vào mùa lũ, còn mùa kiệt thì giao cho ba cô gái, nay đã đến lúc phải thay ca. Một cô xin nghỉ việc về quê lấy chồng, ở tuổi 27 mà chưa chồng con đối với con gái thời bấy giờ đã thấy lo ế. Một cô được điều về Cục công tác và được đi học đại học tai chức, vì cô đã năm năm công tác ở trạm “sống lâu lên lão làng”. Một cô ốm yếu luôn vì bệnh sốt rét kinh niên nên phải về hưu non.


 Sông Con về mùa kiệt chảy hiền hòa giữa hai dã núi cao, nước trong mát, cây cối xanh tươi, tiếng chim vang vọng. Hai bờ phía hạ lưu có những bãi cát sỏi trắng ngần. Phía trung lưu có đoạn đá lăn lởm chởm, nhỏ như sọ người, to như cái bàn, có phiến đá nước chảy bào mòn nhẵn như tấm phản. Nước chảy len lỏi qua các khe đá rì rào tạo cảm giác êm ái, trữ tình. Phía thượng lưu có vài thác nước, nước thác trên đổ xuống thác dưới ầm ầm tạo nên ở mỗi chân thác một cái hồ. Cảnh tượng thật lãng mạn, hùng vĩ.


 Lưu vực sông Con là một trung tâm mưa, có năm lên tới 3.000 mm, nên lưu lượng nước lớn. Do đặc trưng thủy – lý – địa hình, nên lũ tập trung nhanh và chảy hung hãn. Về mùa mưa khi thấy phía thượng nguồn trời âm u, tiếng sấm ì ầm thì phải coi chừng! Nước lũ đổ về nhanh đến nỗi đang tắm dưới lòng sông phải bỏ quần áo trên bờ cho nước lũ cuốn trôi, bỏ của chạy lấy người.


 Mục tiêu của các trạm thủy văn là bắt được đỉnh lũ, có nghĩa là đo được mực nước cao nhất và lưu lượng lớn nhất. Rât cần cho tính toán thủy điện. Cũng giống như đánh giặc, bắt được tướng càng chóp bu càng oanh liệt.


 Trạm Thủy văn Sông Con ở nơi heo hút nên rất hiếm người qua lại. Họa hoằn mới có người dân vào rừng sâu tìm cây thuốc mới lai vãng tới. Đến mùa xuân, đôi khi có tốp săn bắn người dân tộc đi ngang qua, vào trạm xin nước uống. Từ khi lập trạm chỉ có hai lần thợ săn cho trạm hai cái đùi nai.


 Ba cô gái khi mới đến trạm còn háo hức cảnh sơn thủy hữu tình, nhưng mãi rồi cũng chán. Mùa khô, núi rừng hiu quạnh, nghe mãi điệp khúc tiếng chim ca, nhìn hoài dòng nước chảy. Hàng ngày, ba cô gái, mỗi người mỗi việc, âm thầm đi đo mực nước, tốc độ dòng nước, rồi ghi ghi, chép chép, tính tính, toán toán. Công việc cứ lặp đi lặp lại. Chán, chán đến tận cổ. Chuyện với nhau mãi rồi cũng hết. Đêm đêm mỗi cô một tâm trạng, nhớ về Hà Nội, về gia đình, nhất là về những người bạn trai. Niềm vui lớn của các cô là nhận được thư và được đi chợ. Các cô phân công nhau nửa tháng một lần thay phiên được đi chợ và tạt qua bưu điện xã nhận thư. Từ trạm tới bưu điện xã xa 3 cây số. Buồn nhất là đến bưu điện mà không có thư của mình, chỉ nhận hộ cho người khác. Trong số ba cô, Hằng là người có thư nhiều nhất. Hoàng biên thư rất đều cho Hằng, luôn động viên Hằng phấn đấu vào Đoàn và hẹn kỳ nghỉ phép tới lên thăm và dự định mùa hè năm sau hai người sẽ lại đi biển Sầm Sơn để ôn lại những kỷ niệm của những ngày đầy thơ mộng ấy. Đi chợ rất xa, phải vượt qua ba quả đồi. Đi chợ mà không mua không bán, chỉ để đuợc gặp người, càng đông càng vui, nói nói, cười cười, cho lòng bớt cô đơn. Những cô gái đã làm việc ở trạm dăm năm đều xứng đáng được gắn huân chương vì đã hiến dâng tuổi thanh xuân, điều quý nhất của người con gái.


 Chị Thơm, mẹ Hằng đã nghỉ phép đi thăm con một lần. Hôm ấy chị dậy thật sớm thổi cơm, ăn một bát, còn nắm một nắm mang đi ăn đường. Những thứ mang lên cho con là xà phòng, thuốc đánh răng, kim chỉ… chị đã chuẩn bị cả tuần, được bỏ vào ba lô con cóc. Quan trọng là mua mấy gói hạt giống các loại rau, và công phu nhất là chị mua hai ký thịt nạc làm ruốc mang lên cho con. Chị ra bến xe khách đi Hòa Bình. Đến thị xã Hòa Bình chị ghé chợ mua một lồng mười con gà giò. Rồi chị mua vé ô tô đi Mai Châu. Dọc đường, đến bản La chị xuống. Từ đó vào Trạm, chị đi bộ, gánh một đầu lồng gà, một đầu cái ba lô con cóc. Trời đã về chiều. Trên đường chị tràn ngập niềm vui sắp được gặp con. Bỗng chị ngập ngừng khi đứng trước ngã ba đường, chị phân vân một chút rồi quyết định đi đường hướng bên trái vì thấy rộng hơn, chắc nhiều người đi hơn. Chị đi mải miết đi, đi mãi mà chẳng thấy trạm thủy văn đâu! Chẳng gặp ai để hỏi, trời tối dần. Phía trước núi đồi trập trùng, rừng cây bát ngát. Xa xa đã buông phủ sương mù, tiếng tắc kè vang vọng. Trời đã hơi lạnh. Âm khí núi rừng làm chị thấy rờn rợn, nghĩ lành ít, lo dữ nhiều. Chị tưởng tượng gặp tên thổ phỉ cao to, hung hãn hiếp đàn bà. Nghĩ đến con đười ươi, to như con gấu, cái lưng bằng tấm phản, gặp người bắt về hang. Nghĩ đến ông ba mươi ẩn mình trong bụi rậm, chờ người đi tới nhẩy ra vồ với nanh vuốt sắc như dao cắn vào cổ người uống máu. Càng nghĩ chị càng thấy sợ. Bỗng chị nghe thấy tiếng động, hình như có người, chị lắng nghe nhưng tiếng gì chị chẳng hiểu, chị nghĩ hay là ma! Nhưng không, tiếng họ cười thì đúng là người rồi, tiếng nói tiếng cười mỗi lúc một gần. Rồi họ đã xuất hiện, đó là mấy cô gái người dân tộc đi kiếm củi trong rừng về muộn. Chị mừng không tả xiết. Chị hỏi các cô trạm thủy văn. Vì các cô nói tiếng Kinh chưa thạo nhưng cũng hiểu điều chị hỏi. Một cô trả lời:


- Trạm thủy văn còn xa lắm, tối rồi mày không đi được đâu. Mày về bản với tao, sáng mai tao dẫn mày đến.


 Đúng là ở hiền gặp lành. Không còn cách nào hay hơn. Chị Thơm theo các cô về bản.


 Thấy có người miền xuôi nhỡ đường. Bà mẹ cô gái người dân tộc Mường nấu cơm mời chị Thơm ăn. Cơm xong chị Thơm cùng gia chủ ngồi quanh bếp lửa nhà sàn bập bùng nói chuyện mãi tới khuya. Tuy có lúc vì không thông thạo tiếng, vừa nói vừa ra hiệu rất vui. Cả đêm hôm đó chị Thơm ngủ chập chờn nghĩ về chặng đường mới đi và Hằng, đứa con là niềm tin, hy vọng của cuộc đời chị.


 Sáng hôm sau cô gái dẫn chị Thơm đến ngã ba đường mà hôm qua chị đi lạc. Cô gái nói:


- Mày đi đường này thấy bóng mày dưới đất ngắn bằng nửa mày là tới trạm thủy văn.


 Chị Thơm cầm tay cô gái rất lâu, vừa quen biết chia tay đã thấy bịn rịn và lấy một gói kẹo lạc ra tặng. Cô gái vui mừng nói:


- Mày là người tốt.


 Đi ra sông đo mực nước về, thấy mẹ Hằng vui mừng không sao tả xiết. Hằng đến ôm mẹ nói:


- Sao mẹ không tin cho con biết trước để ra bản La đón. Mẹ đi từ lúc nào mà đến sớm vậy?


 Chị Thơm nói về chuyện đi lạc đường với nỗi sợ hãi chiều qua.


 Nghe xong Hằng ôm mẹ nói trong nước mắt:


- Vì con mà mẹ vất vả.


 Còn chị Thơm thì xoa đầu con sung sướng


 Hôm ấy trạm thủy văn Sông Con vui như ngày hội. Chị Thơm không chỉ là mẹ riêng của Hằng, còn là mẹ chung của Thúy, Nga. Họ ghép ba cái giường cá nhân lại để ngủ chung với mẹ.


 Trong những ngày ở trạm, chị Thơm xem chúng sống ra sao. Rồi bày vẽ cho chúng cách cải thiện đời sống. Chị bàn với chúng khai phá một mảnh đất ở nơi tiện lấy nước sông lên tưới để trồng các loại rau thông dụng, rau muống, rau cải, mồng tơi, hành, tía tô. Chị nói:


- Khi bị cảm, cúm nấu cháo cho nhiều hành, tía tô, đập vào quả trứng gà, ăn thật nóng cho toát mồ hôi, người thấy nhẹ nhõm.


 Rồi nói cho chúng biết các loại lá nấu nước xông.


 Khi mảnh đất đã được khai hoang, chị dạy chúng làm luống, gieo hạt, cách tưới, phân bón. Rồi cùng chúng làm chuồng cho đàn gà chị mang lên. Chị dặn ở rừng phải đề phòng cáo bắt gà, cố chăm đàn gà cho nó sinh sôi nẩy nở vừa có trứng ăn hàng ngày, có thịt ăn ngày lễ, tết, lúc khách khứa, ốm đau.


 Trước khi về Hà Nội chị đi chợ với Hằng mua cho trạm một con chó mới ba tháng tuổi, trông rất thích, lông nó trắng như bông, nó có bốn mắt, hai mắt giả đen tròn như hai hòn bi, nên Hằng đặt tên là con Bốn.


Từ khi chị Thơm lên thăm trạm có bộ mặt khác hẳn. Ở sân và quanh trạm luôn tiếng gà chiêm chiếp đi tìm mồi bắt côn trùng, sâu bọ, mỗi ngày vài lần nghe tiếng gà nhẩy ổ đẻ trứng. Và đã có lứa gà con gần hai chục con trông rất vui mắt. Ba cô chiều chiều ra vườn rau, cuốc xới, làm cỏ, bón phân, gánh nước tưới, trông vườn rau xanh tốt các cô lòng hể hả. Các cô ra công chăm sóc con Bốn, tập cho nó đi hai chân, dạy nó đi vệ sinh đúng chỗ, khi đĩa cơm để xuống đất có ba tiếng gõ mới được ăn. Thường các cô cho nó ra sông tắm, nó rất thích được kỳ cọ bộ lông và bơi lội. Thấy quả rụng trôi trên sông, nó hào hứng bơi ra ngoạm lấy mang vào bờ. Con Bốn dễ bảo, khi nó có lỗi Hằng quát một tiếng, nó chạy vào gầm tủ nằm, mắt thao láo, thỉnh thoảng liếc nhìn trộm Hằng, nó lớn nhanh như thổi, lông mượt mà trông rất thích mắt, nó bắt chuột rất giỏi, từ khi có nó không một con chuột nào dám lai vãng tới trạm. Các cô coi nó như người bạn, mỗi khi các cô đi đâu về, nghe tiếng từ xa con Bốn vẫy đuôi chạy ra mãi ngoài đường đón, mừng ríu rít, nhẩy cẫng lên, húc đầu vào mông, cắn gấu quần các cô chủ, đêm nó nằm dưới gầm giường của Hằng vì Hằng là người cưng nó nhất. Mỗi khi các cô ra sông làm việc nó theo ra, ngồi trên bờ, về nó lại theo về.


Anh Đoàn sau ba tháng đi học về ngỡ ngàng trước sự thay đổi của trạm. Anh là con nhà nông chính hiệu mà cả chục năm ở trạm anh không làm được.


(còn tiếp)


Nguồn: Hãy trả lại tình yêu. Tiểu thuyết của Phạm Thanh Quang. NXB Văn học, 7-2010.


www.trieuxuan.info


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cõi mê - Triệu Xuân 25.03.2020
Giấy trắng - Triệu Xuân 25.03.2020
Anh em nhà Karamazov - FYODOR Mikhailovich Dostoyevsky 16.03.2020
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 15.03.2020
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 15.03.2020
Đêm Sài Gòn không ngủ - Trầm Hương 10.03.2020
Trong cơn lốc xoáy - Trầm Hương 10.03.2020
Ông cố vấn - Hữu Mai 26.02.2020
Đẻ sách - Đỗ Quyên 15.02.2020
Hòn đất - Anh Đức 13.02.2020
xem thêm »