tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Tiểu thuyết
03.09.2010
Phạm Thanh Quang
Hãy trả lại tình yêu

Trở lại trường Chu Văn An, Thu học tiếp để thi lấy bằng tú tài toàn phần và làm nhiệm vụ của tổ chức giao. Nhớ lời anh Thành nói “Thế mạnh của thanh niên, học sinh – sinh viên là mang tiếng đàn tiếng hát khơi dậy lòng yêu nước của mọi người”. Tuy sống trong lòng địch, ngoài những bài hát và những vở kịch lịch sử yêu nước chống quân ngoại xâm như: Bạch Đằng giang, Nửa đêm truyền hịch, Tiếng trống Mê Linh, Hận Phi Khanh không bị cấm ra, học sinh – sinh viên còn truyền nhau hát những bài của kháng chiến có sửa lại lời một chút như: Trường ca sông Lô sửa là “Trường ca sông Ô”, Tiếng hát quay tơ thành “Tiếng hát đợi chờ”.


 Thu nhanh chóng kết bạn với những người có khả năng văn nghệ, Tô Văn Thống thổi sáo, Ngô Thành Ngữ chơi guitare. Và nói với Ngữ kéo cả em gái Bích Sang, hoa khôi và là giọng ca quyến rũ, học trường Trưng Vương và em trai Ngô Minh Hoàng mới vào học Chu Văn An đệ nhất niên. Rồi phát triển thêm Trương Văn Hạp, Nguyễn Hữu Hồ trường Albert Sarraut có giọng hát opera. Phạm Lê Hương cùng học một lớp với Bích Sang cùng một số bạn bè khác.


Tiếng violon trong Hỏa Lò


Con sói không bao giờ nhận nó là kẻ hung dữ, chính quyền thực dân Pháp cũng vậy, luôn giả ân giả nghĩa, cũng “tự do dân chủ” cũng thương người nghèo. Thừa cơ này, Thu bàn với Ngữ, Thống xin phép nhà chức trách thành lập hội “Tri âm” có tôn chỉ mục đích đường hoàng. Hội đi vận động những người hảo tâm ủng hộ giúp đỡ người nghèo, những nạn nhân chiến tranh và vận động những nhà trí thức, nhân sĩ, các linh mục, hòa thượng cùng tham gia.


 Theo anh Thành chỉ đạo, hội “Tri âm” tổ chức úy lạo nạn nhân chiến tranh vào dịp Tết Nguyên đán, mời các vị linh mục, hòa thượng, nhân sĩ tham gia nhằm mục đích hạn chế địch đối xử dã man với chiến sĩ, đồng bào bị chúng bắt giam. Tại Hà Nội có hai nơi quan trọng là trại giam Nhà Tiền và nhà tù Hỏa Lò.


 Đến trại giam Nhà Tiền, sau khi thăm hỏi tặng quà nạn nhân xong. Trong khuôn viên nhỏ của trại giam có hàng rào dây thép gai bọc chung quanh, Thống thổi sáo bài dân ca quan họ Bắc Ninh Qua cầu gió bay, rồi cùng với Thống và Ngữ hợp tấu bài Bạch Đằng giang, Bích Sang và Lê Hương song ca bài Trống cơm. Có tù nhân đề nghị hát bài Chiến sĩ Việt Nam. Tiếng hát lại vang lên: “Bao chiến sĩ anh hùng lạnh lùng vung gươm ra sa trường” khi tiếng hát vừa dứt là tiếng vỗ tay hưởng ứng, họ lại yêu cầu hát lại, những tù nhân theo tiếng nhạc hát theo, bên kia hàng rào dây thép gai, một người lính da đen cũng nhún nhẩy đung đưa người theo tiếng nhạc.


 Hôm sau đến nhà tù Hỏa Lò, họ phải qua phòng giám thị để bọn nhân viên nhận diện, đối chứng các giấy tờ tùy thân và xem có trong danh sách được vào thăm không. Khi vào các phòng giam. Tên giám thị căn dặn nội quy của nhà tù là không ai được nói chuyện với “phạm nhân”. Thu mang đàn violon phải để lại hộp đàn, cả guitare của Ngữ cũng phải để lại. Họ chia thành từng nhóm nhỏ vào thăm các phòng giam. Riêng Thu được mang cây violon gọn nhẹ vào thăm nơi giam “tử tù” và chỉ được chơi một bài rồi ra. Thu mang violon theo tên giám thị, đứng trước một tấm cửa sắt màu đen, tên giám thị tra chìa khóa vào ổ mở khóa cho Thu vào rồi khóa lại. Dưới ánh đèn mờ mờ, Thu nhìn thấy một người đàn ông rất khó đoán tuổi ngồi ở góc phòng, Anh nhìn Thu xa lạ, còn Thu lúng túng đứng im, người “tử tù” nói:


- Tao không cần trò hề giả ân, giả nghĩa của chúng mày, trước khi chết tao không cần linh mục đến rửa tội, không cần ăn bữa cơm ngon, nghe chưa?


 Thu im lặng nghe xong nhỏ nhẹ nói:


- Chúng tôi là người của phong trào học sinh – sinh viên vào thăm, mang tiếng đàn lời ca phục vụ người mình bị giam cầm.


 Người “tử tù” thấy Thu nói năng nhẹ nhàng, im lặng một lúc rồi nói:


- Có dám kéo bài Tiến quân ca không?


 Một yêu cầu cũng là thách thức thật bất ngờ đối với Thu, không chần chừ, Thu đặt violon lên vai, áp má vào đàn, tay đưa cây vĩ lên và kéo bài Tiến quân ca. Đến lượt người “tử tù” bất ngờ, ngạc nhiên và như ân hận những lời vừa nói với Thu, anh ta hỏi:


- Đồng chí học trường nào?


 Bất chấp nội quy của nhà tù và lời căn dặn của tên giám thị, Thu trả lời: - Chu Văn An!


Đêm văn nghệ ở Nhà hát Lớn


Bắt mạch được chính quyền của Pháp muốn chứng tỏ nơi chúng chiếm đóng, việc trị an đã ổn định. Phong trào học sinh sinh viên xin phép chúng cho tổ chức “Đêm văn nghệ” ở Nhà hát Lớn. Chúng đồng ý ngay. Đêm văn nghệ ấy do trường Chu Văn An, Albert Sarraut, và trường nữ sinh Trưng Vương, mà nòng cốt là “Hội tri âm” đứng ra tổ chức. Trong đêm diễn, Thu kéo violon Cây trúc xinh, Thống thổi sáo bài Thiên Thai, Ngữ đệm guitare cho Bích Sang hát bài Qua cầu gió bay, và đồng ca bài Bạch Đằng Giang. Hoạt cảnh Hội nghị Diên Hồng do trường A. Sarraut diễn. Kịch thơ Hận Phi Khanh do trường Chu Văn An diễn. Theo sự chỉ đạo của ban lãnh đạo phong trào, màn đồng ca Trường ca Sông Lô của nhạc sĩ Văn Cao được “lái tên” là bài ca “Sông Ô” và bài Trường chinh ca của nhạc sĩ Lương Ngọc Trác được đổi tên là “Khúc nhạc đường xa” đã sửa lời đôi chút để qua mặt bọn kiểm duyệt. Màn đồng ca vừa chấm dứt thì đèn trong nhà hát phụt tắt. Hoàng được giao nhiệm vụ ngắt cầu dao điện và rải truyền đơn kêu gọi lòng yêu nước, phản đối chiến tranh từ gác xuống.


16 – CHUYẾN BAY ĐỊNH MỆNH


Sau khi gây cuộc chiến tranh đánh chiếm được những thành phố lớn của Việt Nam. Bọn thực dân xâm lược Pháp không thực hiện được mưu đồ đánh nhanh thắng nhanh thôn tính nước ta, chúng tính đến chiến tranh phải kéo dài. Buộc phải dùng chiến lược “Lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt”. Chúng nghĩ ngay tới con bài Bảo Đại, nên lập chính phủ bù nhìn, “Cựu Hoàng đế Bảo Đại” tuyên bố thành lập quân đội quốc gia và ra lệnh tổng động viên. Nên xảy ra chuyện bắt lính.


 Tất cả những người hoạt động tích cực trong phong trào học sinh, sinh viên yêu nước đều có trong sổ “đen” của bọn mật thám phòng nhì của Pháp, nên chiến dịch bắt lính của chúng trước hết nhằm vào những “phần tử” này.


 Chính quyền tay sai mở ra ba trường võ bị:


 Một trường võ bị ở Đà Lạt tuyển những viên chức trẻ và những học sinh tự nguyện để đào tạo thành sĩ quan chuyên nghiệp.


 Hai trường gọi là sĩ quan trừ bị, đóng ở Nam Định ở miền Bắc và Thủ Đức ở miền Nam, tuyển thanh niên học sinh, sinh viên với danh nghĩa chỉ làm nghĩa vụ sĩ quan một thời gian, nhưng thực tế là bắt họ dấn thân vào con đường binh nghiệp để phục vụ chiến tranh cho chúng.


 Đầu niên học 1950 – 1951, vào một buổi sáng sớm, tiếng rao của những người bán báo đã vang lên khắp các đường phố báo một tin quan trọng: “Lệnh động viên của chính quyền yêu cầu tất cả các nam thanh niên có trình độ từ bậc tú tài trở lên phải đi trình diện ở địa điểm quy định trong vòng 48 giờ. Nếu sau 48 giờ, những người đã có tên trong danh sách không có mặt thì sẽ bị truy nã”.


 Những học sinh, sinh viên trong diện huy động được đưa xuống thành phố Nam Định nhập trường sĩ quan trừ bị.


 Tết Nguyên đán năm 1951, học viên trường sĩ quan Nam Định được về nhà ăn tết và sau tết, ngày mồng 5 âm lịch các học viên bắt buộc phải có mặt tại trường. Ăn tết xong, một số tập trung đến trường theo đúng quy định. Nhưng có 31 học viên, trong đó có Thống và Ngữ bất tuân lệnh, không xuống trường nên có lệnh bắt khẩn cấp 31 tên “cứng cổ” này.


 Vào lúc giữa đêm mồng 6 Tết, gọi là “Sự kiện đêm mồng 6 Tết” khi còn đang ngủ trên giường, mở mắt ra Thống đã thấy cảnh sát và lính nhăm nhăm chĩa súng vào mình, Thống chống cự hỏi:


- Tại sao các ông bắt người trái phép?


 Chúng nói:


Không lý sự lằng nhằng. Không muốn chết thì im mồm. Đi!


 Thống bị lôi đi ngay trong đêm. Cùng bị bắt trong đêm với Thống còn 24 người nữa. Còn 6 người trong đó có Ngữ trốn thoát.


 Thu được anh Thành chỉ đạo vẫn tập trung về trường Nam Định đúng hẹn để giữ vững tinh thần và vận động anh em lòng yêu nước theo tình hình mới.


 Ngay đêm hôm mồng sáu Tết, hai mươi nhăm học viên sĩ quan Nam Định bị bắt và coi là những phần tử chống đối, có ý định đào ngũ bị đưa về sở mật thám nhốt vào xà lim. Sáng hôm sau, gia đình họ không yên tâm, băt đầu đi tìm và thông tin cho báo chí về việc chính quyền đàn áp các học sinh- sinh viên đã bị bắt lính. Sợ ảnh hưởng tới các gia đình khác và các học viên đang ở Nam Định, theo lệnh Pháp, phó thủ tướng bù nhìn Nguyễn Vân Tâm đành gặp đại diện các gia đình này, hứa sẽ thu xếp sự việc ổn thỏa. Mấy hôm sau, các học viên được chuyển từ sở mật thám sang một điểm giam giữ của quân đội tại trại Quang Trung rồi đưa vào Sài Gòn để cách ly với các học viên ở trường Nam Định.


 Một buổi sáng sớm, mọi người được lệnh tập trung tại sân trại Quang Trung. Ba xe camion phủ vải bạt kín mít vừa dừng lại thì một tiểu đội quân cảnh Pháp cùng ba con chó béc-giê lớn như những con bê, thè lưỡi đỏ như lửa như muốn ăn sống nuốt tươi những chàng trai Hà Nội nhảy xuống xe đứng thành vòng tròn quây “những phần tử chống đối” vào giữa, yêu cầu họ xếp hàng để dồn họ lên ba chiếc camion đã nổ máy sẵn sàng đưa họ lên đường. Ngồi trên xe, đối diện với con béc-giê, Thống vừa quay người nói thầm với Cảnh ngồi bên cạnh:


- Lại phải về trường Nam Định rồi. Có gì đâu mà họ làm ra vẻ quan trọng thế…


 Nói chưa dứt thì tên quân cảnh Pháp đã quát:


- Silence! (Im!)


 Xe chạy chưa được nửa tiếng đã ngừng, hai mươi lăm người theo nhau xuống xe và không khỏi ngạc nhiên khi nhìn thấy ba chiếc máy bay Dakota đang khởi động máy trên đường băng và họ đoán đây là sân bay quân sự Bạch Mai. Bọn quân cảnh cùng lũ chó nhanh chóng lùa họ lên máy bay và chỉ ít phút sau ba chiếc máy bay đã lần lượt cất cánh. Rõ ràng nhà cầm quyền đang muốn ra oai với họ. Họ sẽ bị đưa tới đâu? Không ai biết. Không khí căng thẳng diễn ra suốt chuyến bay, nên khi máy bay bay qua vùng biển đã có không ít người nghĩ thầm: “Liệu mình có bị bọn quân cảnh mũi lõ kia quẳng xuống biển không?”. Nhưng rồi sự việc đó không xảy ra. Sau hơn ba giờ bay, ba chiếc máy bay hạ cánh xuống một sân bay để chuyển giao “những người khách đặc biệt này” cho những chiếc camion nhà binh, thùng xe bịt kín như những chiếc xe ban sáng. Khi xe chuyển bánh, nhiều người tự hỏi: “Đây là đâu, đất liền hay hải đảo, trong nước hay ngoài nước?”. Thống ghé mắt nhìn qua lỗ thủng của tấm vải bạt nhìn thấy những bảng hiệu bên đường phố đề bằng tiếng Việt, khẽ nói với bạn ngồi bên cạnh: “vẫn ở nước mình”.


Sài Gòn đón những chàng trai Hà Nội tại bốt Ca-ti-na, ngay trung tâm thành phố, là điểm tạm giam những người bị chính quyền bắt giữ, trước khi chuyển họ sang trại giam Chí Hòa. Được ở chung một phòng lớn, họ tranh nhau bàn cãi về chuyến đi đặc biệt vừa qua. Bọn Pháp có vẻ vừa muốn đe dọa vừa muốn che dấu một điều gì đó. Trong lịch sử xâm lược của bọn chúng trên đất nước này, chưa bao giờ có sự chuyển tù vừa long trọng vừa kín đáo bằng cả một phi đội máy bay như thế. Cảnh nói


- Ôi dào! Ra tòa án binh là cùng chứ gì.


 Thống bẻ lại:


- Vấn đề là tại sao họ phải làm to chuyện thế với chúng ta?


 Đúng là một câu hỏi khó mà những chàng trai vừa rời ghế nhà trường chưa thể tìm thấy ngay lời giải đáp. Cuộc chiến tranh ở Việt Nam đã cho bọn xâm lược thấy rõ không thể kết thúc nhanh như chúng dự kiến. Bởi vậy, chúng muốn họ thay thế chúng ở ngoài chiến trường để thay màu da cho các xác chết… Kế hoạch đang cần thực hiện gấp rút, các trường sĩ quan lần đầu tiên được thành lập để đào tạo hàng trăm sĩ quan không thể gặp trở ngại. Cho nên việc hơn ba chục học viên từ chối không xuống trường đối với chúng trong lúc này không thể coi là chuyện nhỏ. Tuy nhiên, vì còn tận dụng được số người này nên viên sĩ quan Pháp chỉ huy trường sĩ quan Nam Định đã đồng ý với bên dân sự thi hành chính sách “đe dọa và cách ly, chia để trị” đối với những người có ý gây khó khăn cho họ.


 Một buổi chiều, viên giám thị trại giam đích thân xuống phòng giam thông báo với vẻ giọng có chút nể nang:


- Các anh chuẩn bị quần áo chỉnh tề. Lát nữa có xe tới đón.


 Trung hỏi lại, giọng châm biếm:


- Quần áo có mỗi một bộ từ hôm được đón vô đây, sao chỉnh tề được. Lại đưa chúng tôi đi đâu vậy?


 Viên giám thị nhìn Trung, mắt gườm gườm trả lời:


- Lát nữa sẽ biết.


 Ở Sài Gòn chắc chưa bao giờ có những chiếc xe chở người từ nhà tù thẳng tới dinh Gia Long, nơi làm việc của các quan chức cấp cao. Mãi tới khi xuống xe, hai nhăm tù nhân mớí được biết họ sắp được phó thủ tướng Nguyễn Văn Tâm tiếp kiến. Cuộc gặp mặt diễn ra ở đại sảnh trong một thời gian ngắn, vì mọi người chỉ có việc đứng im để nghe ông ta dọa nạt, đại ý như sau:


- Thừa lệnh của thủ tướng Trần Văn Hữu, tôi vừa bay từ Hà Nội vào đây để nói với các anh rằng các anh chỉ có hai con đường hoặc là các anh trở lại nhà tù hoặc đi học tiếp tại trường sĩ quan trừ bị Thủ Đức. Có vậy thôi, có ai có ý kiến gì khác không?


 Trên đường về, phần đông những chàng trai đều tự an ủi: “Thôi, thời thế thế thời phải thế”. Tình thế lúc này không thể khác.


 Những ngày tiếp theo ở quân trường Thủ Đức, họ tiếp tục bị giám sát, phải ở chung trong một mái nhà tranh, tách biệt với các học viên khác. Henry, viên đại úy Pháp chuyên theo dõi việc tập luyện của họ đã mỉa mai đặt thêm một tên cho trung đội thứ 12 của họ là “trung đội đỏ- Section rouge”. Hình như màu đỏ trong thời gian này là màu rất kỵ đối với chính quyền và quân đội Pháp.


 Sau lễ tốt nghiệp, tất cả “trung đội đỏ” bị điều lên Tây Nguyên. Đây vẫn là biện pháp cách ly những chàng trai bướng bỉnh của Hà Nội với các học viên được ở lại đồng bằng. Vùng đất đỏ Tây Nguyên năm 1952 còn được mệnh danh là “Hoàng triều cương thổ” tức lãnh địa của nhà vua. Nói cho rõ, là vùng đất được thực dân Pháp công nhận là của riêng Bảo Đại, có quân đội riêng toàn người dân tộc, nhưng dưới sự chỉ huy của các sĩ quan Pháp. Xưa, vị vua bù nhìn này thường lên đây nghỉ ngơi, hoặc cưỡi voi đi săn trong những khu rừng còn nhiều hươi, nai, hổ, báo.


 Từ ngày lên Tây Nguyên, những thiếu úy mới ra lò gốc Hà Nội gặp rất nhiều khó khăn, nhất là sau khi bị chia về các đơn vị người dân tộc, có rất ít người biết tiếng Kinh nên việc giao tiếp rất khó khăn, nỗi nhớ nhà và nhớ Hà Nội luôn ám ảnh họ. Ở ngay trên đất nước mình mà họ có cảm tưởng như mình đang ở châu Phi! Họ chỉ tìm được niềm an ủi khi gặp nhau và cùng nhau đi săn. Săn bắn là thú tiêu khiển độc nhất ở miền đất đỏ này. Chẳng bao lâu, Thống đã được các bạn bè suy tôn là tay thiện xạ. Tìm được một thú vui mới, họ rất phấn khởi và tự an ủi: “Trong cái không may hóa ra cũng có cái may”. Nói như đồng bào ở miền Nam là “Trong cái xui có cái hên”. Vì Tây Nguyên những ngày này rất bình yên. Hình như cuộc giao tranh đang diễn ra trên đất nước này đã quên không ghi tên Tây Nguyên vào sổ chiến. Bị bắt buộc phải mặc áo lính mà lại được ở nơi không có bom đạn thì còn mong gì hơn nữa. Rất tiếc đó lại là một nhận định hết sức sai lầm. Vì không có điều kiện theo dõi tin tức cuộc chiến tranh đang diễn ra ở miền Bắc, không ai trong số họ được nghe tới Điện Biên Phủ. Thời gian này, quân kháng chiến và quân Pháp đang chuẩn bị cho một cuộc đánh lớn. Để ngăn không cho quân Pháp sử dụng các lực lượng ở miền Nam chi viện cho chiến trường miền Bắc, quân kháng chiến chủ trương khuấy động ở khắp nơi, dù chỉ là những hoạt động lẻ tẻ. Chính vì vậy mà trong một cuộc đi săn do Thống tổ chức, cả bọn Trung, Cảnh, Hoành đã lọt lưới phục kích của Việt Minh. Trong số họ không có Thống vì tới giờ lên đường, Thống ở lại vì bị đau bụng. Đúng là may rủi, hên xui có số cả!


 Sau mấy lần di chuyển, ba người bị điều về trại tù binh Âu Phi ở Quảng Ngãi. Cảnh lạc quan nói:


- Thế này là may rồi. Khỏi lo ở rừng, sốt rét!


 Trại tù binh Âu Phi Liên Khu V thật ra chỉ là một căn nhà rộng, bằng tranh, tre, nứa, lá nằm ẩn mình dưới bóng tre xanh không cách nhà dân xa lắm. Khi nhóm Cảnh, Trung, Hoành tới trại thì trại đã có vài chục tù binh đủ các quốc tịch: Pháp, Đức, Ý, Tây Ban Nha, An-giê-ri, Ma-rốc, Sê-nê-gan. Ngoài tiếng nói của nước họ, tất cả đều nói được tiếng Pháp. Có năm viên sĩ quan Pháp từ cấp bậc đại úy trở xuống là sĩ quan kỳ cựu trong quân đội Pháp. Những người còn lại đều lá lính đánh thuê. Sau chiến tranh, các nước ở châu Âu chưa phục hồi kinh tế, đời sống còn khó khăn... Thực dân Pháp đã quảng cáo trên báo chí thu nhận những người thất nghiệp ở các nước lân cận và tại một số nước Châu Phi vào đội quân lê dương để đi thu hồi thuộc địa với mức lương hấp dẫn. Rồi đưa họ sang Việt Nam. Nhiều người cứ ngỡ tìm được một công việc ngon ăn và rất bất ngờ khi bị đẩy ra chiến trường hoặc bị nhốt trong các đồn bốt đầy bất an.


 Số sĩ quan Pháp mong chờ một ngày nào đó sẽ có lệnh đình chiến để hai bên trao đổi tù binh. Họ để nhiều thời gian ngồi tính nhẩm số tiền lương hy vọng sẽ được truy lĩnh sau này. Có lần Cảnh hỏi tay đại úy Michel:


- Anh mất thời giờ tính toán thế để làm gì?


 Hắn cười buồn và trả lời:


- Để lôi con vợ về với mình. Không có món tiền đó, chắc nó ở luôn với thằng người tình của nó mất.


 Tên đại úy nhiều lúc thẫn thờ vì “cơn bệnh tình” tái phát. Trước khi bị bắt làm tù binh, mẹ hắn đã biên thư báo vợ hắn đã đi lấy chồng với lý do rất đơn giản: “Anh ấy đi đánh nhau ở xứ Đông Dương xa tít mù, biết có còn sống không mà chờ!”. Vậy mà khi tiễn hắn xuống tàu ở cảng Marseille, cô ta đã thề: “Em không bao giờ phụ bạc tình yêu của anh. Dù sông cạn núi mòn”.


(còn tiếp)


Nguồn: Hãy trả lại tình yêu. Tiểu thuyết của Phạm Thanh Quang. NXB Văn học, 7-2010.


www.trieuxuan.info


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cõi mê - Triệu Xuân 25.03.2020
Giấy trắng - Triệu Xuân 25.03.2020
Anh em nhà Karamazov - FYODOR Mikhailovich Dostoyevsky 16.03.2020
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 15.03.2020
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 15.03.2020
Đêm Sài Gòn không ngủ - Trầm Hương 10.03.2020
Trong cơn lốc xoáy - Trầm Hương 10.03.2020
Ông cố vấn - Hữu Mai 26.02.2020
Đẻ sách - Đỗ Quyên 15.02.2020
Hòn đất - Anh Đức 13.02.2020
xem thêm »