tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Tiểu thuyết
22.07.2010
Phạm Thanh Quang
Hãy trả lại tình yêu

 Nước lũ chui vào lỗ cua, ổ chuột, hang mối. Chui vào từng khe hở của đất, ngấm ngầm phá hoại làm thân đê Hạ Giáp suy yếu. Lúc đầu vết nứt chỉ to bằng ngón tay chạy dài gần 50 m trên mặt đê sau vết nứt lan ra và to dần, đến lúc con bò có thể lọt xuống thì mái đê bị đánh sập, sạt tới nửa thân đê, một đống đất to sù sụ nằm chềnh hềnh trên mặt ruộng, sức chịu của đoạn đê Hạ Giáp bây giờ chỉ còn có một nửa! Vỡ đê chỉ còn trong gang tấc!


 Hệ thống đê sông Hồng hàng ngàn cây số được bồi đắp qua nhiều đời. Đê đi qua các vùng địa hình, địa chất rất phức tạp, đê không theo một chuẩn mực thiết kế nào, đất đắp đê cũng không thể đồng chất, qua các địa phương có đất nào đắp đất ấy. Ngày xưa, thời phong kiến huy động phu đi đắp đê, do không được giám sát cẩn thận nên đắp rất ẩu, đất đắp lẫn nhiều tạp chất, nên nhiều đoạn đê rất yếu, thậm chí còn phát hiện cả rễ cây, quang gánh… trong thân đê để cho mối, chuột làm tổ.


 Hộ đê cũng như cấp cứu người trước hết phải cho thở ô xy, tiêm hồi sức cho sống đã rồi sau mới xét nghiệm máu, chụp tim phổi… Hộ đê cũng vậy, phải dùng các giải pháp tạm thời sao cho đê không vỡ, còn làm bài bản theo sách vở phải chờ sau lũ mới thực hiện được.


 Hoàng dùng cọc tre, phên tre giữ khối đất bị sạt không cho sạt thêm rồi bồi trúc vào chỗ bị sạt những vật liệu thích hợp sẵn có trên công trường như cát, đá dăm, đất pha cát…


 Đang chỉ đạo viêc xử lý đê Hạ Giáp thì đồng chí trưởng ban hớt hải đến yêu cầu Hoàng đến ngay cống Cầu Trắng


 Tin cấp cứu đoạn đê Hạ Giáp bị sạt còn đang nóng hổi thì lại có tin cống Cầu Trắng sắp vỡ truyền đi như dây thuốc nổ đang cháy. Khi Hoàng đến, cống Cầu Trắng đông nghịt người. Nước sau cống cứ ùng ục chảy vào trong đồng, nước chảy mạnh quá đến nỗi đá hộc vứt xuống cũng bị cuốn phăng đi. Dân công chuyển rồng tre, rọ đá đến để đầy hai bên cống, họ đang chờ lệnh để thả xuống. Nhưng thả xuống chỗ nào thì chưa có lệnh. Cống hỏng, máng cống hỏng hay nền cống hỏng còn là ẩn số! nguyên nhân thì tối om mà nước cứ ùng ục chảy, nguy cơ vỡ cống tính từng phút! Bây giờ không phải lúc nhận định, phân tích, phán đoán tìm nguyên nhân nữa. Một ý nghĩ thoáng đến trong đầu, Hoàng hô:


- Bà con ơi! Ta siết tay nhau nhẩy xuống chặn dòng nước lại!


 Mồm hô tay Hoàng nắm tay hai thanh niên lao xuống cống, mọi người thấy thế làm theo, chỉ chốc lát dưới cống đã đông nghịt người, dòng nước bị cản, chảy êm… Cuối cùng phát hiện một tấm ván cửa cống ở dưới đáy bị bật tung. Thế là rõ nguyên nhân. Thuốc được kê toa đúng bệnh.


 Trong phòng điện đài, tiếng cô điện báo viên lại vang lên: “Sông Hồng gọi Sông Đà, Sông Lô, Sông Thao… nghe thấy không trả lời, sóng vỗ buồm căng! Sóng vỗ buồm căng!”.


 Nước sông Hồng tiếp tục lên trên báo động số 3, các nhà thủy văn tính toán tần suất 1%, nghĩa là con lũ một trăm năm năm mới xảy ra một lần. Mực nước sông ở Hà Nội sắp vượt quá sức chịu của đê, thủ đô bị uy hiếp. Ban chỉ huy chống lụt bão trung ương chỉ thị đi các nơi: Đỉnh lũ đang truyền từ thương lưu về, mực nước đang lên nhanh và sẽ đạt tới mức cao nhất! Giờ phút nghiêm trọng đã đến! Chúng ta quyết không để xảy ra vỡ đê! Hãy bảo vệ lấy Thủ đô!


 Đồng chí Bộ trưởng Bộ Thủy lợi, trưởng ban chống lụt bão Trung ương xin ý kiến Bộ Chính trị cho phân lũ vào sông Đáy qua công trình Vân Cốc để cứu nguy cho Hà Nội. Được Bộ Chính trị phê chuẩn.


 Lệnh khẩn cấp cho các địa phương ven sông Đáy thông báo cho nhân dân trong phạm vi ảnh hưởng của phân lũ sơ tán.


 Khi Hoàng đang chỉ đạo xử lý cống Cầu Trắng thì ông cục trưởng Cục quản lý đê điều theo lệnh của Bộ trưởng phóng xe ô tô com-măng-ca đến đón Hoàng về Vân Cốc xem việc đóng mở cửa cống phân lũ có đúng như những điều đã quy định trong thiết kế, vì Hoàng tính toán thủy lực và thiết kế quy trình đóng mở cửa phân lũ.


 Hoàng lại náo nức theo dõi việc phân lũ qua công trình mà anh được tham gia thiết kế với tất cả nhiệt tình và đầy trách nhiệm, bởi đây là công trình – dấu ấn lớn trong đời làm khoa học kỹ thuật của Hoàng vì nó bảo vệ lợi ích quốc gia, bảo vệ Thủ đô ngàn năm văn hiến.


 Mưa tạnh, mây tan, trời xanh lộ ra từng mảng. Mực nước sông xuống dần.


 Gió nồm nam hây hẩy. Trên dòng Sông Hồng, tầu thuyền sau những ngày tránh lũ lại êm đềm ngược xuôi. Cuối chiều ngôi sao Hôm lại lấp lánh xuất hiện trên bầu trời.


 Sau nửa tháng trời hộ đê không kể ngày đêm bây giờ Hoàng mới thấm mệt. Cái mệt rất lạ, buồn ngủ mà ngủ không được! Đói mà ăn không thấy ngon! Khát mà uống mãi không đã khát! Nhưng trong lòng Hoàng rất hưng phấn vì mình đã góp sức giữ đê không vỡ. Và nhất là công trình Vân Cốc, nơi Hoàng và Hằng đã đóng góp công sức nhỏ bé của mình, cho phân lũ có hiệu quả và an toàn, góp phần bảo vệ Hà Nội, Thủ đô thân yêu.


5- PHIÊN CHỢ MA


Hoàng được giao làm chủ nhiệm lập dự án khả thi thủy điện Hưng Thi trên sông Bôi, Hòa Bình. Hoàng rất vui vì đã chọn được một ê kíp kỹ thuật làm việc hợp nhau. Họ gồm kỹ sư địa chất Bá Hùng, mới tốt nghiệp ở Liên Xô về, kỹ sư địa hình Nguyễn Văn Tạo, bách khoa khóa 8, kỹ sư thủy văn Lê Hào và một số công nhân địa hình, địa chất giúp việc.


 Vùng hồ thủy điện Hưng Thi nằm trong vùng núi đá vôi, hang động như trận đồ bát quái, bởi hang động nằm ở trong lòng núi, to nhỏ, sâu nông, cao thấp, dọc ngang… khôn lường. Điều lo nhất của người làm thủy điện là khi xây hồ chứa nước ở vùng này, nước sẽ chảy theo các hang động đi về đâu? Sẽ làm mất nước phát điện và gây ngập úng cho các vùng khác. Nên việc đi khảo sát, thăm dò, nghiên cứu hang động để xây hồ chứa phải rất công phu, theo khoa học kỹ thuật chuyên ngành “Caxtơ”.


 Đoàn dựng lán trại trên bờ sông Bôi thuộc địa phận bản Thà, bởi hành trình khảo sát trong vùng hồ ròng rã mấy tháng trời. Và điều quan trọng là phải dựa vào dân để nắm tình hình, hang động và mực nước lũ lịch sử trong vùng không ai nắm vững bằng dân.


 Bà con dân bản Thà thấy đoàn đi nghiên cứu làm thủy điện ở địa phương mình mừng lắm. Đoàn thanh niên liền tổ chức liên hoan. Mà đã liên hoan phải uống rượu bằng bát, uống nhiều mới vui, mới là người anh em. Uống không say không về. Đoàn cử Hùng thay mặt uống với thanh niên trong bản.


 Hùng, kỹ sư địa chất tốt nghiệp bằng đỏ ở Liên Xô, đã từng đi thực tập chui xuống hầm lò khai thác than cùng với công nhân Liên Xô để mô tả cấu tạo địa tầng về làm đồ án tốt nghiệp. Bởi tính cách “hảo hán”, uống rượu Vốt-ca không thua thợ mỏ Nga, có duyên nói chuyện tiếu lâm Nga nên công nhân ở mỏ rất mến chàng sinh viên Việt Nam này, người bé mà tính cách đàn ông chẳng bé chút nào.


Mới nhập cuộc Hùng đã xin mạn phép uống khai vị, uống hai hơi hết liền hai bát, mặt cứ tỉnh bơ, nói vừa khiêm tốn, vừa thách thức:


- Em rượu không bằng ai, nhưng cũng chưa kém ai bao giờ.


 Bọn thanh niên bản trố mắt nhìn. Một thanh niên nói:


- Em xin bái phục đại ca.


 Thế là cả buổi liên hoan không ai dám thách đoàn uống rượu.


 Hôm sau đoàn họp với các cụ phụ lão để các cụ cho biết tình hình hang động trong vùng và các trận lũ lịch sử. Các cụ cho biết có một hiện tượng kỳ lạ xảy ra cách đây vài chục năm mà dân bản không bao giờ quên. Câu chuyện như sau:


 Sau một trận mưa kéo dài cả tuần. Mưa tan trời đẹp. Một đêm thanh bình bà con đang yên giấc bỗng nghe thấy một tiếng ầm như tiếng sấm, rồi tiếng ồn ào như phiên chợ đông, sau đó tiếng gì lạ lắm, như khóc than, như sáo diều vi vu, dìu dặt… rồi dần dần im ắng như cảnh chợ chiều. Bà con nghĩ tới một phiên chợ “ma”. Sáng hôm sau nhìn ra cánh đồng phía tây dưới chân núi Yên Ngựa thấy ngập nước, cỏ rác, cành cây, gỗ mục đầy đồng. Bà con càng khẳng định đó là do phiên chợ ma để lại.


 Trước tiên đoàn theo người địa phương dẫn đến xem những vết lũ lịch sử còn để lại ngấn nước trên vỉa đá, lấy sơn đỏ đánh dấu để dẫn địa hình xác định cao độ. Để từ đó kết hợp với các yếu tố khác tính ra lưu lượng lũ. Về hang động đoàn được dẫn đến từng cái mà dân trong vùng đã biết, đoàn đánh dấu từng hang động trên bản đồ, ghi cao độ xuất hiện, mô tả hình dạng, hướng phát triển… Từ đó phân tích khả năng mất nước, đề ra giải pháp khắc phục. Nhưng điều làm họ suy nghĩ là câu chuyện kể về phiên chợ ma. Hoàng nói với Hùng:


- Mình nghĩ chuyện này có liên quan tới hang động.


Hùng nói:


- Mình cũng đang mường tượng về vấn đề này. Chúng ta phải chứng minh bằng khoa học.


 Họ leo đồi lội suối, cơm nắm muối vừng, chui vào bụi gai, hẻm đá trong vùng hồ để tìm hang động mà trọng điểm là sườn phía tây dải núi Yên Ngựa vì theo dân bản kể nơi đây là vùng “phiên chợ ma”. Lang thang mấy ngày ròng rã mà chưa phát hiện được cái hang động nào đáng kể. Tình cờ khi cả nhóm ngồi nghỉ, cái mũ nan của Thìn, công nhân địa hình bay vào phía sau một tảng đá lớn, Thìn vào tìm mà không thấy, sau mới hay cái mũ bay vào trong hang, miệng hang chỉ to bằng cái vành nón, gió cứ hun hút vào. Thìn chui vào lấy. Rồi hô:


- Các anh ơi! Đây là một cái hang.


 Họ lần lượt chui vào, uốn lượn như con rắn, sây sát cả người. Bò qua một đoạn khó thì bất ngờ xuất hiện một cái hang, sau một lát định thần, quen với ánh sáng trong hang, không phải là hang mà là một cái động. Trong động có một chùm ánh sáng lọt vào theo một cái hang nghiêng đục qua sườn núi ăn thông với bên ngoài trông thấy vòm trời bằng cái vung. Hùng reo lên!


- Đây rồi, bắt được con cá lớn.


 Một cái động rất đẹp, rộng có thể chứa được cả ngàn người. Động có rất nhiều nhũ đá mọc từ đỉnh xuống. Có cái đã già màu xám nối liền đỉnh với nền động. Có cái còn non màu vàng vàng. Có cái mới chồi ra trắng màu sữa còn treo lơ lửng ở nóc động, đầu nhọn đọng những giọt nước, rơi từng giọt, từng giọt đều đặn, kêu tí tách như chuyển động của kim phút đồng hồ xuống vũng nước ở dưới nền. Không khí trong động khô mát vì luôn có một luồng gió lưu thông. Họ gọi nhau lập tức có tiếng hồi âm từ vách động vang lại. Những con dơi nghe tiếng người bay vù vù. Họ soi đèn pin vào các khe núi thấy con rắn cuộn tròn mình đỏ như lửa, thấy tiếng động và ánh đèn nó trườn mình chậm chạp bò vào bên trong. Những con cua núi mình nhỏ, nhưng tám cẳng, hai càng rất dài, nghe tiếng động nó giơ hai càng lên thủ thế, chúng cũng chậm chạp, khờ khạo. Hình như các đông vật trong môi trường hang động không được tinh, nhanh. Trong động còn nhiều ngóc ngách, cái hướng lên trời, cái hướng xuống đất âm ty, cái ngang, cái dọc, cái xiên như “mê hồn trận”, trong đó có một cái hang lớn gió hút vào rất mạnh, trông vào thăm thẳm tối. Họ nhận định đây là hang chính và nhất định phải thông với ngoài trời phía cuối hang theo luồng gió. Đây là thách đố với họ. Hùng “bốc máu phiêu lưu” muốn đi vào ngay, nhưng mọi người can vì đã xế chiều, hơn nữa chưa có sự chuẩn bị các điều kiện khảo sát cần thiết.


 Hôm sau họ đã chuẩn bị chu đáo: đèn pin, dây thừng, sơn để đánh dấu, búa, túi đựng mẫu đá… và nhất là nước uống, khẩu phần ăn để khám phá cái động còn nhiều bí ẩn. Cuộc khám phá rất vất vả, phải tụt xuống leo lên như nhà leo núi, chỗ rộng, chỗ hẹp, phải luồn lách, có chỗ không thể đứng thẳng người đi được vài bước. Ai cũng mồ hôi như tắm, mệt nhưng rất ham, vì luôn gặp những bất ngờ. Khi thì gặp con suối ngầm chảy xuyên qua núi, tạo nên một khoảng trống rộng rãi mát mẻ. Họ ngồi nghỉ, uống nước, có người cao hứng nhảy xuống bơi được vài sải. Họ leo trèo theo hướng luồng gió, vì trong động còn nhiều hang xuyên ngang, dọc, đi tới đâu họ đánh dấu sơn để khi ra theo đường đã vào. Họ phải lội qua một đoạn suối nước tới ngực. Quần áo ướt sũng, rồi lại se khô. Hang họ đi cứ cao dần. Khi thì thấy ánh sáng ngoài trời lọt vào động theo một cái hang thẳng đứng như cái giếng ăn thông với trời, nhờ vậy trong hầm có được ánh sáng chỗ thẫm, chỗ nhạt, chỗ thấy rõ mặt người, chỗ tối thui. Leo tiếp một đoạn khá dốc thì họ reo lên vì trông thấy cửa hang. Lúc này họ đã rất mệt, leo được vài bước phải đứng thở. Cậu Thìn, công nhân chạy mia địa hình xung phong mang dây thừng leo ra cửa đông trước, cột vào cây thả xuống để mọi người bám dây thừng trèo lên cho dễ.


 Cuối cùng họ đã tìm được cửa động ở phía tây, Ra khỏi động mọi người ngỡ ngàng, đây là một thung lũng bốn bề núi cao bao bọc, họ tưởng lạc vào thiên thai, bởi đây là một thung lũng nguyên sinh mà họ là những người đầu tiên bước chân tới. Họ tản mạn đi chơi hồi lâu trong thung lũng. Rồi giở cơm nắm ra ăn. Bất ngờ Hùng đưa ra một ra một gói lạc rang và chỉ vào cái bi đông mang theo, nói:


- Cuốc lủi đấy. Của một câu thanh niên người dân tộc bản Thà uống rượu giỏi nhất vùng cho để tôn vinh mình là đại ca.


 Họ ngồi vòng tròn chuyền nhau bi đông rượu, ngửa cổ tu mỗi người một hớp, và cứ thế quay vòng cho đến khi trong bi đông không còn lấy một giọt. Trong lòng họ rất vui vì đã phát hiện ra một cái động. Họ như những chàng Từ Thức lạc Thiên Thai. Trong thung lũng, cây mọc cao vút, cành lá xanh mướt được phủ nắng vàng, một môi trường, sinh thái, cảnh quan tuyệt vời, không khí cực kỳ tinh khiết, không gian thanh bình.


 Những kỹ sư, kỹ thuật viên, những công nhân họ đi khảo sát những nơi hẻo lánh thâm sơn cùng cốc, trèo đèo lội suối. Có khi ngủ trong hang động, khi ở giữa rừng, màn trời chiếu đất, nhìn ngắm sao đêm như những người thời thượng cổ, nhớ thành phố, vợ con, người yêu. Có khi đói cồn cào đi tìm quả dại trong rừng cầm hơi. Có khi khát cổ khô lửa cháy mơ một trận mưa rừng. Họ sống rất bụi, nhưng tâm hồn rất lãng mạn bay bổng.


 Hùng nói với Hoàng và mọi người:


- Mình đưa ra một giả thiết về “phiên chợ ma”. Thung lũng này là một cái hồ, vì chung quanh là núi cao bao bọc, khi mưa nước trữ lại ở đây như một hồ nước, rồi từ hồ nước này chảy vào hang, động theo chiều dốc hướng tây- đông, rồi đổ ra cánh đồng sườn núi Yên Ngựa. Cửa ra của động rất hẹp nên có thời kỳ nào đó bị rác rưởi, cành cây lá khô làm bít lại như một cái nút chai, làm nước trong động không chảy ra được, và nước mưa cứ tiếp tục dâng lên ở trong hồ, hang động lúc này như một ống áp lực, nước thung lũng tiếp tục tăng thì áp lực trong động tăng đến khi đủ mạnh làm bung cái nút, nên nước chảy trong động ra rất mạnh, gây tiếng động ầm ầm, ào ào, tiếng nước va đập vào đá, do thủy, khí vận đông phát ra những tiếng động cùng với trí tưởng tượng của bà con dân bản thành tiếng như “phiên chợ ma”.


 Sau khi nghe lập luận của Hùng, cả đoàn đã thảo luận, người bổ sung thêm cho lập luận kín lẽ hơn, người vặn hỏi điều này ý kia, người thì đưa ý kiến trái ngược rất sôi nổi. Cuối cùng Hoàng nói:


- Giả thiết của Hùng được anh em trong đoàn bổ sung có tính thuyết phục. Nhưng lưu ý trong động có con suối chảy qua và giếng thông với ngoài trời nên nước chảy trong động là một chế độ thủy lực rất phức tạp chưa thể kết luận được.


(còn tiếp)


Nguồn: Hãy trả lại tình yêu. Tiểu thuyết của Phạm Thanh Quang. NXB Văn học, 7-2010.


www.trieuxuan.info


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cõi mê - Triệu Xuân 25.03.2020
Giấy trắng - Triệu Xuân 25.03.2020
Anh em nhà Karamazov - FYODOR Mikhailovich Dostoyevsky 16.03.2020
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 15.03.2020
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 15.03.2020
Đêm Sài Gòn không ngủ - Trầm Hương 10.03.2020
Trong cơn lốc xoáy - Trầm Hương 10.03.2020
Ông cố vấn - Hữu Mai 26.02.2020
Đẻ sách - Đỗ Quyên 15.02.2020
Hòn đất - Anh Đức 13.02.2020
xem thêm »