tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Tiểu thuyết
26.08.2010
Phạm Thanh Quang
Hãy trả lại tình yêu

Ở Mỹ, Học kiếm sống bằng nghề “neo”- sửa móng chân móng tay. Nhưng điều đó đối với Hằng không quan trọng. Điều Hằng cần ở Học là được bảo lãnh qua Mỹ. Nắm bắt được khát vọng của Hằng, với đầu óc thương mại, Học nghĩ tới một hợp đồng “kết hôn giả”. Hằng phải mất cho Học một khoản tiền kha khá, đặt cọc trước một một phần ba, số còn lại sau khi được bảo lãnh qua Mỹ sẽ đưa nốt. Và hai bên cam kết chỉ là vợ chồng hờ, tuyệt đối không có mối quan hệ nào khác và sau một thời gian Hằng được nhập cư ở Mỹ rồi sẽ xảy ra cuộc ly hôn với Học. Điều này khá chắc chắn bởi Ánh Chi, vợ Học ở Mỹ, là người đàn bà ghê gớm, dắt mũi được Học, đi guốc trong bụng Học, Học nghĩ gì Ánh Chi đều tiên đoán. Ánh Chi thường về Sài Gòn làm ăn, nắm bắt được tâm lý mấy bà góa đang độ hồi xuân muốn đi tìm một tấm chồng Việt kiều Mỹ. Khi đọc trên internet mục tìm bạn bốn phương, Ánh Chi nghĩ ngay tới con bài Michael Học, vì Học tốt mã và món hàng Thanh Hằng là béo bở. Trước khi bay về Sài Gòn gặp Thanh Hằng, Ánh Chi đã chỉ đường đi nước bước cho Học và quá biết tính trăng hoa của Học, Ánh Chi nói:


- Chỉ được làm chồng giả thôi đấy, thậm chí làm bồ, một cái hôn cũng không được nghe chưa? Nếu ông không giữ lời hứa, về Mỹ tôi sẽ mượn ông một cái tai vì ông có những hai cái, và nếu quá quắt, cái ông chỉ có một tôi cũng xin luôn. Tôi luôn thủ trong người cái kéo rất sắc. Ông rất biết tánh tôi rồi, nói là làm.


 Từ khi lấy Ánh Chi, Học được Ánh Chi đeo cho cái vòng “kim cô” nên luôn trong vòng phong tỏa của bà vợ gặp trong trại tỵ nạn ở Thái Lan.


 Michael Học ở Việt Nam tên là Mai Văn Học, gia đình giàu có, đang học trường cao đẳng âm nhạc khoa sáng tác năm thứ ba cùng với Vũ Hải thì nhà trường tuyển một số nghệ sĩ vào đoàn văn công đi phục vụ chiến trường đường Trường Sơn, Vũ Hải và một số bạn bè xung phong tình nguyện đi phục vụ thì Học viện cớ bệnh có giấy chứng nhận của bác sĩ đường hoàng và Học nói với bạn bè rằng “Thí tốt chứ không ai thí xe”. Bởi Học luôn dương dương tự đắc rằng mình có tài, Học hay nói với bạn bè “Thằng Vũ Hải sao so với tao được”. Câu nói của Học đã xúc phạm những người vào miền Nam chiến đấu. Các thày cô và bạn bè đánh giá Học là thằng hèn. Dần dần nhiều người xa lánh. Học bỏ học về với gia đình, một thời gian sau cưới vợ và xin vào đoàn văn công tỉnh.


 Học là người đàn ông “sát đàn bà”, rất dẻo mồm nịnh đầm. Phương châm của học “kiên trì ngồi câu” thế nào cá cũng đớp mồi. Chữ chung tình, chung thủy, trung thành với Học không có nghĩa lý gì, nhưng thề thốt rất giỏi “Anh suốt đời yêu em, chúng mình cùng hội cùng thuyền sống chết có nhau, vui cùng vui, chìm cùng chìm”. Hồi học ở Hà Nội, Học bắt bồ với Mai, cô ca sĩ nghiệp dư, tính tình lẳng lơ, rất mê Học đẹp trai, nhà giàu, chơi guitare mười ngón tay như làm xiếc trên phím đàn và những bản nhạc của Học sáng tác lả lơi, sướt mướt hợp với “gu” của Mai.


 Vợ Học là bác sĩ công tác ở bệnh viện tỉnh. Tuy đã có vợ nhưng Học vẫn hẹn hò với Mai. Thỉnh thoảng Học về Hà Nội đàn hát, đi chơi với Mai. Để hai người có thời gian ở lâu bên nhau, Học dàn dựng một kịch bản: Mai cùng học ở Nhạc viện về thanh nhạc- Ở Hà Nội lên tập những bài hát của Học sáng tác. Để Mai hát trên đài, Học sẽ nổi tiếng, vì Mai có người anh làm lãnh đạo ở đài.


 Trong khi vợ đi làm, hai người ở nhà tha hồ đàn đúm, hát chán rồi lên giường. Đi đêm mãi rồi cũng có ngày gặp ma. Một lần vợ quên ống nghe về nhà lấy thì bắt quả tang chuyện giường chiếu giữa hai người. Bà bác sĩ không làm rùm beng mà êm thấm đưa ra tòa ly dị.


 Người vợ thứ hai là dân buôn bán, rất thực dụng, khỏe mạnh, mê Học đẹp trai, phong độ và tưởng Học làm nghệ sĩ kiếm được nhiều tiền. Nhưng khi đã có với nhau một mặt con, Học dần lộ chân tướng: yêu mình hơn yêu vợ con, tiền kiếm được trước hết dành để chi tiêu cho mình. Thời kỳ kinh tế đất nước khó khăn nhưng Học phải bảo đảm phở, cafe sữa mỗi sáng, thuốc lá hút loại ngon. Theo Học, như thế mới sáng tác tốt được. Còn vợ con cơm độn khoai sắn, rau muống, muối vừng… mặc. Mỗi ngày cả chục lần đứng trước gương vuốt tóc, nắn lại ly quần, phủi áo, nghiêng nghiêng ngó ngó làm điệu bộ. Suốt ngày mơ mộng mây gió. Trông bộ đẹp mã nhưng thuộc loại đàn ông bất lực, thực chất chỉ là “con hổ giấy”, không hợp với người vợ khỏe mạnh lúc nào cũng bốc lửa, nên vợ chồng luôn xung đột. Cuối cùng phải chia tay, như người ta nói “Cái anh có tôi không cần, cái tôi cần anh không có”.


 Khi người vợ thứ hai bỏ. Học vào Sài Gòn, đã vượt biên ba lần, hai lần đầu bị bắt giam một thời gian rồi được tha. Lần thứ ba, năm 1985 mới chót lọt, được đưa về trại tỵ nạn ở Thái Lan. Trong thời gian ở trại, Học bắt bồ với Ánh Chi, người đàn bà cũng đã hai đời chồng, bỏ người chồng thứ hai, gửi đứa con trai 6 tuổi cho mẹ nuôi rồi vượt biên. Sau khi cả hai người đã được định cư ở Mỹ, họ lấy nhau. Mở shop làm “neo”, và làm tất cả những gì có thể kiếm tiền làm. Ánh Chi về Sài Gòn nhiều lần và đã đạo diễn trót lọt vụ Học làm chồng giả của Thanh Hằng.


13- XỨ NGƯỜI


Sau khi Hằng nhận được giấy bảo lãnh của Michael Học, nhân một chuyến ở Mỹ về Việt Nam, bà Đan Huệ đến thăm bà Năm, cô của Hằng vì mẹ bà Đan Huệ bạn rất thân với bà Năm. Sau khi mẹ mất, bà Đan Huệ coi bà Năm như mẹ. Hồi còn ở Việt Nam, bà Đan Huệ hay đi lại chăm sóc bà. Được dịp tốt, bà Năm đã ngỏ lời nhờ bà Đan Huệ giúp đỡ Hằng, và kể hoàn cảnh Hằng cho bà Đan Huệ nghe. Bà Đan Huệ rất thông cảm hoàn cảnh của Hằng. Rồi Hằng cùng chuyến bay với bà Đan Huệ qua Mỹ.


 Chồng bà Đan Huệ, ông Thống đã gần thất thập, trung tá không quân được qua Mỹ theo diện HO đợt đầu tiên. Trông ông phong độ, ăn nói, cử chỉ hào hoa. Ngoài tiền trợ cấp ông còn ký hợp đồng làm sổ sách cho một công ty trách nhiệm hữu hạn, nên kinh tế khá. Bà Đan Huệ làm nội trợ, thú vui của bà là đi chùa.


 Gia đình ông thường trú ở khu dân cư ngoại vi thành phố San Jose, California. Ông bà mua được căn nhà trả góp. Ngoài phòng khách, phòng ăn, nhà có bốn buồng, một cho ông bà một cho Bích Trâm, cô con gái thứ hai đang học năm thứ hai trường đại học Stanford, một cho vợ chồng cô con gái cả thỉnh thoảng mới về ở với bố me và một làm buồng khách, nay bố trí cho Hằng.


 Đi một chặng đường dài. Đến Mỹ sau những ngày nghỉ ngơi phục hồi lại sức. Vào một buổi sáng chủ nhật, bà Đan Huệ rủ Hằng đi chùa. Đây là ngôi chùa Đức Viên do bà con phật tử ở vùng San Jose đóng góp tiền xây dựng, rất khang trang. Ngoài những ngày đại lễ Phật đản, Vu lan là những ngày phật tử lên chùa đông đủ nhất. Còn hàng tuần vào ngày chủ nhật các phật tử lên chùa lễ Phật, giao lưu, học giáo lý, ăn chay. Chùa cũng là nơi mở lớp dạy tiếng Việt con cháu phật tử. Và là nơi tổ chức làm từ thiện…


 Hằng được bà Đan Huệ dẫn đi tham quan cảnh chùa và giới thiệu Hằng với bạn bè:


- Cô em tôi ở Việt Nam mới qua.


 Nhiều người ngắm nhìn Hằng khen: “Được cả dáng cả da. Đây mới đúng là Việt kiều”.


 Bạn bè phật tử lâu ngày gặp nhau chuỵên trò rất vui, tíu ta tíu rít. Rồi bà Đan Huệ đưa Hằng đến phòng giáo lý để nghe giảng về đạo phật. Sau đó hai người đi ăn trưa. Lần đầu tiên Hằng được ăn một bữa cơm chay ngon đến thế. Ở Sài Gòn Hằng cũng đôi lần đi ăn cơm chay song không thể bì được với ở đây, bởi vì các món ăn chay nấu tại chùa đều do các phật tử “đầu bếp cỡ trùm” làm mà bà Đan Huệ là một trong số đó, hơn nữa khác với nhà hàng là không tính toán thương mại, các phật tử làm với tấm lòng thành nơi cửa phật.


 Sau buổi đi chùa, nghe giáo lý, ăn chay, tình thân ái giữa các phật tử đã để lại trong lòng Hằng những ấn tượng vô cùng tốt đẹp. Rồi từ đó mỗi chủ nhật Hằng thường theo bà Đan Huệ đi chùa, vừa học, vừa giúp bà làm cơm chay và học tụng kinh, niệm phật.


 Rồi từ ngày ấy một sự thay đổi quan trọng với Hằng là “một niềm tin tâm linh”. Thức dậy vào 4 giờ sáng mỗi ngày, cùng ngồi với bà Đan Huệ tụng kinh, lần tràng hạt.


 Ông Thống lúc đầu còn ý tứ, dè dặt, thăm dò xem Hằng là người thế nào, qua một thời gian thấy Hằng là người tốt, cần sự giúp đỡ, ông đã giúp Hằng học tiếng Anh và lái ô tô. Chưa bao giờ ông giúp đỡ ai nhiệt tình và chân thành đến thế. Ông nói cho Hằng hiểu rằng ở Mỹ mà không biết tiếng Anh thì đồng nghĩa với câm, điếc và mù, bởi không nói được, không nghe được và không đọc được. Cũng như ở Mỹ mà không biết lái xe ô tô thì đồng nghĩa với không có chân, không thể đi đâu một mình được. Thường thứ bảy, chủ nhật ông tự lái xe đưa Hằng đi dạo phố, đi shopping, nói cho Hằng hiểu lối sống, phong tục, tập quán… ở Mỹ, nhất là luật giao thông, nhằm mục đích cho Hằng hòa nhập nhanh với cuộc sống ở Mỹ.


 Sau khi thống nhất với bà Đan Huệ, ông mua xe ô tô đời mới, còn cái xe cũ tặng Hằng, nhất cử lưỡng tiện.


 Nhà ông Thống có một khu vườn rộng vài trăm mét vuông, cỏ lúc nào cũng mượt mà xanh như cỏ sân gôn. Không có cỏ dại mọc um tùm, vì hàng tháng có thợ làm vườn đến cắt cỏ, tỉa cây, uốn cành, bón phân, quét dọn. Hàng ngày, vào giờ nhất định có tưới phun bằng đường ống áp lực nằm trên mặt đất ẩn dưới lớp cỏ.


Trong vườn trồng cam, táo, lê và những khóm hoa, về mùa quả, cam chín đỏ ối cả một góc vườn, táo, lê trĩu quả, trồng cây ra hoa kết trái chỉ để làm kiểng. Quả rụng mất công nhặt đổ vào thùng rác, rất ngọt nhưng không ai ăn. Nếu có ăn là thử cho vui, còn ăn thật thì ra cửa hàng mua, vì mua ở cửa hàng đã được kiểm dịch sâu bệnh và có bảo hiểm.


 Vườn đẹp thế mà gia đình ông Thống ít khi ra vườn ngồi chơi, ngắm cảnh, vì ai cũng bận tối ngày. Những ngày nghỉ thì lo đi mua sắm, lau rửa xe ô tô. Khi chưa đi làm Hằng hay ra ngồi ghế trong vườn ngắm cảnh tìm cảm hứng làm thơ và nhớ Việt Nam. Có lần để quên cả tập nhật ký và những bài thơ trên ghế ở ngoài vườn. Ông Thống nhận được đọc, hiểu được nỗi lòng, nhớ con, nhớ bạn bè, quê hương và nhất là nỗi niềm của Hằng qua những bức thư, bài thơ:


 


Ra đi


 


Em đã ra đi buổi chiều mưa


Buồn dòng nước chảy mái đò đưa


Đôi bờ tẻ ngắt màu xanh lá


Soi bóng duyên chi những rặng dừa.


 


Đứt dây rồi cánh diều đã rụng


Lưng trời tiếng sáo tắt đường tơ


Em như thuyền cạn nhìn sông nước


Thuận gió ra khơi tan ước mơ


 


Đã xa rồi bao mùa lá rụng


Đã mấy mùa mưa đất xói mòn


Xóa dấu chân xưa đường lối cũ


Chỉ nỗi cô đơn mãi héo hon.


 


 


Tàn tro bếp lạnh


 


Rơm em còn ủ lửa


Âm ỉ mối tình xưa


Xin ai đừng quạt gió


Thương bếp lạnh tàn tro.


 


Bức thư đầu tiên


 


San Jose ngày…


Mỹ Xuân yêu của mẹ.


Mẹ ước ao sau này con được vào học ở trường đại học Stanford ở tiểu bang California. Có lần cô Bích Trâm con bác Đan Hụê đưa mẹ đến tham quan trường. Từ San Jose đến trường chỉ hơn một giờ xe. Vào trong khu vực trường như vào một thành phố công viên. Trường lớp đều ẩn mình trong những vườn cây xanh mát, yên tĩnh, trong lành và rất nhiều hoa. Trường thành lập năm 1885, luôn nằm trong nhóm 10 trường nổi tiếng nhất nước Mỹ. Stanford là một “đại ca” ngồi cùng chiếu với Havard, MIT (Massachusette Institute of Technology). Điều đáng nói là trường có số giáo sư đoạt giải Nobel nhiều nhất nước Mỹ. Được vào học trường này là điều mơ ước của học sinh Mỹ.


 Mẹ mơ ước sau này khi con sang, thi đậu vào trường này, còn mẹ vừa đi làm, vừa đi học để lấy bằng đại học.


 Con hãy cố học cho giỏi nhé! Đừng quá ham chơi piano, chơi giải trí giúp cho học tập thôi.


 Ở Mỹ đến tuổi trưởng thành mà còn ăn bám cha mẹ, ỷ lại, dựa dẫm vào người khác là nhục lắm, nên người Mỹ khi hết tuổi vị thành niên là họ không muốn lệ thuộc vào gia đình, như con chim đã đủ lông cánh muốn bay cao, bay xa. Khi bước chân vào đại học, họ phấn đấu học tập rèn luyện rất nỗ lực để luôn khẳng định mình trước mọi người. Điều này con phải học tập lớp trẻ ở Mỹ nhé. Và còn điều nữa mẹ muốn nói với con. Hôm cô Bích Trâm đưa mẹ đến tham quan trường Stanford, mẹ nhận xét thanh niên sinh viên ở đây thật dễ mến. Khi mẹ và cô Trâm chụp hình cho nhau xong tự nhiên thấy một cô sinh viên đến nói đưa máy ảnh để cô ấy chụp cho hai người và còn dẫn mẹ, cô Trâm đến chụp ở vài nơi tiêu biểu nhất của trường. Chụp xong, cô ấy coi bộ mẹ và cô Trâm đói bụng, xem đồng hồ thấy đến giờ ăn trưa, cô ấy chỉ đường cho mẹ, cô Trâm đến nhà ăn của trường rất chu đáo và chúc ăn ngon miệng, mặc dù cô Bích Trâm đến trường như hổ về rừng. Mẹ chưa kịp nói cám ơn cô ấy đã trượt pa-tin lướt trên đường dưới bóng cây mát của nhà trường. Khi mẹ mới sang Mỹ đi siêu thị với bà Đan Huệ, vì mải xem hàng hai người lạc nhau, mỗi người ra một cửa. Ở ngoài siêu thị mẹ hớt hải đi tìm, thì có một thanh niên đến hỏi, biết mẹ lạc người nhà, cậu ấy hỏi địa chỉ nhà rồi dẫn mẹ đến bến xe bus, dặn đi dặn lại xe đỗ lần thứ 6 thì xuống, rồi đi hơn 100 m là tới nhà.


 Hai mẩu chuyện mẹ kể rất bình thường phải không con? Không đâu, đó thể hiện sự chia sẻ, là hành vi văn minh, văn hóa đấy. Khi cô sinh viên thấy hai người chụp hình cho nhau thì cô ấy nghĩ ngay đến việc chụp cho hai người, và khi đến giờ ăn trưa cô ấy nghĩ ngay đến hai người đói bụng nên chỉ đến nhà ăn. Cậu thanh niên dẫn mẹ ra bến xe bus họ đều làm một cách tự giác. Cô sinh viên và cậu thanh niên đã lưu lại trong lòng mẹ một ấn tượng rất đẹp. Họ đều ở lứa tuổi như con, mẹ mong con cũng làm được những điều tốt lành. Trước khi làm được những điều lớn lao hãy làm những việc nhỏ nhặt. Muốn vác được con bò hãy tập vác nó từ thuở còn là con bê.


 Hôm trước mail cho mẹ, con có hỏi người Mỹ có tốt không? Có phân biệt chủng tộc không? Mẹ nghĩ nhân dân ở nước nào cũng tốt cả, nhân dân Mỹ đã xuống đường đấu tranh phản đối nhà cầm quyền Mỹ tiến hành chiến tranh, thậm chí hy sinh cả tính mạng để ủng hộ nhân dân ta. Còn những ông lớn – nhà cầm quyền thì ở nước nào cũng có người tốt, người xấu. Tốt thì họ mang bình yên, hạnh phúc cho dân. Xấu thì gây đánh nhau, chiến tranh đổ máu. Còn người Mỹ có đối xử phân biệt chủng tộc không, mẹ nghĩ rằng không vì nước Mỹ là hợp chủng quốc đủ mọi sắc tôc khắp năm châu. Nước Mỹ vẫn thường xuyên nhận người từ các nước trên thế giới đến nhập cư. Trong đó có Việt Nam. Và ai có tài đức thì được trọng dụng, kể cả vào cấp lãnh đạo Nhà nước mà không phân biệt màu da. Nên nước Mỹ tìm được nhiều nhân tài làm cho nước giàu mạnh. Nước Mỹ đa sắc tộc, tính cộng đồng của mỗi sắc tộc rất cao. Bà Đan Huệ nói khu dân cư ở Mỹ hình thành một cách rất tự nhiên, như ở San Jose có các khu của người Mỹ trắng, Mỹ gốc Việt, Mỹ gốc Hoa… Một khu dân cư nào đó nếu người sắc tộc này đến ở ngày thêm đông, thì người sắc tộc kia ra đi ngày một vắng, bởi mỗi cộng đồng sắc tộc có một bản sắc văn hóa riêng, lối sống, phong tục tập quán riêng. Như ở San Francisco có phố Tàu, đến đó cảm thấy như đang ở Trung Quốc, hay đến Little Sài Gòn cảm thấy như đang ở Sài Gòn.


 Người Mỹ không kỳ thị chủng tôc nhưng kỳ thị những người thiếu văn minh. Đó là điều mà những người văn minh trên thế giới đều như vậy. Ở Mỹ sợ nhất là bị đánh giá là thiếu văn minh như gian lận, lười biếng, phạm pháp thì bất kể là ai da trắng, nâu, đen hay vàng đều bị đối xử phân biệt. Còn một loại kém văn minh là ứng xử thiếu văn hóa, nói bô bô trên tàu xe, chỗ đông người, mọi người đang buồn thì cười hô hố và khi mọi người đang rất vui thì mình có bộ mặt đưa đám. Những hành vi ấy không phạm luật, nhưng thiếu văn hóa vì không có sự chia sẻ, tôn trọng. Mẹ phải nói những điều ABC này, con vui lòng nghe nhé!


 Có khó khăn gì cứ đến bác Hoàng, cô Hiền Thư, Tố Hạnh nhờ giúp đỡ và tư vấn các vấn đề trong cuộc sống. Luôn nhớ tới thăm bà Năm. Con phải giữ gìn sức khỏe. Muốn ăn gì con nói bà Cài nấu cho.


Mẹ hôn con.


Bye! Bye!


Món ăn Việt Nam ở Mỹ


 


 San Jose ngày …


 Mỹ Xuân yêu mến!


 Thư trước con lo lắng cho mẹ, ăn uống ở Mỹ không hợp ảnh hưởng tới sức khỏe. Điều này con khỏi lo. Đúng là nếu ăn các món ăn chế biến theo kiểu Mỹ thì không hợp. Do nếp sống công nghiệp, họ chế biến đơn giản, nhiều chất béo, nặng về tính toán theo calo, sao ăn cho nhanh, cho bổ, tiết kiệm thời gian. Mình ăn thì ngán liền, không hợp.


 Người mình ở Mỹ đều ăn các món ăn nấu theo cách Việt Nam. Vào nhà người Việt Nam biết ngay do hương vị xào nấu của món ăn tẩm ướp ở trong bếp.


 Có chợ Việt Nam hàng hóa từ các nước Đài Loan, Thái Lan, Trung Quốc bán đủ thứ mà ở Việt Nam có, mà còn tươi ngon hơn ở chợ Việt Nam và rất an tâm về an toàn thực phẩm. Rau đủ loại rau muống, măng, giá, mướp xanh, mướp đắng, thì là, tía tô… Nước mắm đủ loại, mắm tôm, ma gi, xì dầu, tương. Thịt đủ loại, thậm chí muốn ăn lòng lợn cũng có. Bánh cuốn Thanh Trì, xôi vò chè đường và nhất là phở. Về ẩm thực mà nói thì phở là “quốc hồn quốc túy” là món ăn độc đáo của dân Việt Nam, nên ở đâu có cộng đồng người Việt Nam thì nơi ấy có phở. Hồi mới sang, vợ chồng bà Đan Huệ hay dẫn mẹ đi ăn ở tiệm phở Hòa, tọa lạc ở một địa điểm rộng rãi, rợp bóng cây thoáng mát có sân đỗ được vài chục cái ô tô. Ở Mỹ, muốn mở nhà hàng thì điều kiện đầu tiên phải bảo đảm là chỗ để xe cho khách, nếu không thì không được cấp giấy phép.


 Lần đầu đến tiệm Hòa ăn phở bà Đan Huệ hỏi mẹ:


- Em thấy thế nào so với Sài Gòn?


 Mẹ trả lời:


- Ngon hơn ở Việt Nam.


 Ông Thống nhìn mẹ nói:


- Em nói thế không sợ mất lập trường à?


 Mẹ trả lời:


- Mỹ làm gì có phở, em khen phở Việt Nam ở Mỹ ngon rất lập trường phải không? Thịt bò rất ngon, nước lèo có nhiều xương nên ngọt tự nhiên bởi không cho bột ngọt. thêm nữa chanh, ớt, rau thơm rất chuẩn. Chỗ ngồi rộng rãi thoáng mát, sạch đẹp. Môi trường văn hóa tốt lành càng làm cho phở ngon hơn. Ngon hay không còn tùy thuộc kỹ thuật, tâm hồn của người nấu, chắc chắn phở ở nhà quê không ngon bằng Hà Nội, Sài Gòn. Trên thế giới này ở đâu có cộng đồng người Việt Nam là có phở. Ở Paris, ở Moscow, ở Sidney… điều có phở và rất ngon. Chúng ta rất hãnh diện vì Việt Nam là quê hương của phở.


 Cũng như bây giờ có người nói ăn món Huế ở Sài Gòn ngon hơn ở Huế, bởi những bà “quí tộc” sành ăn và nấu giỏi đã vô Sài Gòn.


Hôn con nhiều cái


Mẹ


Nền văn minh ô tô


San Jose ngày


Anh Hoàng kính mến!


 Em đã biết lái xe và có cả ô tô nữa “sài của chùa”- người ta cho, nhưng chạy còn ngon lành lắm. Ở Mỹ mà không có ô tô đồng nghĩa với không có chân, nên thường mỗi người có một ô tô. Ra đường ô tô như mắc cửi. Người ta nói đó là nền văn minh ô tô. Theo em có ba yếu tố để có nền văn minh ô tô là hệ thống kỹ thuật hạ tầng giao thông, cầu đường rất phát triển, luật lệ giao thông rất nghiêm, ý thức văn minh người tham gia giao thông rất cao. Mỗi khi ngồi vào xe người ta nhắc nhau “Seat belt” – cài dây an toàn chưa?


(còn tiếp)


Nguồn: Hãy trả lại tình yêu. Tiểu thuyết của Phạm Thanh Quang. NXB Văn học, 7-2010.


www.trieuxuan.info


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cõi mê - Triệu Xuân 25.03.2020
Giấy trắng - Triệu Xuân 25.03.2020
Anh em nhà Karamazov - FYODOR Mikhailovich Dostoyevsky 16.03.2020
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 15.03.2020
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 15.03.2020
Đêm Sài Gòn không ngủ - Trầm Hương 10.03.2020
Trong cơn lốc xoáy - Trầm Hương 10.03.2020
Ông cố vấn - Hữu Mai 26.02.2020
Đẻ sách - Đỗ Quyên 15.02.2020
Hòn đất - Anh Đức 13.02.2020
xem thêm »