III. Trên đường từ Vẽ ra Hà Nội, Phan Tuấn Phong ngồi xe kéo vành sắt cho người phu xe cầm gọng lôi cho xe chạy. Vì sợ nhỡ giờ khai giảng lớp học nên ông buộc lòng phải đi xe tay chứ thực ra ông cũng không nỡ lòng ngồi xe cho người khác kéo. Nhưng trước đây muốn ra chợ thì phải đi bộ hay cưỡi ngựa, ngày nay có xe tay được gọi là “ngựa người” như vậy cũng “văn minh” chán! Tới Hồ Gươm, thấy hãy còn sớm, ông xuống xe đi bộ dạo một vòng hồ nhân thể xem quang cảnh đổi thay của thành phố vì lâu nay ông cũng lười đi thăm.
Hồ Gươm nước vẫn một màu lục tươi như thuở nào, nhưng cạnh Nhà Dây thép dựng trên nền cũ chùa Quan Thượng đã mọc lên một vườn hoa. Trong vườn có tượng lão toàn quyền Pôn Be, được đặt trên một cái cột to. Tay trái cầm cờ, tay phải xòe ra để “bảo hộ” cho một người dân “An Nam”. Nghe đâu người dân này do một anh “loong toong” chạy giống như Toàn quyền ngồi làm mẫu, nhờ cái công ngồi đó mà con anh ta được bổ làm ông phán. Phiên bản tượng Thần Tự Do ở cửa bể Nữu Ước, chở từ Pháp sang thì được cẩu lên đặt ở đỉnh Tháp Rùa. Thần Tự Do thì trên đầu có các tia tượng trưng ánh sáng nên người ta gọi là “đầm xòe”. Trẻ con chạy qua hát “Ông Bôn Be chim bà đầm xòe”.
Trên lề đường, đội xếp Tây đeo súng lục đi trước, “bản xứ” theo sau, cầm dùi khui. Dưới lòng đường chưa trải nhựa, Tây đầm ngồi xe độc mã, một ngựa kéo, song mã hai ngựa kéo, phía trước có ghế cao cho người đánh xe ngựa, mặc áo nẹp, quất roi tanh tách. Gia đình thì ngồi xe thùng, có hai ghế dọc. Họa hoằn mới có một chiếc ô tô, nóc xe chật những thùng nước. Hì hục mãi mới chịu đi. Chiếc xe rùa đủ tượng trưng cho tốc độ “văn minh khai sáng” của người Pháp ở xứ này.
Trẻ bán báo ôm từng xấp báo vừa chạy vừa rao: “Báo ơ! Đại Việt tân báo ơ! Đăng cổ tùng báo ơ!” Phan Tuấn Phong biết Đại Việt tân báo do ông Ba-buy, trong chi nhánh liên minh nhân quyền Pháp ở Đông Dương làm chủ nhiệm, ông phó bảng Phan Châu Trinh làm chủ bút, báo có đăng bài Hiện trạng vấn đề của ông Phan viết rất hay. Còn Đăng cổ tùng báo do các nhà nho có tư tưởng duy tân mới lập. Phan Tuấn Phong gọi mua một tờ. Trang đầu về tứ linh, trong đó có bài Cấm bái, hô hào bỏ hủ tục lễ lạy. Phan Tuấn Phong gật gù: “Hai chữ Đăng cổ có ý nghĩa lắm. Đăng là đèn, cổ là trống. Phải chăng đèn là đèn Tự do, còn trống là trống Tân dân.
Từ bờ hồ ngược lên bắc là phố Hàng Ngang. Ở đây có nhiều người Hoa kiều gốc Quảng Đông bán tạp hóa, chè và thuốc. Mấy hiệu tạp hóa bán thêm sách như Đông Lai bác nghị của Lữ Đông Lai, Ẩm băng thất văn tập của Lương Khải Siêu… Những nhà nho sính đọc tân thư như Phan Tuấn Phong là khách quen của hiệu này. Phan Tuấn Phong nhớ lại chuyện có một người gầy, cao, nói giọng Huế được đưa đến gửi ở một nhà Hàng Ngang, giả làm “hầu sáng”. Sau vì ngại gì đó lại chuyển người khách Huế đến một cái gác xép của một nhà Hàng Bạc. Ít lâu sau, ông giải nguyên Phan Bộ Châu đến đón ông khách đi, lúc ấy mới biết đó là kỳ ngoại hầu Cường Để mà Duy tân hội sửa soạn đưa ra nước ngoài. Lần ấy ông giải Phan có ghé nhà ông Cử Can để bàn việc lập trường Đông Kinh Nghĩa Thục. Như vậy trường lập ra là có sự thỏa thuận của cả hai phái cải cách và bạo động, với sách lược “nội ứng ngoại công”.
Khỏi Hàng Ngang đến Hàng Đào. Vừa nhác thấy Phan Tuấn Phong, bả Cử Can đã vội nói:
- Kìa, bác Đồ Vẽ! Thầy cháu và ông Huấn đã sang bên trường, mời bác sang ngay cho.
Phan Tuấn Phong vội đi sang nhà số 10.
***
Trong ngôi nhà tranh giản dị, trang nhã ở thôn Trang, vách treo bức chữ “Tự cường bất tức”([1]) nét đá thảo phóng túng, Phan Tuấn Phong đang ngồi đọc Am băng thất văn tập của Lương Khải Siêu:
“Vì phong trào của thế giới mà ngày nay Trung Quốc bị ảnh hưởng khiến bộ mặt cũ mấy nghìn năm được đổi thay. Tiến bộ chăng? Phải có tiến bộ, nhưng tiến bộ đó mới chỉ ở bên ngoài mà chưa có bên trong. Nếu bên trong không biến, dù đốt bằng than hồng, dù lấy roi da mà quất, thì tình trạng tiến bộ cũng không có lối nào để phát lộ được. Việc đời, không việc gì có quả mà không có nhân, có nhân mà không có quả. Dân ta tích ác nhân hàng bao nghìn năm nay. Bậc chí sĩ hay lo cho tương lai đừng nên trách quả ngày nay, mà nên tính đến chuyện cải thiện để gây quả tốt cho mai hậu. Muốn thế phải làm thế nào? Tần Dân Tử xin thưa: Từ ngàn xưa đến nay, bất cứ quốc gia nào muốn tiến bộ cũng không thể thoát được một công lệ, công lệ ấy là phải phá hoại. Chà! Thật là bất thường, việc phá hoại thật là bất nhân. Thật ra những bậc chân nhân chí sĩ từ xưa đến nay, nếu không lâm vào cảnh bất đắc dĩ, tất không khi nào phải làm thế, đâu có phải vì sở thích mà cũng chẳng phải vì giận đời, ghét người. Làm thế để thỏa mãn ý khí nhất thời. Sở dĩ cực chẳng đã phải tính đến phá hoại là vì cục vận thúc bách, không phá hoại trước tất cũng phải phá hoại sau, sớm được một ngày thì phúc sớm được một ngày, chậm một ngày thì họa tăng thêm một ngày. Phá hoại sớm tất cái việc cần phá hoại còn nhỏ và cái việc cần phải bảo toàn còn to, chậm phá hoại, tất cái việc cần phá hoại càng to, mà cái việc cần phải bảo toàn càng nhỏ.
Dụng tâm phá hoại, tất sau có kiến thiết. Phá hoại như thế có thể tránh được công cuộc phá hoại sau, mà gây dựng được cơ sở tốt đẹp cho tương lai, đồng thời đền bù được nỗi đau khổ của hiện tại.
Không ý thức phá hoại, để cho công cuộc phá hoại tự đến, tất chỉ có phá hoại mà không có kiến thiết. Một lần phá hoại chưa xong thì hai lần. Hai lần chưa xong thì ba lần.
Tuy nhiên phá hoại thì phải vì kiến thiết mà phá hoại, và nếu không phải bậc nhân giả không nhẫn tâm phá hoại thì không thể nói đến chủ trương phá hoại và nếu không phải bậc có thủ đoạn kiến thiết thì cũng không làm được công cuộc phá hoại…
Đến đoạn cuối Phan Tuấn Phong đọc to lên thành tiếng.
Có tiếng chuông xe đạp leng keng, lũ trẻ trong nhà chạy ùa ra đón:
- A! chú Ba đã về!
Phan Văn Trường giắt xe đạp từ ngoài ngõ vào, cười, nói:
- Anh say sưa đọc Ẩm băng chắc hẳn là tán thành chủ trương bạo động của ông Sào Nam.
Phan Tuấn Phong cười:
- Ấy trước đây tôi cũng tán thành chủ trương bạo động của ông Sào Nam, nhưng sau khi gặp ông Tây Hồ, thấy ông nói phải nâng dân trí trước đã, tôi thấy cũng có lẽ. Vả chăng Tân Dân Tử cũng nói: “Điều mà quốc dân ta khiếm khuyết nhất chính là vấn đề công đức. Công đức là gì? Nhân quần sở dĩ thành được nhân quần, quốc gia sở dĩ thành được quốc gia, chính là nhờ cậy ở điều ấy. Con người là một vật ưa sống thành quần đảng (theo quan niệm của Aristotle), nếu con người không biết sống hợp quần thì có khác chi cầm thú.
Tuy nhiên, thế không phải chỉ kêu suông: “Họp lại đi, họp lại đi!” mà có thể thực hiện được cái thế hợp quần. Tất nhiên phải có một chất gì đó, rót vào trong cái đám rời rạc ấy mới có thể khiến cho chúng nắm giữ được lấy nhau, gây nên cái thế tụ quần, nhiên hậu mới tập hợp nổi quần chúng, cái chất ấy chính là “công đức” vậy.
Trung Quốc của ta vấn đề đạo đức được phát triển không phải là không sớm, nhưng đã quá thiên về tư đức mà sơ hết về công đức. Cổ nhân hàng mấy nghìn năm trước không thể nhất luật ấn định cách thức để cho hàng vạn đời sau được. Ta nhìn thấy sự biến thiên của tư đức thì ít mà của công đức thì nhiều. Tuy nhiên bọn ta sinh ra ngày nay trong đoàn thể này, phải phóng tầm mắt nhìn xem đại thể của thế giới, tính sát dân tộc ta cần phải thế nào rồi phát minh lấy một tân Đạo Đức, nhằm mục tiêu củng cổ, kiện toàn, cải tiến cho đoàn thể của mình, không nên nệ ở tiềm năng chưa nói mà sợ không dám tiến. Mà ý thức được công đức, tất tân đạo đức phát sinh và đường lối Tân Dân xuất hiện.
Khi mục đích duy nhất của công đức đặt để ở nguyên tắc lợi quần, tất nhiên nghìn vạn những điều lý khác sẽ do đó cấu thành vậy. Mới đây ông Cử Can có đến bàn với anh định mở một ngôi trường theo kiểu Khánh Ứng Nghĩa Thục nước Nhật do Phúc Trạch lập ra để giáo dục công đức cho dân chúng. Trường sẽ lấy tên Đông Kinh Nghĩa Thục lập ở nhà ông Cử Cạn số 4 phố Hàng Đào.
- Ngoài ông Cử Can và anh ra còn có những ai tham gia?
- Có các ông Đào Nguyên Phổ, Nguyễn Quyền, Đặng Kinh Luân, Dương Bá Trạc, Lê Đại, Vũ Hành, Phan Huy Thinh, Phan Đình Đối, Nguyễn Hữu Cầu… tham gia. Nay ông Tây Hồ cũng nhận lời đến dạy cho trường đấy nhé. Nếu chú thu xếp được thì giờ cũng nên đến dạy cho trường một số buổi.
- Lần này em về là để xin phép anh cho em sang Pháp học thêm.
- Chú lại định bỏ nước nhà sang sống trên nước của kẻ thù à?
- Vừa rồi anh khen sách của Tân Dân Tử, nhưng Tân Dân Tử cũng nói: “Ta muốn bác khảo cái đạo tự lập cho dân tộc, chọn cái hay để giữ lấy bổ túc cho sở đaỏn, phép chọn gửi không thể không cầu ở người da trắng, không thể không cầu ở dân Teuton, không thể không cầu ở dân Anglo - Saxon.
Tại sao dân da trắng lại ưa thắng hơn các loại dân khác?
Mọi loại dân khác đều hiếu tình, thì dân da trắng hiếu động. Mọi loại dân khác cố bám lấy hòa bình thì dân da trắng lại ưa cạnh tranh. Mọi loại dân khác bảo thủ thì dân da trắng tiến thủ. Do đó mọi loại dân khác chỉ có thể phát sinh được văn minh của dân da trắng lại truyền bá được văn minh. Phát sinh văn minh nhờ ở thiên nhiên, nhưng truyền bá văn minh thì cần ở nhân sư.
Dân Tenton khi khởi thủy bất quá chỉ là một giống man tộc trong đám chủng tộc như rừng của giống Nhật Nhĩ man, nhưng tính tình của họ cương cường, độc lập, tự do, khí khái, di truyền lại cho con cháu qua đợt tôi luyện nung đúc của văn hóa La Mã nên biến thành một đặc tính của dân tộc.
Nhờ đó nên họ đã tổ chức được một dân tộc quốc gia, xây dựng được chế độ đại nghị, khiến nhân dân đều có thể tham dự chính quyền, tập hợp ý của nhân dân làm ý công, quyền hạn của nhân dân làm quốc quyền. Ngoài ra họ còn phân định được thế nào là quyền hạn của đoàn thể, thế nào là quyền hạn của cá nhân, phân chia rành rẽ quyền hạn của chính phủ trung ương và địa phương tự trị, không bên nào xâm phạm của bên nào. Toàn thể dân tộc đều có thể thích ứng với thời đại biến thiên để phát đạt nảy nở.
Đến như dân Anglo - Saxon lại còn hơn tất cả các dân tộc Teuton khác, là vì lý do gì? Cái tác phong tự mình giúp mình, trọng độc lập của họ rất hùng hậu. Từ khi còn nhỏ sống trong gia đình, trong học đường, cho mẹ, thầy giáo đều không nhìn họ bằng con mắt miệt thị như kẻ phụ thuộc, nhờ thế mà họ có thể tự luyện dần được việc đời để khi lớn có thể tự lập được không phải nhờ cậy vào ai. Họ lại còn là một dân tộc rất lo giữ phép nước trong trật tự. Sự hiểu biết thưởng thức của họ rất rộng, họ không thích những việc làm có tính chất nông nổi vô mưu, tư tưởng về quyền lợi của họ rất mạnh, cho quyền lợi là một thứ sinh mệnh thứ hai của cuộc đời, cái tơ cái tóc không chịu bỏ qua. Thể chất của họ lại rất to lớn, có sức mạnh, chịu đựng được những cuộc mạo hiểm. Tính nết họ kiên nhẫn thiên ma bách chiết không nản chí. Họ lấy vấn đề thực nghiệm, không kỳ quản cao thấp, và bọn quan lại ngồi rồi ăn không thường không được ai trọng vọng. Tính chất bảo thủ của họ cũng nhiều, nhưng họ biết theo thời thế nhận xét người ngoài để phát huy bản tính cố hữu của mình.
Lại xem tính chất của quốc dân ta, so sánh với của dân tộc suy yếu kia với dân tộc hưng thịnh kia dị đồng là ở những điểm nào. Nhất nhất đều phải đem ra mà bàn bạc, mà giám sát để rồi đáng cải tiến thì cải tiến, đáng bổ túc thì bổ túc. Có như thế thì tân quốc dân mới có thể thành được.
Phan Tuấn Phong tròn mắt ngạc nhiên:
- Chữ Hán của chú mới đựng đầy lá mít mà sao cũng thuộc văn ẩm băng như cháo chảy vậy?
Phan Văn Trường cười:
- Anh không nhớ là em đã có hai năm học vỡ lòng chữ Hán à? Sau khi chuyển sang học chữ Tây, em lại tra Hoa Pháp tự điển để mày mò đọc sách bạch thoại Trung Quốc.
Thì ra Phan Văn Trường hết biết anh mê Ẩm băng nên đã cố gắng tìm đọc Ẩm băng, để có đủ lý lẽ xin anh đồng ý cho mình sang Pháp học. Ông nói tiếp:
- Một người Tàu lỗi lạc như Lương Khải Siêu đã nói như vậy, mà ta cứ muốn sang Tàu học để làm gì?
- Thế còn nước Nhật chẳng phải đã nhờ duy tân mà trở nên cường quốc ở Đông Á hay sao?
- Nước Nhật đã có chủ trương duy tân nhưng dù sao cũng vẫn là một nước quân chủ. Trong sắc lệnh công bố vào ngày 30-10-1890 có đoạn: “Dân chúng phải luôn luôn tôn trọng hiến pháp và giữ gìn luật lệ. Nếu có những trường hợp bất ngờ xảy đến, hãy can đảm hiến mình cho quốc gia. Như vậy là bảo vệ và duy trì sự thịnh vượng của ngôi vị Thiên hoàng lâu dài bền vững như Trời và Đất! Trong thời chiến tranh, Bộ Giáo dục từng kêu gọi nhân dân: “Chết vì Thiên hoàng không thể coi là sự hy sinh vô ích!”. Trong quyển Giáo dục chế độ cơ bản đã chép: “Hãy tuân theo sắc lệnh giáo dục của Thiên hoàng để bảo vệ và duy trì sự thịnh vượng của thời Tiên đế… Mọi người hãy gạt bỏ ý nghĩ: mục đích của giáo dục là phát triển cá tính của mỗi người, mà trái lại, cần phải quan niệm rằng, giáo dục là để nâng cao đời sống của nhân dân, bảo trì sự thịnh vượng của quốc gia và giữ vững Ngai vàng của Tiên vương để lại”.
Một nước có chủ nghĩa quốc gia quá khích như vậy tất sẽ bài trừ tư tưởng tự do dân chủ của các nước Âu Tây và cổ võ tinh thần ái quốc, tư tưởng trung quân theo tinh thần của Khổng giáo. Cũng vì nghĩ như vậy nên em không tán thành chủ trương Đông du, mà muốn sang các nước Âu Tây như Pháp, Đức, Anh để học tập về tư tưởng tư do dân chủ, chế độ chính trị đại nghị và luật pháp của các nước ấy để về bổ cứu cho đạo đức, chính trị và luật pháp nước nhà…
Giữa lúc đó có tiếng người ầm ầm cất lên:
- Anh cả và chú Ba có chuyện gì mà rôm rả thế!
Thì ra người vừa vào là Phan Văn Kiên. Phan Tuấn Phong nói:
- Chú Ba vừa mới về bàn với anh chuyện định sang Pháp học thêm để về giúp ích cho nước nhà.
Phan Văn Kiên quát lên:
- Chú có biết tình hình dân nước hiện nay đang kiệt quệ như thế nào không? Những ngày đầu tiên dưới quyền thống trị của Tây, mỗi người dân Bắc Kỳ phải đóng thuế thân 5 hào, mỗi người dân vào bụng tráng đinh phải đi phu 48 ngày trong một năm. Trước dư luận phản đối của nhân dân, bọn thống trị Pháp tìm cách lừa bịp bằng cách bớt đi 20 ngày, nhưng lại bắt trả giá 2 đồng nộp vào thuế thân. Thuế thân do đó tăng lên 2 đồng 5 hào. Dã man nhất là người chết không được miễn thuế, do người sống phải đóng thay vào, vì Pháp bổ khoán cho từng làng phải thu đủ mức thuế đã ấn định. Về thuế điền, trước kia mỗi mẫu ruộng vào hạng tốt nhất phải đóng có một đồng bạc thì nay đã phải đóng tới một đồng rưỡi. Cộng vào đó là món ngoại phụ mỗi ngày một tăng. Ngoài ra còn có các thứ thuế giám thu, đặc biệt là rượu, muối và thuốc phiện. Nhà máy sợi thành lập thì một số khá lớn khung cửi ở thôn quê phải nghỉ việc. Bông sợi ngoại quốc tràn vào thì nghề trồng bông bị bóp nghẹt. Tư bản Pháp nắm độc quyền nấu rượu thì bao nhiêu người ở thôn quê sinh sống về nghề này và dùng bã rượu để nuôi lợn trước kia đều phải đình nghiệp. Những nông dân, những thợ thủ công bị cướp ruộng đất, bị thất nghiệp, bị sưu cao thuế nặng trở nên phá sản phải bỏ làng đi làm phu mỏ, phu đồn điền cao su. Đợi cho đến lúc chú Ba học thành tài về nước thì dân nước này đã chết hết rồi còn lấy ai mà dạy dỗ. Chẳng khác gì người thấy con cá bị kẹt trong rãnh bánh xe hứa sẽ đem nước sông Giang sông Hà về cứu nó, cá trả lời đợi đến lúc ông trở về thì đã thấy tôi ở hàng cá khô rồi!
Phan Văn Trường nhẹ nhàng:
- Thế theo anh Hai thì ta nên làm thế nào?
Phan Văn Kiên nói như gắt:
- Tình hình này chỉ còn có cách bạo động thôi. Mấy hôm trước tôi có gặp ông Lang Seo từ chỗ cụ Đề trên Yên Thế về đây. Tôi ngỏ ý muốn lên Yên Thế thì ông Lang Seo bảo tôi cứ nên ở lại đây để làm tay trong cho nghĩa quân, khi nào có chuyện cần ông ấy sẽ về bàn bạc với tôi.
Phan Văn Trường nói:
- Theo ý em thì việc ấy không nên. Các vị văn thân từng tiếp xúc với cụ Đề, đều cho rằng cụ Đề kiên quyết chống Pháp nhưng nặng về chủ nghĩa địa phương và chỉ nhìn vào cục bộ. Năm 1906 ông Phan Châu Trinh đã tới Yên Thế vào đồn Tú Nghệ gặp cụ Đề để bàn luận thời cuộc, cụ mời ở lại nhưng ông biết cách cuộc của cụ Đề không thể nào thi thố gì được, nên bỏ đi…
Phan Văn Kiên nổi nóng:
- Mặc xác cái ông Phan Châu Trinh nhà chú. Ông ấy từng nói: “Bất bạo động, bạo động giả tử”. Nhưng dù không bạo động chăng nữa, cũng đến chết dần chết mòn vì chính sách bóc lột tận xương tận tủy của thằng Tây. Cho nên tôi rất thích câu trong bức thư của ông Phan Bội Châu gửi cho ông Phan Châu Trinh: “Dân đã không còn thì làm chủ sao được?”.
Phan Văn Trường ôn tồn:
- Theo em biết thì ông Phan Châu Trinh sang Nhật cùng ông Phan Bội Châu, ông Phan Bôi Châu nói đến muốn tìm cách về nước, ông Phan Châu Trinh bảo: “Anh cứ ở ngoài chăm những thiếu niên du học, dân trí dân khí ta đương quá thấp, dẫu anh có về cũng chỉ rước lấy một cái chết uổng vô ích”. Khi chia tay, ông Phan Châu Trinh lại nói với ông Phan Bội Châu: “Người trong nước hy vọng ở anh quá nhiều. Anh nhất thiết chớ vội về. Nếu nhỡ hỏng thì nhân tâm chết mất! Tôi về đây ít lâu, tìm cách chăm mở dân trí, nuôi sức dân, bao giờ đánh đổ cái hạ cấp chướng ngại xong lúc ấy anh về nước mới có chỗ đặt chân, chứ như bây giờ thì ta tạm gác hai chữ “bài ngoại” ra một bên đã. Như vậy chính kiến của hai ông tuy có khác nhưng đều nhắm mục đích giành độc lập cho dân nước… Ông Phan Châu Trinh nêu khẩu hiệu “Khai dân trí, chấn dân khí, hận dân sinh” cũng vì lẽ đó…
Phan Văn Kiên dằn giọng:
- Muốn cho dân trí được khai thông và dân quyền được phát triển điều cần thiết là phải đấu tranh cho dân tộc được giải phóng. Mà muốn cho dân tộc được giải phóng thì cứu cánh của nó vẫn phải là dùng bạo động để đánh đổ kẻ thù, đoạt lấy chính quyền. Cách mạng không manh động, nhưng cách mạng không bao giờ kiêng bạo động, sợ đổ máu. Người cách mạng dưới một điều kiện nào đó, có thể thúc đẩy cho cách mạng tiến lên, nhưng vẫn kịch liệt chống chủ nghĩa cải lương rơi vào chỗ lừa phỉnh của giặc và ngăn cản bước tiến của cách mạng. Chú có muốn đi Tây thì cứ việc đi, nhưng từ giờ trở đi chú đừng có nhìn mặt tôi nữa. Còn anh cả, anh có muốn mở trường để khai dân trí thì cứ việc mở, nhưng nhỡ đến lúc Tây đóng cửa trường thì các anh tính thế nào? Chẳng lẽ lại chịu bó tay không dám chống lại vì sợ bạo động thì chết à!”.
Nói đến đây, Phan Văn Kiên hậm hực bỏ đi không quay đầu lại. Phan Tuấn Phong và Phan Văn Trường nhìn theo ngơ ngác…
***
Ngôi nhà số 4 phố Hàng Đào làm bằng gạch, ngoài cùng là gian cửa hàng có những tấm ván cửa lùa xếp chồng lên làm cái bục ngồi hàng. Sát bên ngoài bục kê một cái yên gỗ mộc. Ngồi phía trong cái yên là con gái ông Cử Can, thường gọi là “cô Hai ngồi hàng”. Trên cái yên có một cây sào dài buộc những mép dạ đủ các màu xanh, đỏ, vàng, trắng, gió đưa phất phơ trông rất đẹp mắt. Phía trong sát với cái bục kê một tấm phản dài, trên phản ở sát tường kê tủ, trong xếp những súc vải đủ loại, mềm mại, lóng lánh sáng trong nắng mới. Nào là lụa Hà Đông, the La Cả, đũi Vân Xa, lanh Bưởi, gấm Thượng Hải…
Khi thiếu thứ hàng khách muốn mua thì bà Cử Can giả vờ giở hết tấm hàng nọ đến tấm hàng kia để giữ khách, trong lúc “cô Hai ngồi hàng” chạy sang cửa hàng bên đem về tấm hàng khách yêu cầu. Làm như vậy người ta gọi là “chạy xách”, bán được thì vốn lãi phải trả cho người có hàng còn người chủ cửa hàng có khách chỉ được tiếng là mình có đủ mặt hàng, không đến nỗi khách vào mua phải ra không.
Buổi sáng hôm nay là ngày sáu, ngày phiên chợ, các hàng the, hàng tơ, những người bán the, lụa, lĩnh chưa chuội phần nhiều là đàn ông ở các làng Bưởi, Đại Mỗ, La Cả, người nào cũng đeo ở vai một cái tay nải nâu đựng hàng, gấp thật thẳng, kẹp giữa hai tấm ván bóng nhoáng.
Nhưng hôm nay phố Hàng Đào có một không khí nhộn nhịp khác htường. Người ta kháo nhau ngôi trường tư thục do ông Cử Can mở ra để dạy học trò về Hán văn ở số 10 phố Hàng Đào, nay đã đổi thành trường Đông Kinh Nghĩa Thục. Mọi hoạt động dạy và học của trường nằm lại phía sau của căn nhà và tầng gác phía trên. Học sinh vào trường bằng cửa sau ở phố Hàng Quạt. Nhiều người vẫn bán tín bán nghi, cò hỏi xem có thật là trường học dành cho tất cả mọi đối tượng (già, trẻ, gái, trai) mà người học không mất tiền hay không? Thời buổi đất nước loạn lạc với chồng chất khó khăn về kinh tế, chính trị… một trường tư không lấy tiền quả là điều kỳ lạ! Khách mua hàng thỉnh thoảng ngừng lại giương tai lắng nghe tiếng giảng bài sang sảng của thầy hay tiếng đọc ê a của các môn sinh. Không ít người đã xin phép lên tận lớp học để được tham quan. Họ sửng sốt khi chứng kiến quang cảnh hai lớp học, một dành cho nam, một dành cho nữ diễn ra rất sôi nổi. Những cái đầu để chỏm ở giữa hoặc hai trái đào hai bên, chen với những mớ tóc đen nhánh quấn trong vành khăn nhiễu Tam Giang, phất phơ chiếc đuôi gà. Lớp nữ thì có hai cô giáo, một là cô Năm (Lương Thị Tín) con gái ông Cử Can phục trách.
Trường chia làm tám lớp, từ tiểu học đến trung học ngoài lớp học ban ngày, có lớp học buổi tối để thuận tiện với điều kiện sinh hoạt và làm việc của từng loại học viên.
Ở lớp trung học gồm những môn sinh đã thông chữ Hán, mọi người đều mặc áo cánh, cắt tóc ngắn gọn gàng. Chánh nghị viên của nhà trường Phan Tuấn Phong đang giảng bài đầu tiên Văn minh tân học sách, tiếng rành rọt dễ nghe:
“…Nghĩ lại văn minh nước ta là có cái đặc tính luôn luôn tĩnh như vậy, văn minh Âu châu thì có tính luôn luôn động mãi như kia. Cái đó ai cũng biết. Nhưng vì sao lại như thế? Ấy là do có ảnh hưởng tương phản và nguyên nhân khởi điểm đấy. Nay xin lần lượt kể ra:
Thế nào là ảnh hưởng tương phản? Xét ra các nước châu Âu: trên có nghị viện duy trì quốc thi([2]), dưới có báo quán để đạo đạt hạ tình([3]). Đại trước tác thì có Dân ước luận của Lư Thoa, Tiến hóa luận của Tư Tân Tắc, Dân quyền thiên của Mạnh Đức Tư Cưu([4]). Suy rộng ra, nào diễn thuyết, nào thi ca, đều cốt để phát huy cái chủ nghĩa yêu nước, yêu nòi giống. Nước ta có thể không làm văn sách thì sợ phạm húy, dâng thơ cho người trên thì chỉ e mang tiếng vượt phận nói leo, chỉ chừng đó là đã khác hẳn với các nước không cấm nhân dân bàn bạc. Huống chi vào chuyện trích quái, nào chuyện truyền kỳ, thơ bao nhiêu quyển, văn bao nhiêu tập văn hóa hóa lòe loẹt thì có, còn nói về mở mang trí khôn cho dân thì không hề có gì! Đó là điều ta trái với người về tư tưởng.
(còn tiếp)
Nguồn: Luật sư đỏ. Tiểu thuyết của Hoài Anh. NXB Văn học sắp xuất bản.
www.trieuxuan.info
|