30- HÀ NỘI THUỞ XUÂN THÌ
Ngữ đích thân lái ô tô đưa vợ chồng Thống, vợ chồng Thu và Bích Sang đi thăm Hà Nội, ôn lại những kỷ niệm thưở xuân thì.
Trước Cách mạng Tháng 8, Hà Nội rất khác bây giờ. Dân cư thưa thớt, phố xá phong quang, sạch đẹp. Người đi ngoài phố khoan thai, ăn nói nhẹ nhàng. Người làm công chức luôn thắt cà vạt, mặc com-lê theo mùa, mùa hè khi trời nóng mặc “sooc” đi tất tới đầu gối, áo sơ mi cộc tay vẫn thắt cà vạt, giầy lúc nào cũng được đánh bóng, Thiếu nữ, nữ sinh áo dài thướt tha, các cụ ông thì khăn xếp áo the, các cụ bà thì áo mớ ba, mớ bẩy, các cô bán hàng rong cũng áo tứ thân, khăn mỏ quạ. Hà Nội thời đó luôn nghe thấy tiếng tàu điện leng keng, Năm giờ sang, chuyến xe đầu tiên chạy từ Thụy Khuê, nơi tập kết tàu đi qua chợ Đồng Xuân, Hàng Ngang, Hàng Đào đến Bờ Hồ là bến trung chuyển, rồi đi Bạch Mai, Yên Phụ, Hà Đông, đánh thức cả thành phố dậy. Tàu điện bây giờ không còn. Phố phường đông đúc, ồn ào, nhiều khói bụi hơn xưa. Môi trường bị ô nhiễm nặng, tên phố Hà Nội cũng đã thay đổi nhiều. Trước kia Boulevard Rollant nay là Hai Bà Trưng, Boulevard Carnot nay là đường Phan Đình Phùng, Rue du grand Bouddha nay là phố Quán Thánh… Nhiều ngôi nhà cổ xưa nay đã thay bằng cao ốc. Đi thăm thành phố ngày nay, những người đã sống ở thành phố ngày xưa có nhiều suy nghĩ. Thu tức cảnh làm bài thơ “Đi tìm ô cửa xưa”:
Đi tìm ô cửa xưa
Xuân sang về Hà Nội
Lại được ngắm hoa đào
Lại bồi hồi nỗi nhớ
Ô cửa sổ năm nào.
Như đã thầm ước hẹn
Ô cửa đặt chậu bông
Thắm nở cánh xuân hồng
Em đang chờ anh tới.
Ô cửa cũ căn lầu
Nay tìm mà chẳng thấy
Tên phố đã đổi lâu
Nhà xưa là cao ốc!
Cao ốc trăm ô cửa
Có ô nào thủa ấy
Em đang chờ anh tới
Như mùa xuân mong đợi?
Anh lang thang trên đường
Đi tìm ô cửa xưa
Dưới mưa xuân lất phất
Nhớ đứng chờ dưới mưa.
Thanh đấm lưng Thu nói:
-Thế mà ông nói tôi là mối tình duy nhất, thế mới biết đàn ông các ông.
Đan Huệ, Bích Sang tán thưởng:
- Cứ tin mấy ông thì đổ thóc giống ra mà ăn.
Thu nắm tay Thanh nói:
- Đó chỉ là thơ với thẩn thôi, nếu tôi là cái bánh tôi bóc ngay cho bà xem.
Thống bênh Thu nói:
- Bà nào có duyên mới lấy được chồng đào hoa, nhiều bà mong mà không được.
Mọi người cười vui vẻ.
Thăm Hà Nội chủ yếu là Hồ Gươm và Hồ Tây, nơi họ để lại nhiều dấu ấn.
Ai mới tới Hà Nội mà chẳng yêu cầu được tham quan Hồ Gươm, một thắng cảnh ở ngay trung tâm thành phố. Nhiều người Hà Nội xa nhà cũng thường liên tưởng tới Hồ Gươm mỗi khi nhớ tới nơi người thân, bạn bè mình đang sinh sống. Quanh hồ chỗ nào cũng đẹp. Nhưng nếu có ai hỏi họ chỗ nào đẹp nhất, họ sẽ trả lời ngay mà không cần suy nghĩ: “Đó là quãng bờ hồ trước khách sạn Phú Gia”, nơi có con đường ven hồ tách đôi, một nhánh vẫn chạy bên hồ, còn một nhánh hướng về phía Hàng Trống và Nhà thờ Lớn. Bởi đây là địa điểm đã lưu trong họ nhiều kỷ niệm và cảm xúc hào hùng không thể quên của một thời trai trẻ hoạt động trong phong trào học sinh – sinh viên yêu nước.
Khi Thu nhận được tin học sinh Trần Văn Ơn ở Sài Gòn bị giặc Pháp sát hại từ anh Lưu Minh, học sinh trường Chasseloup Laubat tại Sài Gòn báo cho nguời nhà ở Pháp để chuyển về ở Hà Nội. Một cuộc họp kín của hội “Tri âm” do Thu triệu tập trong đó có Ngữ, Thống. Bàn về tổ chức lễ truy điệu anh Trần Văn Ơn để phản đối “Nhà cầm quyền – Thực dân Pháp” tại Nhà thờ Lớn và tại chùa Quán Sứ. Địa điểm tập hợp là trên hè bờ hồ Hoàn Kiếm, trước mặt trụ sở Khai Trí Tiến Đức. Sau đó Ngữ và Thống đi liên hệ mang thư hiệu triệu của hội “Tri âm” đến các trường. Và nhận nhiệm vụ “tiêu binh” đứng ở hai bên đường từ điểm xuất phát của những người đi dự lễ tới Nhà thờ Lớn làm nhiệm vụ giữ trật tự, hướng dẫn các đoàn đi theo hàng lối…
Sáng sớm ngày 20-1, trời Hà Nội hơi se lạnh. Tuy vậy những người đi dự lễ truy điệu chỉ mặc áo sơ-mi dài tay, quần dài trắng và mang một dải băng đen trên ve áo. Thu, Ngữ và Thống đã tới điểm làm nhiệm vụ rất sớm khi đuờng phố còn vắng bóng người. Họ luôn nhìn sang bên bờ hồ hồi hộp chờ đợi xem sự hưởng ứng của học sinh, sinh viên tham gia buổi lễ. Còn sớm chưa thấy có ai, chỉ thấy ở bên bờ hồ và phía Hàng Trống đã có một số cảnh sát và nhân viên mật vụ đi đi lại lại. Việc này cũng dễ hiểu, vì chỉ đi vài bước về phía đầu phố là tới ngay nơi làm việc của họ, đó chính là đồn cảnh sát Hàng Trống. Họ được lệnh ra đây sớm hơn cả Thu, Ngữ, Thống. Làm cho hội “Tri âm” có cảm tưởng “Họ là những chú gà đang được một bầy cáo quan tâm theo dõi”. Nhưng rồi họ giữ được vẻ bình tĩnh và rất đàng hoàng khi có một chiếc xe đạp từ xa chạy về phía Nhà thờ Lớn, rồi tiếp theo là một chiếc ô tô. Ngữ ra đứng giữa đường, giơ tay làm hiệu ngăn lại và yêu cầu đi theo đường ven hồ. Người lái xe hơi tỏ vẻ thắc mắc, thò đầu ra ngoài khung cửa xe, nghe lời giải thích của Ngữ xong rồi mới cho xe đi tiếp sau khi đưa mắt tò mò nhìn về phía mấy viên cảnh sát đứng trên hè với vẻ mặt lầm lì.
Mặt Hồ Gươm lúc sáng sớm được che phủ bởi một lớp sương mù mỏng có lẽ đã lùa vào trong áo sơ-mi của Thu, Ngữ, Thống làm họ hơi lạnh. Nhưng họ thấy ấm ngay bởi được tiếp nhiệt huyết khi trông thấy một nhóm, rồi ba bốn nhóm học sinh đang đi tới ven hồ. Mỗi lúc họ tới càng đông, xếp thành hàng ngũ đứng theo từng trường trên bờ hồ. Lời hiệu triệu của hội “Tri âm” được hưởng ứng.
Vào 9 giờ sáng, chuông Nhà thờ Lớn ngân vang, báo hiệu buổi lễ truy điệu anh Trần Văn Ơn bắt đầu. Sau buổi lễ, mọi người lại kéo nhau đi đến chùa Quán Sứ. Các nhân viên mật vụ và cảnh sát bây giờ mới ra mặt, cấm mọi người không được tụ tập làm mất trật tự đường phố. Ai cũng hiểu là chúng muốn ngăn cản mọi người tiếp tục dự cuộc lễ ở chùa Quán Sứ. Trước tình thế đó, Thu thống nhất với Ngữ và Thống kêu gọi mọi người hãy giữ trật tự, không ai đi trên vỉa hè. Tất cả cùng nhau xuống đường đi thành hàng ngũ chỉnh tề cho đúng luật. Từ Nhà thờ Lớn, dọc phố hàng Khay tới chùa Quán Sứ. Các “tiêu binh” thỉnh thoảng lại hô to: “Trật tự để tưởng niệm bạn Trần Văn Ơn”, chẳng khác gì một cuộc diễu hành phô trương sức mạnh mà bọn địch phải câm miệng không làm gì được.
Mặc dù sự kiện trên xảy ra cách đây đã hơn nửa thế kỷ, vậy mà cho tới ngày hôm nay, cứ mỗi lần có dịp đi quanh Hồ Gươm, Ngữ và Thu thường dừng lại tại địa điểm năm xưa, nơi các học sinh – sinh viên từng tập họp bên bờ hồ làm lễ truy điệu anh Trần Văn Ơn. Bây giờ mỗi khi nhìn thấy một đôi nam nữ kề vai bên nhau hay một chàng trai, cô gái đứng một mình chờ đợi, họ thấy lòng mình rộn rã những tình cảm năm xưa và tự hỏi? Phải chăng hồi đó mình cũng có những cảm xúc tương tự như họ bây giờ, hồi hộp, lo lắng, chờ đợi, như tình cảm của những mối tình đầu.
Phấn khởi vì việc tổ chức lễ truy điệu anh Trần Văn Ơn gây được tiếng vang, tối hôm đó Thu, Ngữ, Thống, Bích Sang, Hoàng đi chơi Bờ Hồ, ăn kem que ở cửa hàng người Nhật đối diện với bến xe điện. Rồi vào rạp chiếu bóng xem phim “Cuộc chiến trong rừng” mà Hoàng đã phải xếp hàng cả buổi chiều mới mua được vé. Bọn con trai khen hay, gây ấn tượng nhất là cảnh một con rắn nuốt một con rắn khác to gần bằng nó. Bây giờ Bích Sang nghĩ đến vẫn sợ.
Sau khi thăm Hồ Gươm họ lên thăm Hồ Tây.
Bích Sang hỏi Thống:
- Anh còn nhớ quán xôi vò, chè sen Cây Bàng ở phố “Lốc Cốc No” không?
Mọi người trố mắt. Ngữ hỏi:
- Hà Nội làm gì có phố “Lốc Cốc No”.
Thống nghĩ giây lát rồi vỗ tay vào đùi nói:
- Có có, hồi đó Bích Sang nghiện xôi vò, chè sen quán cô Tư Hường có cây bàng ở phố “Lốc Cốc No” Đó là phiên âm của tên phố Blockhaus Nord có nghĩa là phố Lô cốt phía Bắc, có lẽ xưa kia ở đây có một cái lô cốt. Phố “Lốc Cốc No” trải dài từ đầu dốc Hồ Tây tới phố Đỗ Hữu Vị. Phố này chạy cắt ngang các phố Jambert nay là phố Nguyễn Trường Tộ. Hồi đó mỗi khi đi chơi Hồ Tây, Bích Sang thế nào cũng đến quán Tư Hương ăn xôi vò, chè sen. Những hạt xôi vò ở đây trông như những con nhộng vàng óng một lớp bột đậu xanh ăn béo ngậy, còn chè sen chính là hạt sen trồng ở Hồ Tây nấu với đường phèn, mùa hè ăn mát tới tim phổi.
Trước khi vào vãn cảnh chùa Trấn Quốc, Ngữ cho xe chạy chậm một vòng Hồ Tây, trên xe Bích Sang kể một kỷ niệm nhớ đời.
“Một buổi chiều em với anh Thống đi chơi thuyền trên Hồ Tây, bất ngờ có một cơn giông, cái perissoire bị gió đưa đi lẫn vào đám bèo tây, hồi đó đến một phần ba hồ là bèo tây, bình thường bèo từng mảng tản mạn khắp hồ nhưng khi có cơn giông, gió thổi về một hướng thì bèo dồn lại thành một “rừng” bèo, cái perissoire bị kẹt vào rừng bèo ấy không cách gì thoát ra được, loay hoay mấy tiếng đồng hồ, khi chỉ còn cách bờ khoảng mươi mét thì kẹt cứng. Anh Thống phải lội xuống hồ gỡ bèo ra làm thành một luồng nhỏ cho thuyền vào bờ, cực kỳ vất vả, vì bèo nó liên kết thành từng mảng như một cái bè khổng lồ, có thể bắc ván đi như trên đất liền, vì lớp bèo bố mẹ chết đi lớp bèo con mọc tiếp lên trên, rồi đến đời cháu, chắt… cứ thế bèo kết thành mảng lớn, dày hàng mét khó gỡ lắm, anh Thống mệt bở hơi tai! Neo được thuyền vào bờ, gửi nhà dân ở gần đó để hôm sau lên lấy trả cho nhà thuyền, rồi hai người đi bộ về Bưởi. Đến Bưởi thì hết giờ tàu điện, được dịp hai người ngồi chung xích lô về nhà.
Bích Sang nói với Đan Huệ:
- Trong cái rủi có cái may phải không chị?
Đan Huệ vui vẻ nói:
- Không phải là may mà là rất hạnh phúc, vậy mà anh Thống chưa bao giờ nói với chị về kỷ niệm này.
Mọi người đều cười.
Đến Nghi Tàm, Ngữ dừng xe để Bích Sang và Thống tìm lại nơi neo thuyền ngày xưa, khi đó là một bãi cỏ, bên bờ hồ có một hàng tre mọc um tùm soi bóng xuống hồ và có một miếu thờ dưới gốc cây si tán lá xanh rờn nhưng bây giờ đã bị xóa sổ, không thể nào hình dung ra được.
Từ Nghi Tàm đi Bưởi, trước kia là một con đê có con trạch ở trên phòng nước lũ vượt quá đê, bây giờ là đường nhựa hai bên nhà cửa san sát. Trông rối tung rối mù.
Sau khi đi một vòng Hồ Tây, họ vào vãn cảnh chùa Trấn Quốc rồi ăn cơm trưa ở nhà hàng Bánh Tôm.
31- DU LỊCH HẠ LONG
Chuyến đi du lịch Hạ Long gồm có Thống – Đan Huệ, Ngữ- Minh Huyền, Phúc – Bích Sang, Thu – Hiền Thanh, Hạp- Huỳnh Vân.
Theo thiết kế của Ngữ, thời gian là ba đêm, năm ngày. Du lịch Tuần Châu, Vịnh Hạ Long, Cát Bà rồi ghé qua Đồ Sơn, theo đường 5 về Hà Nội.
4 giờ chiều ngày thứ nhất đoàn tới Tuần Châu. Sau khi ổn định chỗ nghỉ ở khách sạn, họ bắt đầu hoạt động du lịch.
Tuần Châu trước kia là một hòn đảo. Sau người ta đào núi lấp biển làm đường nối đảo vào Bãi Cháy và xây dựng khu du lịch. Có thể nói là một khu du lịch hấp dẫn. Có bãi tắm bờ cát mịn màng, rộng mênh mông, tha hồ chơi bóng đá, bóng chuyền. Biển ở đây nước trong, sóng êm. Ăn tối xong, trời mát mẻ, gió biển nhẹ êm, sóng rì rầm. Đoàn đi dạo xem cảnh quan trong khu. Các công trình kiến trúc dưới ánh đèn màu sắc ẩn hiện mờ ảo, rạng rỡ, lung linh. Rồi đi xem cá heo biểu diễn. Tuần Châu có nhà biểu diễn cá heo lớn nhất Đông Nam Á với sức chứa hàng ngàn người. Đi xem biểu diễn nhạc nước, các tiết mục được dàn dựng theo các truyện cổ tích Việt Nam rất hợp với tâm hồn người mình.
Ngày thứ hai, tàu đến đón đoàn đi tham quan động Thiên Cung, hang Sửng Sốt. Tham quan hang động ta có cảm nghĩ như lạc vào cung điện của Long Vương. Ánh sáng đã tô điểm cho động thêm lãng mạn, những mảng ánh sáng như những áng mây trắng đùn ra từ vách núi. Như dòng nước xanh của con suối đang đổ từ núi xuống. Như gắn vào vách núi những vỉa của mỏ vàng.
Sau khi xem hang động, con tàu đưa đoàn đi chơi vòng vo trên vịnh đến hòn Gà Chọi, hòn Yên Ngựa, hòn Bà, hang Trinh Nữ. Những núi trước đây chỉ được xem ảnh, trên ti vi, nay được đến tận nơi sát ngay bên cạnh. Họ chụp hình quay camera không biết mỏi tay. Ngồi trên boong tàu, gió tung bay tóc, tà áo, từng cặp ra đứng ở mũi tàu ôm nhau chụp ảnh. Cảnh quan vịnh biển và đảo làm lòng họ lâng lâng, ngắm xem hàng ngàn hòn đảo, lúc xa lúc gần, lúc ẩn lúc hiện, không hòn nào giống hòn nào, mỗi hòn đảo là một công trình điêu khắc nghệ thuật vô cùng tinh xảo của thiên nhiên, nhìn mãi mà không biết chán. Nhất là lúc hoàng hôn, khi màu đỏ phía chân trời tắt dần làm cho biển và đảo thẫm dần, cho ta một cảm xúc huyền bí, diệu kỳ.
Khi trời đã tối, con tàu thả neo. Một bữa ăn hải sản đặc biệt được dọn ra trên tàu: tôm, cua, cá, hàu, nghêu vừa bắt ở dưới biển lên, được ngư dân chèo thuyền đến cặp mạn tàu cung cấp. Thịt của chúng thơm, ngon, ngọt, bổ đúng như hương vị trời đã phú cho chúng. Mọi người trong đoàn cùng nâng ly chúc nhau những điều tốt lành.
Đêm nay trăng rất đẹp, càng cao lên càng đẹp. Trần Danh Thu dàn dựng một buổi ca nhạc nhẹ trên boong tàu. Họ là những người Hà Nội, những chàng trai cô gái năm xưa là học sinh trường Chu Văn An, A. Sarraut, Trưng Vương nay đã cao tuổi. Đã lên chức ông, bà nhưng “Gừng càng già càng cay”. Tiếng violon của Thu, tiếng sáo của Thống, tiếng guitare của Ngữ lại réo rắt, lại bập bùng, lại dìu dặt trầm bổng vang vọng trên vịnh. Giọng ca của Bích Sang, Đan Huệ, Minh Huyền hát Con thuyền không bến, Đêm đông, Trương Chi, Thiên Thai làm xao xuyến trong lòng, gợi nhớ bao kỷ niệm lúc xuân thì.
Đêm đó họ ngủ trên tàu, giữa vịnh Hạ Long, giấc ngủ của họ cũng bồng bềnh theo con sóng.
Ngày thứ ba, 5 giờ sáng Thống đã dậy lên boong, rồi đến vợ chồng Thu, Ngữ, Bích Sang. Không ai bảo ai, họ có cùng ngắm cảnh bình minh trên biển. Bầu trời sáng dần. Những hòn đảo đắp sương mù ngủ suốt đêm qua cũng tung chăn thức dậy, từ màu đen thẫm đảo thả dần bóng tối ra để dần tươi xanh trở lại. Mặt biển cũng sáng dần lên. Phía chân trời, mặt trời đỏ như máu dần nhô lên khỏi biển.
Một bất ngờ thú vị là nhà tàu tuyên bố cho ăn bữa sáng trên mặt biển. Mỗi người được trang bị một cái phao tròn, chui lọt người vào, hai cánh tay đặt trên thành phao. Rồi một cái mâm nổi đựng thức ăn được thả xuống: bánh mì thịt nguội, bánh dày, bánh giò, thịt nướng, các loại nước uống, chuối, táo… Mọi người vừa bồng bềnh trên sóng, vừa ăn, vừa kháo chuyện. Một bữa ăn thú vị, không thể nào quên.
Sau bữa ăn sáng trên mặt biển, con tàu nhổ neo đi Cát Bà.
Đến Cát Bà, đoàn ở khách sạn Duyên Hải. Phía sau và bên trái khách sạn kề vào núi đá đứng sừng sững ngay trên bờ biển. Trước khách sạn là hồ tắm nước ngọt rồi là bãi biển, nói không ngoa “bước chân khỏi khách sạn là xuống biển”. Khách sạn với biển là một, rất thuận tiện cho du khách đi du lịch biển, tắm biển, hưởng gió biển, nghe sóng gió hòa âm giai điệu của biển. Tắm biển bơi lội đùa giỡn với sóng xong, du khách lên tắm hồ nước ngọt. Rồi nằm ghế dưới bóng “dù” có mái bằng lá cọ thư giãn, nghỉ ngơi, xả mệt, nhâm nhi ly cà phê, lon bia, ngắm nhìn bồn cây dừa kiểng trồng ngay giữa hồ và những hàng cau kiểng quanh hồ, những cây trồng trong chậu thiên tuế, hoa sứ, hoa hồng. Cảnh quan quanh khách sạn cũng rất vui mắt. Lúc xế chiều, trước bữa cơm tối họ đi dạo trên bãi biển bắt những con sao biển, nhặt vỏ sò, ốc, đùa nghịch như trẻ con.
(còn tiếp)
Nguồn: Hãy trả lại tình yêu. Tiểu thuyết của Phạm Thanh Quang. NXB Văn học, 7-2010.
www.trieuxuan.info
|