Ở nhà bác sĩ Phượng Tường ba tháng, Hằng được bà chăm sóc cả về thể chất lẫn tinh thần. Bà lo cho Hằng từng bữa ăn, từng viên thuốc. Sáng hai người đi tắm biển, chiều đi dạo bờ biển. Sức khỏe của Hằng dần hồi phục. Ăn ngon, ngủ ngon, lấy lại thăng bằng tâm lý. Hằng lại thấy hửng sáng ở phía chân trời. Tương lai đang cựa mình.
Hai người trở nên bạn tri kỷ. Hằng nhận bà Phượng Tường là chị kết nghĩa.
Bà Phượng Tường nói với Hằng:
- Chị em mình hãy cam kết phải sống cho tốt phần cuộc đời còn lại. Hạnh phúc do chính chúng ta làm nên chứ chẳng có ai cho cả. Bởi vậy chúng ta phải vượt qua và thắng chính mình. Cuộc đời phải chấp nhận chịu áp lực từ nhiều phía. Nào là đố kỵ, thách thức, nào ghen ghét khi mình thành đạt, được một tấm huy chương thì có thêm hàng trăm “kẻ thù”, được khen ngợi chúc mừng cũng là áp lưc. Áp lực chủ yếu do chính mình gây ra bởi mình muốn sống tốt đẹp phải có ước mơ, hoài bão và phấn đấu trở thành hiện thực, và ước mơ này đạt được lại có ước mơ khác cao hơn ở phía trước, chinh phục được đỉnh núi này lại xuất hiện ở phía trước đỉnh núi cao hơn thách thức. Phấn đấu bao giờ cũng cao hơn sức mình, càng phấn đấu nhiều công sức, bước được lên đài càng vinh quang. Ta phải luyện cho mình thần kinh thật tốt để giải tỏa những áp lực, luôn giữ được cân bằng cả thể chất lẫn tinh thần. Tìm sự bình an ngay nơi mắt bão. Tìm sự tĩnh lặng trong bụi gai. Em sẽ có sức mạnh diệu kỳ. Gian nan thử sức. Ngọc càng mài càng sáng. Chị nghĩ mọi vấn đề đều có cách giải quyết. Trong cuộc đời ta luôn phải đứng trước hai cái xấu phải chọn lấy cái ít xấu hơn và tìm ra cái tốt trong cái xấu ấy, bởi trong khuyết có ưu, trong họa có phúc.
Một ngày sau buổi chiều hai người đi dạo trên bờ biển, Thanh Hằng nói với bà Phượng Tường:
- Sáng mai xin phép chị em về Sài Gòn, bàn với bà cô thu xếp việc nhà cửa, bàn với bà về cuộc sống của hai cô cháu. Em sẽ làm lại cuộc sống từ đầu theo lời khuyên của chị. Em rất cám ơn chị đã nâng em dậy khi đã kiệt sức, cho em tiếp tục đi tới. Từ đây em mãi gắn bó với chị. Chị là ân nhân, cứu tinh của em… Em lại làm việc có ích, làm từ thiện, lại làm thơ, cất tiếng hát, lại đi khiêu vũ để yêu đời. Nói lên được tiếng lòng mình cũng là cách sám hối phải không chị? Em sẽ trồng một khu vườn, một cánh rừng cây cối thật xanh tươi cho chim bay về làm tổ. Em sẽ cho chúng ăn. Hàng ngày chúng sẽ cho em tiếng ca, sẽ làm dịu đi nỗi đau của em. Em yêu cầu chị một điều là hãy giữ kín tung tích của em, coi như em đã chết. Từ nay trở đi chị gọi em là dì Hai nhé, có nghĩa là em ruột của chị.
28- TRẠI NHÃN
Từ Sài Gòn đi Vũng Tàu theo quốc lộ 51 đến địa phận huyện Long Thành, qua cột cây số 50 + 300 chừng 100 m đi vào con đường đất đỏ độ 7 km gặp một con suối, thì thấy ngay một trang trại hơn 100 ha rất xanh tươi, tiếng chim kêu thánh thót. Người ta gọi là Trại Nhãn bởi nhãn ở vườn này rất ngon, có hương vị đặc biệt được lai ghép từ nhãn lồng Hưng Yên với vải thiều Hải Dương.
Theo bà con địa phương nói, trước đây khu trang trại này là vùng bán sơn địa khô cằn, hoang hóa, chó ăn đá, gà ăn sỏi, cây cối còi cọc.
Từ khi dì Hai về mua khu đất này lập trại. Thuê người đắp đập ngăn suối làm hồ chứa nước, đặt máy bơm và cải tạo khu đất, chỉ trong vòng vài năm đã đổi khác hẳn.
Nghe lời khuyên ân tình của bác sĩ Phượng Tường và những lời tâm huyết của Ngô Minh Hoàng, Thanh Hằng quyết tâm từ đầu làm lại cuộc đời.
Mấy tháng sau cuộc tự tử bất thành, được bác sĩ Phượng Tường cứu chữa, động viên, khuyên bảo, Thanh Hằng về gặp bà Năm vào một buổi tối. Khi thấy Hằng xuất hiện, bà cô hốt hoảng cho rằng oan hồn hiện về. Bởi cách đây ba tháng, bà đã cùng Hoàng, Hiền Thư, Tố Hạnh làm tang lễ cho Hằng ở Vũng Tàu. Hằng trông lên bàn thờ đang nghi ngút khói nhang thấy ảnh chân dung mình hiểu ngay nói:
- Con đây, con được người ta cứu sống. Số con chưa chết mà cô.
Sau đó Hằng kể lại mình đã được cứu sống như thế nào và gặp được ân nhân.
Hằng nói:
- Con bàn với cô những gì mà con đã ngẫm nghĩ cả mấy tháng nay. Cô cháu mình mà đồng tâm, hiệp lực sẽ làm được.
Bán căn nhà mặt tiền của Hằng ở Lê Thị Riêng ở trung tâm thành phố và căn nhà nhỏ trong hẻm của bà cô, cộng với số vàng dự trữ có được một lưng vốn khá. Hai cô cháu bàn tính:
Một trăm lượng dùng mua cổ phiếu của Công ty Dược và Công ty Sữa để được chia cổ tức hàng năm. Công ty Dược làm thuốc chữa bệnh và công ty Sữa là thức uống bổ dưỡng, là hai công ty phục vụ rất thiết thực cho đời sống, nên đầu tư vào đây thấy an tâm.
Một trăm lượng bán lấy tiền mặt, gửi ngân hàng lấy lãi tiêu dùng hàng tháng.
Số còn lại mua đất và làm vốn lập trang trại xây dựng cuộc sống mới.
Trao đổi với bà Năm, Hằng nói:
- Thời nào, ở đâu cũng phải có tiền mới tính đến chuyện làm ăn được, mới sống được. Đồng tiền mà biết cách tiêu thì hiệu quả rất cao, “Việc không cần thì một đồng cũng không tiêu, việc cần tiêu bỏ ra tiền triệu vẫn không tiếc”. “Buôn tàu bán bè, không bằng ăn dè tiết kiệm”. Đồng tiền lương thiện do mồ hôi nước mắt mình làm ra nó bền là như vậy. Còn đồng tiên phi nghĩa do hối lộ, buôn gian bán lận, người ta tiêu xài ném tiền qua cửa sổ nên nó không bền, kiếm được bao nhiêu rồi cũng hết. Cô cháu mình phải học cách tiêu tiền. Trong cuộc sống tiền không phải là tất cả, bởi tiền không mua được phẩm giá con người. Không phải có tiền là có tình nghĩa, như người ta nói: “Có tiền xây được nhà, nhưng không xây được tổ ấm, mua được thể xác nhưng không mua được tình yêu, mua được địa vị nhưng không mua được lòng tôn kính, mua được giường nhưng không mua được giấc mơ. Nhưng không vì thế mà “Trọng nghĩa khinh tài”. Phải trọng cả nghĩa cả tài. Trong trường hợp đứng trước hai điều chỉ được chọn một thì ta chọn nghĩa, vì coi nghĩa hơn tài chứ không phải vì khinh tài. Rất cảm kích khí phách khảng khái của các cụ ta ngày xưa “Trọng nghĩa khinh tài”. Nên cuộc sống đạm bạc lắm, lưng cơm với quả cà, bát nước chè xanh với củ khoai lang và thiếu các điều kiện tốt để làm việc. Khi đã không đủ chất bổ nuôi chất xám và các điều kiện làm việc thì không thể có tư tưởng vĩ đại, vần thơ hay, kiệt tác văn học, triết lý lớn được. Từ xưa ta vẫn nói “Giàu sang, nghèo hèn”, “Phú” thì được “Quí”, cô cháu mình phải luôn nghĩ cách làm giàu chân chính bằng chính mồ hôi và trí tuệ của mình.
Hằng luôn nhớ đến lời khuyên của Hoàng, trong buổi tiễn đưa Hằng đi Mỹ, Hoàng nói:
- Trước đây anh là học sinh trong nội thành Hà Nội thời kỳ địch chiếm đóng, gia đình trí thức tiểu tư sản, nên thời kỳ mới tiếp quản Thủ đô, học đại học rồi sau ra công tác, anh rất sợ bị chụp mũ “tư tưởng tiểu tư sản, cá nhân chủ nghĩa, hiếu danh, hiếu thắng, tự tư tự lợi…” Thời kỳ ấy mà bị chụp cho những cái mũ ấy thì hãi lắm vì tiền đồ phía trước mịt mù. Cứ phải co người trong cái vỏ ốc, không có suy nghĩ của riêng mình, cứ phải dựa vào ý kiến tập thể, ý kiến cấp trên nói sao làm vậy. Nhưng bây giờ khác rồi, mỗi người phải tự mình cởi trói, giải phóng chính mình. Mỗi chúng ta là một cá nhân, có tính cách riêng, suy nghĩ riêng. Cần phát huy cái cá nhân ấy, chúng ta không phải là những người “nhân bản”. Trước đây khi ta yêu chính mình thì cho rằng “cá nhân chủ nghĩa”. Thật không thể tin nổi khi nói yêu một người khác mà lại không yêu chính mình? Những người không kính yêu ông bà cha mẹ mình thì đừng nói đến chuyện yêu nước. Cũng như không thể hiểu nổi khi nói “mang lại cơm áo cho người khác” mà chính mình còn đói rách. Anh khuyên em chỉ khi mình càng đầy đủ thì sự giúp đỡ người nghèo mới càng được nhiều. Anh mong mọi người giàu có, thành đạt. Nếu vì “cá nhân chủ nghĩa” mà giàu có, thành đạt, ích quốc lợi dân thì cũng nên “cá nhân chủ nghĩa” Nếu vì “chủ nghĩa cá nhân” muốn làm anh hùng mà chiến sĩ ôm bom ba càng lao vào phá xe tăng giặc thì phải ca ngợi “chủ nghĩa cá nhân” ấy, và phải phê phán “chủ nghĩa tập thể”, đùn đẩy cho nhau trốn tránh trách nhiệm. Anh nghĩ các vị anh hùng muốn xoay vần được thời cuộc thì phải phát huy tính cách cá nhân cao độ, phải suy nghĩ, quyết đoán, phải nêu cao tinh thần trách nhiệm và nhiệt tình vượt bậc so với người bình thường, nếu không thì sao “Anh hùng tạo được thời thế”. Và đã là vĩ nhân thì bao giờ cũng phải phát huy dân chủ, phát huy càng cao, càng rộng, càng sâu, càng tốt. Lắng nghe ý kiến quần chúng. Chắt lọc những ý kiến hay để thành quốc sách, thành ý kiến lãnh đạo của mình, như ta đãi cát tìm vàng. Mỗi chúng ta có quyền tự tư tự lợi chính đáng mà không ảnh hưởng gì đến lợi ích của người khác. Biết hài hòa lợi ích cá nhân với lợi ích cộng đồng, dân tộc và đất nước. Mỗi chúng ta có quyền hiếu danh với sự phấn đấu bằng chính năng lực của mình, như các vận động viên tham gia thế vận hội phải “hiếu danh”, “hiếu thắng” mới giành được huy chương mang vinh quang về cho Tổ quốc. Một đất nước có nhiều người nổi danh thì đất nước ấy nổi danh. Đất nước có nhiều người hiếu học, sẽ có nhiều nhân kiệt.
Từ những lời khuyên của Hoàng, của bà Phượng Tường và những suy nghĩ rút đúc kinh nghiệm từ cuộc đời, Thanh Hằng quyết tâm xây dựng một cuộc sống mới.
Hằng đã mua hơn một trăm ha đất bỏ hoang hóa với giá rất rẻ ở huyện Long Thành, Đồng Nai, lập thành trang trại. Và cuộc sống ở trang trại sẽ thế nào là vấn đề Hằng đau đầu suy nghĩ. Qua thời gian sống ở Hà Nội, Sài Gòn và ở Mỹ, Hằng đi tới kết luận:
Cuộc sống ở thành thị thì nhanh quá, hối hả quá, thần kinh luôn căng thẳng bởi chịu nhiều áp lực, nên không ít người tính toán bon chen, mánh mung, chụp giựt. Ở thành thị dễ bị “nhầm thua, vô ý mất tiền”. Không ít người nhìn nhau với con mắt, ai thua kém thì khinh bỉ, ai hơn thì bị ghen ghét. Cuộc sống tuy nhà cao cửa rộng, tiện nghi nhưng luôn luôn sống trong môi trường ồn ào, phải hít thở khói bụi ô nhiễm, tiềm ẩn các loại bệnh. Không được ngắm những đêm trăng đẹp, những buổi bình minh, hoàng hôn để tâm hồn bay bổng lãng mạn. Ít khi được tĩnh tâm, tĩnh trí. Sống “đèn nhà ai nấy rạng”, khó mà “lúc tối lửa tắt đèn có nhau”.
Cuộc sống ở nông thôn, vùng cao, vùng sâu thì chậm quá. Tuy được yên tĩnh, hưởng không khí trong lành, gần gũi với thiên nhiên Nhưng cuộc sống lặng lẽ trôi. Nghe tiếng gà gáy rộn thôn xóm lúc ban mai, đàn trâu thủng thẳng về bản lúc xế chiều, con đò đậu bến vắng cắm sào đứng đợi, khói lam chiều tỏa ra trên mái tranh. Nghe tiếng suối chảy róc rách, nhìn cây cầu tre lắt lẻo bắc qua con suối nhỏ, tiếng chim xào xạc, những đêm trăng suông núi rừng bạc bạc, tiếng giun dế, côn trùng kêu nghe buồn da diết, ốm đau đi nửa ngày đường mới có bệnh xá. Cuộc sống nghèo nàn lạc hậu như thế cũng buồn.
Sống mà không ẩn dật như những người bất mãn trốn tránh việc đời, mũ ni che tai.
Sống mà không biệt lập, vẫn tham gia các hoạt động có ích cho xã hội, vẫn giao lưu hội nhập, hòa hợp với cộng đồng. Sống mà không phải là đi tu, vẫn có đam mê, làm những gì muốn, chơi những gì mình thích, vẫn sống cho mình và làm điều có ích cho xã hôi.
Sống phải giao hòa được con người với thiên nhiên, hài hòa giữa sống nhanh ở thành thị và sống chậm ở nông thôn. Từ những ý tưởng ấy, dì Hai đã phác họa cuộc sống ở trang trại của mình:
Thời buổi mà vệ sinh an toàn thực phẩm đang có nhiều vấn đề. Nạn thịt, cá “bẩn” gieo rắc bệnh tật do những người bất lương chạy theo lợi nhuận. Gà, vịt bị cúm H5, lợn dịch tai xanh, bò lở mồm long móng mà người ta cứ làm thịt, ướp chất độc hóa học mang đi bán. Giò chả cho hàn the, tôm cá để tươi được lâu người ta ướp hàn the, urê, rau “bẩn” tưới phân tươi, củ quả “độc”.
Vậy muốn ăn thịt cá “sạch”, rau, củ, quả “lành” thì phải nuôi, trồng lấy mà dùng hoặc mua ở những nơi có bảo đảm. Môi trường đất, nước, không khí, vật nuôi, cây trồng, cho nó “ăn uống sạch”, nó sẽ cho sản phẩm “ngon lành, bổ dưỡng”. Không thể trồng cây trên đất nhiễm độc mà hái được trái ngọt lành. Không thể nuôi trong nước ô nhiễm mà bắt được tôm cá thơm ngon, bổ dưỡng.
Hãy tự cứu lấy mình, nên trang trại của dì Hai phát triển theo hướng “nông nghiệp hữu cơ”và phương châm “tự cung, tự cấp” tối đa.
Dì Hai đã cam kết với bà Phượng Tường. Từ Trại Nhãn cung cấp thưc phẩm vệ sinh an toàn cho nhà hàng “Đặc sản bánh đúc chay”.
Trại Nhãn được quy hoạch thành từng khu. Khu trồng những loại rau thông dụng: rau muống, mồng tơi, bầu bí… được bón, tưới bằng phân hữu cơ. Khu vườn trồng các loại cây ăn quả, được quy hoạch có hàng lối, có chia khu cho từng loại cây theo cách phân loại cây trồng của nghề trồng trọt. Mùa nào thức ấy, xoài, chôm chôm, nhãn, mãng cầu, cam bưởi, sầu riêng, vú sữa. Đặc biệt là khách vào thăm khu vườn chủ mời ăn không phải trả tiền, khi về còn được biếu một bịch mang về nhà làm quà. Khu trồng bắp và các loại đậu, đậu xanh, đậu đen, nhất là đậu nành để làm sữa và tương. Khu chăn nuôi đào ao nuôi cá, đất đào ao dùng tôn nền nhà. Có khu nuôi lợn, gà, ngan. Được định kỳ chích ngừa đề phòng bệnh.
Dì Hai không thích nuôi loại gà công nghiệp tăng trưởng nhanh, lợn lai kinh tế vì phải dùng chất độc hại để kích thích chóng lớn, nên thịt không “ngon, lành”. Dì Hai thích nuôi lợn ỉn, thức ăn chủ yếu là cám và các loại rau của trại, nuôi gà ri “đi bộ”. Để tạo nguồn thức ăn nhiều chất đạm hợp với khẩu vị chúng, dì đắp những ụ rơm, đổ nước cháo vào sẽ sinh ra sâu bọ, gà tha hồ bới.
Khu dược liệu trồng các loại cây thuốc hương nhu, ích mẫu, kim ngân, actixô, ngải cứu để nấu nước xông khi cảm, cúm và chữa trị các bệnh thông thường.
Ngôi nhà chính của trại làm từ những vật liệu sẵn có ở địa phương, năm gian hai chái rất thoáng mát theo phong thủy. Chung quanh nhà có vườn hoa cây kiểng.
Cơ sở hạ tầng như đường xá, cấp thoát nước đều được quy hoạch có bài bản. Trại sử dụng nước giếng khoan khai thác mạch nước ngầm ở độ sâu hàng trăm mét, định kỳ nước được lấy mẫu đem về viện Pasteur xét nghiệm để bảo đảm đạt tiêu chuẩn nước sinh hoạt, nếu không phải xử lý. Trại sử dụng chất thải hữu cơ làm hầm bioga để làm chất đốt. Làm điện mặt trời để thắp sáng, chạy tủ lạnh, xem ti vi.
Dì Hai thường xuyên đến các xóm ấp ở gần trại tuyên truyền nâng cao dân trí. Vận động bà con giữ vệ sinh ăn chín, uống sôi, làm nhà vệ sinh. Mới đầu dì tài trợ tiền làm nhà vệ sinh cho một vài gia đình để làm mẫu. Sau nhiều gia đình khác thấy lợi ích đua nhau làm. Dì luôn đi vận động bà con sống có văn hóa, văn minh việc ma chay, hiếu hỉ.
Thành viên chính trong gia đình Trại Nhãn của dì Hai có bà Năm, bà Cài, cậu con nuôi Tường Trí đang học lớp 9, mồ côi cha mẹ, và hàng chục người lao động giúp việc, như nấu ăn và chủ yếu gia công chế biến sữa đậu nành, làm tương, ủ men làm rượu nếp, tráng bánh đa để cung cấp cho nhà hàng ăn chay của bà Phượng Tường ở Vũng Tàu. Ngoài ra dì Hai còn thuê người làm theo thời vụ để đánh bắt cá, trồng cây, thu hoạch mùa màng.
Dì Hai nuôi hai con chó, loại chó Nhật làm kiểng, mắt tròn như hai hột nhãn, tai to rủ xuống mềm như lá cải luộc chín, lông trắng như tuyết. Dì đặt tên nó là Milu. Dì hay bế nó trong lòng vuốt ve lúc nhàn rỗi. Một con gọi là Lài vì nó là giống chó Lài, to như con bê, khách khứa ai trông thấy cũng phải dè chừng! Ở trại nó với dì như hình với bóng, dì đi đâu nó lẽo đẽo theo đấy, khi trông thấy đàn gà nó liền chạy đến ra oai, đàn gà sợ kêu choang choác, chạy tan đàn, con Lài lấy làm hỉ hả lắm. Trông nó dữ tợn thế mà rất hiền, chưa cắn con gà nào bị thương bao giờ. Đêm ngủ nó nằm dưới gầm giường của dì, mỗi khi có người lạ vào trại nó sủa ầm lên. Chỉ khi nghe dì Hai quát nó mới im, nhưng vẫn gầm gừ bực tức. Vào mỗi buổi chiều, dì Hai hay dẫn con Lài ra bãi cỏ rộng trong trại ném trái banh tennis ra xa. Nó liền chạy phi nước đại đi tìm, ngoạm trái banh mang về trao trả lại cho dì. Nó rất vui khi làm việc này mà dì cũng rất thích thú. Cuộc chơi cả tiếng đồng hồ và trở thành thói quen. Những hôm nào mưa gió không ra bãi cỏ được trông con Lài buồn thiu, hay đến cọ đầu vào chân dì Hai như nhắc nhở. Bởi bãi cỏ rộng là thiên đường của nó, ở đó nó được chạy nhảy, tung tăng.
(còn tiếp)
Nguồn: Hãy trả lại tình yêu. Tiểu thuyết của Phạm Thanh Quang. NXB Văn học, 7-2010.
www.trieuxuan.info
|