Bữa tối được dọn ra, tôm hùm nướng, ghẹ hấp, cá thu sốt, cá chẽm chiên, lẩu hải sản. Ăn tối xong họ ngồi nói chuyện, nhìn đảo Cát Bà về đêm với những làng chài trên biển.
Ngày thứ tư, đoàn đi thăm vườn quốc gia Cát Bà, ô tô chạy khoảng 40 phút tới khu quản lý vườn, đoàn dừng lại để nghe giới thiệu và xem phim, sau đó thì đi tham quan.
Ngày thứ năm về Hải Phòng, đi khu du lịch Đồ Sơn, ăn trưa rồi về Hà Nội theo đường 5. Trên đường, Thu kể về những trận đánh tầu địch trên đường 5, mà Thu là điệp báo viên mang bí danh 101.
Tô Văn Thống nói:
- Đất nước ta tươi đẹp biết bao. Tiềm năng du lịch rất lớn, nhưng “cái mỏ đặc biệt” này chưa khai thác được bao nhiêu. Gọi là đặc biệt vì nó không giống như các mỏ khoáng sản, không khai thác thì vẫn còn, khai thác nhiều thì mau hết. Còn mỏ “du lịch”, như các danh lam, thắng cảnh, các di tích văn hóa lịch sử của dân tộc không khai thác ngày nào thì mất ngày ấy, cũng giống như nước sông không khai thác làm thủy điện sẽ chảy mất ra biển! Không thu hồi, không để dành được. Đáng tiếc ở thời điểm này mỗi năm chỉ thu hút được khoảng dăm triệu lượt du khách quốc tế, chưa bằng một nửa so với các nước láng giềng.
Nghe Thống nói, không khí trong xe lắng xuống. Ngữ góp thêm:
- Không phải ta không quan tâm mà rất quan tâm đến ngành công nghiệp không khói này. Nhưng chưa có “nghề”, vụng tính toán, chưa đầu tư trọng điểm, vốn ít lại chia năm sẻ bảy nên chỉ làm được cò con, không có mấy khu du lịch nổi đình đám để hấp dẫn du khách. Có ít pháo hoa đem chia cho nhiều nơi, mỗi nơi bắn đùm đụp vài phát thì không bao giờ có đêm pháo hoa.
Bà Đan Huệ góp ý thêm:
- Du lịch của ta chưa hấp dẫn vì còn nghèo cả hình thức lẫn nội dung. Chất lượng sản phẩm du lịch còn thấp. Khu du lịch chưa sạch đẹp. Đường xá bụi bặm, rác rưởi, nhà vệ sinh công cộng còn quá ít. Nhiều khi du khách phải chịu đựng “nỗi buồn”, hoặc bí quá phải đứng quay mặt vào gốc cây! Trẻ em lang thang còn lẽo đẽo bám du khách xin tiền, người bán hàng rong cứ vật nài du khách mua hàng mà cái đó làm du khách nản lòng, khó đến với du lịch Việt Nam lần thứ hai.
Rồi bà đưa ra một số ví dụ, ở Trung Quốc người ta dụ du lịch Trường Thành bằng câu “Bất đáo Trường Thành phi hảo hán”, leo lên tới đó chụp một tấm hình gắn vào cái “bằng”. Trên bến xuống tàu ra đảo Thần Tự do ở New York, có những người chơi đàn, hát phục vụ du khách, nếu du khách nói “tôi là người Việt Nam” thì họ chơi bài Quốc ca Việt Nam. Du lịch Thái Lan thích thì được “Chụp hình với hổ”. Người ta làm ăn du lịch như thế thì du khách sẵn sàng mở hầu bao.
Bích Sang nói:
- Các ví dụ chị Đan Huệ đưa ra, các quan chức ngành du lịch Việt Nam thừa biết. Họ còn biết hơn ta rất nhiều, vì được đi tham quan, khảo sát rất nhiều, được thanh toán vé máy bay, tiền ở khách sạn là của “chùa”, còn tại sao không làm được thì thật khó hiểu.
Hiền Thanh nói:
- Rất dễ hiểu vì các vị còn bận lo làm giàu cho mình hơn lo cho đất nước.
Trương Văn Hạp nói:
- Vấn đề cơ chế là quan trọng. Cái gì mà lắm các ngành các cấp tham gia thì “cha chung không ai khóc”.
32- CUỘC HỘI NGỘ
Đại tá, bác sĩ quân y Ngô Thành Ngữ, trưởng ban liên lạc “Phong trào học sinh – sinh viên yêu nước Hà Nội năm 1950 – 1954” và Trần Danh Thu, nguyên hiệu trưởng trường phổ thông cấp III Trần Hưng Đạo, chủ bút tập san “Tiếng quê” đồng đứng tên giấy mời “Cuộc hội ngộ” của những người đã học ở Hà Nội, trường Chu Văn An, A. Sarraut, Trưng Vương, Đại học Luật, Y Dược, nhân dịp Tết Nguyên đán. Buổi hội ngộ được tổ chức tại hội trường Chu Văn An. Hà Nội.
Vĩ tuyến 17 phân chia đất nước thành hai miền, hai chiến tuyến. Các học sinh Hà Nội cùng học trường Chu Văn An, Albert Sarraut… ngày ấy bị phân hóa ra mấy luồng. Người thì bị bắt lính. Người thì chạy ra vùng tự do theo kháng chiến. Người thì được cài lại hoạt động trong lòng địch. Trước đây là bạn thân của nhau, cùng hoạt động trong phong trào yêu nước, chung một chiến hào, bây giờ mỗi người một chiến tuyến.
Nhưng rồi nước cũng chảy ra biển, “Nước đi ra biển lại mưa về nguồn”.
Do một thời gian dài không có tin tức của nhau, nhất là còn có nhiều bí ẩn, thực hư. Cuộc gặp mặt lần này là cơ hội làm sáng tỏ những điều bí ẩn: Nhóm sáu người Ngô Thành Ngữ, Trương Văn Hạp, Nguyễn Hữu Hồ… trốn thoát đêm mồng 6 Tết thì đi đâu? Trần Danh Thu, hội trưởng “Hội tri âm’, trưởng ban tổ chức đêm văn nghệ ở Nhà hát Lớn, người kéo violon bài “Tiến quân ca” trong nhà tù Hỏa Lò, là “linh hồn” của phong trào. Tưởng trốn ra vùng tự do tham gia kháng chiến, lại bất ngờ theo lệnh tập trung xuống trường Nam Định, rồi sau khi học xong thì biệt tích, có tin đồn bị địch thủ tiêu, đúng hay sai? Rồi chuyện Lê Hiền Thanh bị mật thám bắt rồi được cứu thoát ở bệnh viện Bạch Mai, Ai cứu? Lại chuyện tài liệu ngoài vùng kháng chiến chuyển vào, được giấu trong bụng một xác chết vô thừa nhận ở nhà xác bệnh viện Bạch Mai là thế nào?
Và còn bao nhiêu chuyện nữa về người này, người kia mà chưa rõ thực hư, chỉ phán đoán theo ý kiến chủ quan của từng người.
Khi nhận được giấy mời, các học sinh – sinh viên của phong trào năm xưa ở trong nước cũng như đang định cư ở nước ngoài đều nhiệt liệt hưởng ứng. Đặc biệt là khi Ngô Thành Ngữ, Trần Danh Thu, Lê Hiền Thanh xuất hiện đã gây không ít ngạc nhiên cho mọi người.
Những thắc mắc đã được những người trong cuộc lần lượt giải đáp.
“Nhóm trốn thoát” gồm sáu người: Ngô Thành Ngữ, Trương Văn Hạp, Nguyễn Hữu Hồ… Khi thấy tình thế nghiêm trọng, đêm mồng 6 Tết họ không ngủ ở nhà nên không bị bắt. Sau khi Tô Văn Thống cùng hai mươi bốn người bị bắt thì Ngữ và năm người còn lại chạy ra vùng tự do theo kháng chiến, vì nếu cứ ở trong thành thì sớm muộn rồi cũng sẽ bị bắt.
Đi theo kháng chiến, Hạp được vào làm xưởng chế tạo vũ khí đóng ở vùng Trường Yên, Ninh Bình. Nay là đại tá, kỹ sư cơ khí chế tạo.
Nguyễn Hữu Hồ vào bộ đội, làm đại đội trưởng, tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ và đã hy sinh trong trận đánh đồi Him Lam.
Còn Ngữ theo nguyện vọng được lên Việt Bắc học trường Y. Khi mở chiến dịch Điện Biên Phủ, Ngữ xung phong đi hỏa tuyến phục vụ dân công và thương bệnh binh, năm 1958 Ngữ được cử sang Đức tu nghiệp, và sau đó bảo vệ luận án tiến sĩ. Năm 1972, Ngữ được cử vào phục vụ chiến trường miền Nam.Ngữ được tặng thưởng nhiều huân, huy chương và phong quân hàm đại tá, là con chim đầu đàn của ngành Quân y. Sau khi đất nước thống nhất, Ngữ được bạn bè bầu làm trưởng ban liên lạc “Phong trào học sinh – sinh viên yêu nước Hà Nội 1949 – 1954”.
Trần Danh Thu theo chỉ đạo của anh Thành, tập trung đúng ngày mồng 6 Tết, xuống trường sĩ quan trừ bị Nam Định để giữ vững tinh thần anh em và xác định với nhau rằng: tập trung đến trường là vì tình thế. Nếu có tinh thần yêu nước thì trong hoàn cảnh nào vẫn có cách để hoạt động. Vì vậy, sau khi học xong lớp sĩ quan trừ bị Nam Định nhiều người vẫn bí mật liên hệ với tổ chức và được giao nhiệm vụ.
Riêng Thu được tổ chức bố trí về làm việc ở ban điều hành cảng Hải Phòng với bí danh 101. Do nắm được tình hình tuyến đường biển, tàu chở vũ khí, quân trang, quân dụng… của Pháp từ miền Nam ra cập cảng Hải Phòng và từ cảng bốc xếp lên tàu hỏa theo đường sắt đưa về Hà Nội. 101 đã báo cáo chính xác những thông tin về Bộ tư lệnh đường 5 để đánh tàu chở vũ khí, quân trang của địch.
Đường số 5 bao gồm cả đường sắt và bộ, nối liền Thủ đô Hà Nội với thành phố cảng Hải Phòng, thành phố lớn thứ hai của miền Bắc sau Hà Nội, nên đường số 5 có vị thế vô cùng quan trọng về chính trị, quân sự, kinh tế. Là con đường chiến lược của thực dân Pháp đối với chiến trường Bắc Đông Dương, bao gồm cả thượng Lào. Con đường huyết mạch vận tải binh lính, vũ khí, lương thực… từ chính quốc và miền Nam ra cung cấp cho chiến trường Bắc Bộ. Để bảo vệ đường số 5, quân Pháp lập một hệ thống đồn bốt dầy đặc, đi tuần tra 24/24 giờ. Luôn nghe thấy trên đường tiếng xe tăng, thiết giáp… gầm rú. Ngoài ra để bảo vệ đường số 5, quân Pháp còn thiết lập ở dọc hai bên đường hành lang vành đai trắng và làng tề, giáp với làng tề là vùng du kích mà quân Pháp hay mở những trận càn. Là vùng tranh chấp giữa ta và dịch, tiếp với vùng du kích là vùng tự do của ta. Như vậy muốn từ vùng tự do bên này sang vùng tự do bên kia đường số 5 thì phải một lần vượt đường số 5, hai lần vượt qua vành đai trắng, làng tề, vùng du kích.
Trần Danh Thu là một trong những người có công lớn đánh tàu địch trên đường 5.
Còn chuyện ai cứu Lê Hiền Thanh và mối tình giữa Thu và Thanh như sau:
Hồi kháng chiến, khi Thu còn phụ trách đội Thanh thiếu niên tuyên truyền xung phong Lãng Bạc, một lần về Sở Thông tin Liên khu III họp, tình cờ gặp Thanh, cán bộ ở bên hội phụ nữ sang liên hệ công tác. Thanh là người Hà Nội. Được gặp “đồng hương”, lại là phụ nữ nên việc làm quen rất nhanh. Thanh cho Thu địa chỉ của mình ở Hà Nội và hẹn Thu khi nào về Hà Nội nhớ lại nhà Thanh chơi. Thời gian sau đó có tin Thanh đã “dinh tê”, Thu rất thất vọng.
Ít lâu sau, Thu về Hà Nội công tác nội thành. Trong một buổi sinh hoạt với giới học sinh – sinh viên, Thu đã làm quen với một thanh niên và rất ngạc nhiên khi biết người đó chính là anh ruột của Thanh.
Ngày gặp lại Thanh, những tình cảm buổi đầu dành cho nhau khi còn ở vùng tự do trở lại nhanh chóng và tuy không ai nói với ai lời nào sâu nặng về tình cảm nhưng cả gia đình Thanh đều tin rằng hai người đã hẹn nhau từ trước. Một điều cũng không ngờ tới là Thanh cũng được tổ chức đưa vào Hà Nội để hoạt động trong phong trào học sinh – sinh viên.
Thanh rất năng nổ trong các hoạt động ủng hộ kháng chiến. Trong một đợt truy lùng các học sinh rải truyền đơn, Thanh bị bọn mật thám bắt giữ. Trong tù Thanh tuyệt thực, không khai báo, rồi lên cơn sốt cao, buộc bọn mật thám phải đưa Thanh đi cấp cứu ở bệnh viện Bạch Mai
Được tin, Thu bàn với Ngữ, Thống cứu Thanh khỏi bệnh viện. Phương án được vạch ra rất cụ thể, chi tiết. Vào một đêm tối trời, nhóm Thu cải trang, khi đột nhập vào bệnh viện thì không thấy Thanh đâu cả! Vậy Thanh không cánh mà bay đi đâu? Hay là bị thủ tiêu? Mọi người hoang mang!
Thắc mắc này mãi đến khi tiếp quản Thủ đô, Thu và Ngữ mới được biết là đội đặc nhiệm đã cứu Thanh trước khi nhóm Thu tới cứu.
Ở vùng kháng chiến, Thanh được đi dự Liên hoan thanh niên quốc tế và được đi học y khoa ở Trung Quốc.
Rồi Thu và Thanh thành vợ chồng năm 1961, sau khi Thu tốt nghiệp đại học sư phạm và Thanh tốt nghiệp bác sĩ ở Trung Quốc về.
Sau đó Thu đi dạy học, là hiệu trưởng trường phổ thông cấp III Trần Hưng Đạo ở Hà Nội. Sau khi giải phóng miền Nam, ban liên lạc giao làm chủ bút tập san “Tiếng quê” tập hợp đăng những ý kiến xây dựng quê hương của Việt kiều.
Sau vụ Lê Hiền Thanh được giải thoát, bọn dịch lùng sục dữ lắm. Thời gian này tổ công tác học sinh nội thành nhận được một số tài liệu ngoài chiến khu đưa vào, Ngữ mang về nhà giấu. Khi Ngữ trốn ra vùng tự do, bố Ngữ bác sĩ tim mạch phát hiện nơi Ngữ cất tài liệu. Trong tình hình địch có thể đến khám nhà bất cứ lúc nào, vì các con ông đều hoạt động phong trào nên ông mang tài liệu gửi một bác sĩ trẻ là học trò của ông đang làm việc ở bệnh viện Bạch Mai. Bọn địch dường như đánh hơi được nên đã tới tận phòng làm việc của bác sĩ này khám xét, nhưng bọn mật thám không tìm ra được tài liệu. Về sau mới biết: tài liệu được bọc kỹ, giấu ở trong bụng một xác chết vô thừa nhận đang chờ đưa đi cho sinh viên thực tập giải phẫu.
33 – ĐÊM TRÊN HỒ
Ban liên lạc tổ chức đêm liên hoan trên thuyền rồng Hồ Tây và giao cho Bích Sang dàn dựng chương trình:
Tái hiện một số tiết mục đã diễn ở Nhà hát Lớn cách đây hơn nửa thế kỷ do phong trào Học Sinh – Sinh viên yêu nước tổ chức, được chính những người biểu diễn tối hôm đó thực hiện, gồm Thu độc tấu violon, Thống thổi sáo. Ngữ đệm cho Bích Sang hát và đồng ca bài Bạch Đằng Giang, Thăng Long hành khúc, Lên đàng… hoạt cảnh Hội nghị Diên Hồng, kịch thơ Hận Phi Khanh, Và đặc biệt như năm xưa, khi hát xong trường ca Sông Lô của Văn Cao thì đèn trên thuyền rồng vụt tắt, truyền đơn được rải tung bay kêu gọi lòng yêu nước.
Rồi gặp gỡ, hát giao lưu.
Mọi người yêu cầu Thu hát lại bài Say súng, Thu ôm cây guitare hát:
Hôm nay chúng tôi say,
Say vì tiêu diệt một đồn Tây,
Hôm nay chúng tôi say,
Say vì súng, say vì đạn
Say, say vì chiến công…
Mọi người vỗ tay tán thưởng. Ông Thống bảo:
- Hồi đó bài hát này làm cả nhà hát ngạc nhiên, thích thú. Lại còn cái đoạn sau mấy vị này khoe vớ được chiến lợi phẩm nào Tôm-sơn, Ép-Em, Côn bẹt cùng chú lính lê dương nữa chứ. Nghe thì khoái, nhưng cũng hơi run, vì lúc ấy xe của bọn lính Pháp vẫn đang chuyển những đồng bào ta bị chúng bắt từ các trận càn về trường Hàng Vôi, nơi chúng chiếm làm địa điểm tra khảo tù binh chỉ cách Nhà hát Lớn vài trăm mét.
Bích Sang nói:
- Thảo nào, hồi đó nhiều bạn cứ hay gọi anh Thu là “Thu say”, tôi cứ ngỡ là anh ấy hay uống rượu lắm.
Mọi người cười rộ lên.
Chiếc thuyền rồng được trang trí lộng lẫy, đèn lồng rực sáng soi bóng lung linh xuống Hồ Tây, như một cung điện trên mặt hồ.
Những tiết mục văn nghệ làm sống lại phong trào yêu nước năm xưa, gợi nhớ bao kỷ niệm.
Mọi người cùng nâng ly mừng cuộc hội ngộ có một không hai này.
Khi tiệc gần tàn, một số người ngồi tụm ở bàn nói chuyện. Một vài đôi kéo nhau ra tựa lan can thuyền tâm sự
Tới nay đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, đất nước đã được thống nhất nhưng cũng có biết bao cuộc ra đi đầy nước mắt với bao nỗi niềm giấu kín ở trong lòng. Một số vì hoàn cảnh bắt buộc, vì kinh tế, vì những mặc cảm, chính kiến, đến mọi chân trời góc biển, từ Pháp tới Canada, Thụy Điển… nhưng đa số là Hoa Kỳ. Mấy chục năm cuộc đời xô đẩy, số phận thăng trầm. Có những người là chuyên gia, kỹ sư, bác sĩ, người là doanh nhân giàu có, có người sắp hết cuộc đời mà vẫn chưa có căn nhà của riêng mình.
Họ gặp lại nhau ở Hà Nội, nơi mà mỗi người có những kỷ niệm, những dấu ấn không thể phai mờ của thời thanh xuân. Gặp lại nhau, họ như quên hết mọi chuyện trên đời mà chỉ nhắc lại quãng thời gian xưa với bao kỷ niệm.
Họ tìm gặp những người “thầm yêu trộm nhớ” năm xưa. Cảnh cũ tuy không còn nhưng người xưa vẫn là đây. Họ chỉ biết nắm chặt tay nhau, cười, hỏi thăm về gia đình, thân thế. Rồi mắt xa xăm buông một lời tiếc nuối: “Giá như ngày ấy…”.
Tiệc rồi cũng sẽ tàn. Hội ngộ rồi cũng sẽ chia ly. Đêm văn nghệ rồi cũng kết thúc. Nhưng những dấu ấn vô cùng sâu đậm về đêm trên hồ này còn đọng mãi trong tâm trí họ.
(còn tiếp)
Nguồn: Hãy trả lại tình yêu. Tiểu thuyết của Phạm Thanh Quang. NXB Văn học, 7-2010.
www.trieuxuan.info
|