tiểu thuyết
truyện ngắn
ký
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm:
Tiểu thuyết
10.02.2012
ALEKSANDR Taradankin
Hiệp hai

2. Hàng chục báo cáo, chỉ thị xếp thành một tập cần phải đọc. Chỉ thị mới, báo cáo mới, công tác mới, mà như thế có nghĩa là thêm những lo lắng mới. Đại tá Ktorov không nhận thấy hoàng hôn đã buông xuống từ lúc nào. “Phomin bây giờ đang ở đâu? Sao mãi đến giờ vẫn chưa thấy đến? - Đại tá tự nhận thấy rằng suốt ngày, ông chỉ nghĩ đến kế hoạch chuyến đi Hannover sắp tới của Phomin.


Cuối cùng, cửa phòng mở, đại úy Phomin xin phép được vào.


 - Mời đồng chí vào - Đại tá im lặng nhìn Phomin. “Kể quần áo và đầu tóc cũng làm con người thay đổi nhiều thật đấy - Đại tá thầm nghĩ - Mới nhìn thì thấy cũng thế cả thôi, nhưng …”. Phomin đứng đó, mái tóc anh bây giờ chải ngược ra sau, đường ngôi như một sợi chỉ trắng nhỏ làm cho khuôn mặt anh khác hẳn đi - Cần phải nói rằng ông thợ đã cắt tóc cho anh là một người lành nghề - Đại tá nói.


 - Khổ sở lắm mới cắt được cái tóc vừa ý - Phomin cười nói - Đồng chí biết không, phải đến mãi phố Vinhemstrasse cơ đấy. Vào đến hiệu, vừa ngồi xuống ghế thì ông thợ nói ngay: “Ngài có mái tóc rất Nga”. Thế là tôi phải bịa ra chuyện tôi là phiên dịch ở câu lạc bộ sĩ quan Nga, rằng tôi có lần cắt tóc ở đấy không vừa ý nên phải ra đây để sửa cho thành kiểu tóc Đức. Ông ta tin và đã cố gắng làm tôi vừa lòng.


 - Còn nhẫn đồng chí chọn được rồi chứ?


 - Vâng, nó đây - Phomin nói rồi chìa tay cho đại tá xem chiếc nhẫn vàng.


 - Được đấy. Theo quan niệm của những người Đức thì nhẫn là tượng trưng cho sự giàu có và đáng kính - Đại tá nói rồi nhìn Phomin vẻ trầm ngâm - Đồng chí có biết tục đeo nhẫn sinh ra ở đâu và như thế nào không? Tất cả đều bắt nguồn từ phong tục trao nhẫn cưới. Không hiểu vì sao ở nước ta bây giờ người ta không chú ý đeo nhẫn như trước nữa.


Mỗi khi đại tá hồi tưởng hay tập trung suy nghĩ một điều gì là lông mày ông lại di động, như muốn ngăn cách cái trán cao với mái tóc màu đen đã bắt đầu ngả trắng, còn mấy ngón tay thì nắm thật chặt chiếc bút chì, gõ gõ xuống mặt bàn, và bây giờ, trước khi trả lời câu hỏi do chính mình đặt ra, tay ông vẫn mân mê chiếc bút chì, rồi thong thả cắm nó vào chiếc cốc bằng đồng trên bàn.


Phomin chờ Ktorov nói, chăm chú nhìn ông, người mà từ lâu nay anh rất kính phục. Anh có cảm tưởng là giờ đây, khi cả hai phải vùi đầu vào những phương án thực hiện cái kế hoạch sắp tới, không hơi đâu mà nghĩ đến chuyện chiếc nhẫn, nghĩ đến chuyện đùa vui trong lúc này. Thế nhưng cái đó đã xảy ra, mà không phải chỉ có lần này. Và anh nhận thấy đại tá pha trò rất đúng lúc. Có thể nói đó là những phút nghỉ ngơi trước khi bắt tay vào một nhiệm vụ quan trọng.


Đại tá Ktorov mặc chiếc áo vét màu xám, cổ rộng và thắt chiếc cà vạt đen - chiếc cà vạt mà ông thích và thường đeo hơn cả. Trông đại tá mặc giản dị và lịch sự. Phải chăng đó là sự thể hiện của một tính cách có văn hóa? Đúng thế, văn hóa rút ra từ cuộc sống. Phomin biết đại tá xuất thân từ một gia đình công nhân. Năm 1930, ông tốt nghiệp xuất sắc khoa sử Trường Đại học Tổng hợp Leningrad nhưng không ở lại công tác tại trường. Người ta điều ông về công tác ở cục an ninh quốc gia. Rồi chiến tranh, ông luôn có mặt ở các vị trí tiền tiêu nguy hiểm nhất trên mặt trận thầm lặng của mình. Ông thuộc vào thế hệ những chiến sĩ công an chân chính của Dzerginski, những người đã cống hiến toàn bộ cuộc đời mình cho sự nghiệp, thông minh, trung thành và tận tụy.


 - Tôi đang nói dở chuyện chiếc nhẫn - Đại tá nói - Theo Semeon Sabunski, một nhà hiền triết của thế kỷ thứ XV, thì hồi đó chú rể phải đeo nhẫn sắt để “tỏ sức mạnh của người chồng”, còn cô dâu thì đeo nhẫn vàng để chứng tỏ “đức tính thùy mị và sự trinh bạch của người vợ”. Nhưng theo Kinh Thánh thì lại khác. Kinh Thánh viết rằng chú rể phải đeo nhẫn vàng và cô dâu đeo nhẫn bạc, mà cái đó là để nói lên sự hơn hẳn của người chồng đối với người vợ, vì thế người vợ phải nhất mực tuân theo chồng.


Nói chung thì lịch sử chiếc nhẫn gắn liền với lịch sử của luật hôn nhân, và bắt đầu có từ khi họ trai trả tiền xong, họ gái phải giao cô dâu cho chú rể hoặc chủ gia đình họ trai. Việc hôn nhân từ đấy bao hàm nhiều tính chất độc lập khác nhau: sinh hoạt, tôn giáo, pháp luật. Ở nước Nga, sau Pierre đệ Nhất, lệ trao nhẫn trở thành nghi thức của nhà thờ và là một phần không thể thiếu được của lễ cưới. Trong trường hợp đó, nhẫn tượng trưng cho sự bền vững, sự trong trắng và đẹp đẽ của đôi lứa. Cũng có nơi, nhẫn cưới được xem như chiếc bùa phòng mọi sự bất hạnh… Tôi không làm đồng chí chán đấy chứ? - Ktorov nhìn đồng hồ rồi hỏi.


 - Thưa đại tá, không ạ, ngược lại… bao điều hứng thú xung quanh chiếc nhẫn! Tôi không ngờ nó lại có cả một lịch sử lâu đời như thế…


 - Tôi là một nhà sử học và cái chính là do tôi thích tò mò, thích hiểu hiết… Nhưng thôi, để lần khác. Chúng ta phải kiểm tra lại mọi thứ một lần nữa: hộ chiếu, giấy đi đường, đăng ký xe… tất cả đều đầy đủ và hợp lệ. Tôi đã tự kiểm tra các thứ đó. Còn đây là bức thư chính tay Mevit viết để gửi cho cô hầu gái của hắn. Tất nhiên là đồng chí đến được vào lúc cô hầu gái vắng nhà thì tốt hơn. Mà có gặp cô ta cũng chẳng có gì đáng ngại, bức thư sẽ là vật làm tin chắc chắn nhất. Không biết Mevit có đoán được ý định của chúng ta về việc sử dụng bức thư này không?


 - Theo tôi thì có, vì hắn lại mặc cả, yêu cầu lưu ý đến việc hắn khai báo thành thật mọi thứ và giúp ta tiến hành công việc này.


 - Hắn có nói thêm gì mới về Stak không?


 - Mới thì rất ít. Mevit đã để lộ rằng cơ quan của Stak từ trước đến nay vẫn hoạt động dưới danh hiệu một bộ phận của cơ quan chuyên trách vấn đề trao đổi tù binh, trực thuộc Ủy ban quân quản Hannover, gọi tắt là Xi-In-Tim. Người giúp việc đắc lực của Stak là thiếu tá Braun.


 - Cái đó tôi biết. Nghĩa là không có gì mới. Còn gì nữa không?


 - Mevit đã cho biết số điện thoại của hắn ở nhà riêng và Ủy ban. Theo lời Mevit thì hàng tuần, từ thứ sáu đến thứ hai, Stak không có mặt ở thành phố. Sở chỉ huy của Stak đóng ở tầng hai, bên phải cổng chính. Cổng ra vào bao giờ cũng có một công an vũ trang người Anh và một cảnh sát Đức đứng gác. Xung quanh có hàng chục chiếc xe gắn vô tuyến túc trực. Dọc hành lang trong văn phòng làm việc của các nhân viên Stak lúc nào cũng có đông người. Muốn vào phòng làm việc của Stak, ở cửa thứ ba, phía trái hành lang, trước tiên phải qua hai cô thư ký và phiên dịch của hắn. Cả hai, theo lời Mevit, có lẽ là người Anh. Cửa ra vào Ủy ban quân quản luôn mở, ai cũng có thể vào được. Đó là tất cả những gì tôi moi được ở Mevit trong lần hỏi cung cuối cùng, đồng chí Sokolov đã cho tôi biết một số tài liệu quan trọng hơn.


 - Tài liệu gì?


 - Dưới quyền chỉ huy của Stak hiện giờ còn có một nhóm người gọi là “nhóm phục vụ tang lễ”.


 - A, cái bọn đào huyệt ấy à. Tôi biết! Núp dưới danh hiệu đi tìm những kẻ mất tích, bọn chúng đi khắp đó đây để thu thập tài liệu. Phải nói rằng bọn chúng cũng thông minh ra phết. Có phải thế không? Trước chúng cũng ở lỳ ở đây gần nửa năm cơ đấy.


 - Thưa đại tá, còn một chi tiết nữa. Mevit cho rằng, mà tôi nghĩ hắn nói đúng, cơ quan đầu não của Stak không đóng ở đó, mà là ở một chỗ khác, có thể là ở biệt thự mà có lần Mevit đã nhắc đến. Hannover chỉ là nơi tập trung và phân tích bước đầu những tài liệu và tin tức đã thu thập được.


 - Tôi đã tự đặt mình vào một tình huống có thể xảy ra - Ktorov nói - Tôi suy nghĩ nhiều về khó khăn ta chưa lường được, về việc biết đâu đồng chí có thể phải chạm trán với người của Stak, thậm chí ngay cả ở nhà Mevit. Ai biết được những gì đã xảy ra ở đấy trong thời gian qua. Thành ra, trong trường hợp ấy, đồng chí có thể bảo là quen thân với ngài Kliughe - Đại tá mỉm cười - Mà quả thực đồng chí cũng quen biết với hắn đấy chứ, phải không? Đồng chí cứ bảo là biết tin đồng chí đi Hannover, Kliughe đã nhờ đồng chí chuyển giùm cái này, cái nọ. Cái gì mà chẳng được. Nếu chúng có nghi ngờ gì và kiểm tra thì cũng đã muộn rồi. Hơn nữa, đồng chí lại là một nhân vật chính thức, có quyền bất khả xâm phạm, giấy tờ đầy đủ... Còn bây giờ đến chuyện Vusponski. Trong khi khai báo, Vusponski đã có lần nói đến phân xưởng sửa chữa ô tô, nơi anh ta đã làm việc, đồng chí nhớ chứ?


 - Vâng, tất nhiên, ở phố Alberstrasse. Nhà Mevit cũng nằm trên phố đó.


 - Đồng chí thấy thế nào nếu như đồng chí ghé qua xưởng đó ít phút? Hỏi qua xem có ai là Vusponski không, như thể tìm anh ta để trả một món nợ nhỏ chẳng hạn.


 - Có nghĩa là đồng chí vẫn cho rằng cần phải kiểm tra lại Vusponski? Thú thật là tôi không hề nghĩ đến điều đó. Kể ra đây cũng là dịp thuận tiện để làm việc đó. Đồng chí nghĩ thế nào nếu tôi mang một tấm ảnh của Vusponski đến xưởng và hỏi xem đã có người như thế làm việc ở đó chưa?


 - Tất nhiên, có thể làm như thế. Nhưng như thế thì đồng chí phải tìm cớ khác. Bảo đến trả nợ mà không biết người là không nghe được. Đồng chí cứ bảo với những người ở đấy rằng đồng chí là người quen của Vusponski. Tóm lại, đồng chí cần phải hành động thật linh động và thận trọng, chớ để lòi đuôi ra. Phải làm thế nào để người ta tin. Sau đó phải lập tức thủ tiêu bức ảnh, không được giữ nó trong người.


 - Tôi sẽ cố gắng làm họ tin.


 - Theo tôi, đồng chí nên bắt đầu từ việc kiểm tra Vusponski, sau đó hãy làm những việc còn lại.


 


3. Về đến nhà, không biết đã bao nhiêu lần, Phomin lại giở tấm bản đồ Hannover ra xem, lần theo quãng đường mà ngày mai anh phải đi. Lúc tắt đèn, anh bắt gặp cái nhìn của người phụ nữ trẻ trong chiếc ảnh treo trên tường.


“Ôi Natca, Natca([1])!”.


Những tiếng lá xào xạc ngoài cửa sổ không hiểu sao gợi cho Phomin nhớ lại tiếng sóng vỗ. Anh nằm im, hai mắt mở to, liên tưởng tới tiếng sóng biển quê hương, những hạt mưa xuân ấm áp, liên tưởng tới Natasha với chiếc áo choàng của anh trên vai, và nhớ tới chính mình lần đó bị ướt sũng nhưng vẫn cảm thấy hạnh phúc nhất đời… Hôm ấy là lần đầu tiên Phomin được gặp Natasha ngoài bốn bức tường của quân y viện. Được các bác sĩ cho phép ra ngoài dạo chơi, Phomin cố tránh sự ồn ào và vui sướng quá mức của những người vừa khỏi bệnh để được ngồi một mình. Anh lần ra bờ biển và mải mê ngắm cảnh biển với bao nhiêu hòn đảo nhấp nhô, hít thở không khí trong lành. Chiều tối, sau phiên trực, Natasha chạy đến tìm anh, và nếu cô ta đã kịp thay chiếc áo choàng trắng bằng chiếc áo dài bằng lụa, in hoa sặc sỡ, thì trông cô chẳng khác gì một cô bé đang học phổ thông.


Hôm xuất viện, hội đồng y khoa cho rằng cần phải gửi Phomin đi điều dưỡng hai tháng ở trại điều dưỡng gần đấy. Anh đã phải chạy chọt mãi, người ta mới giải quyết cho anh ở ngoại trú, nhưng phải đến ăn cơm ở trại. Thế là anh sống trong ngôi nhà nhỏ bé nhưng ấm cúng, có những giàn nho bao bọc xung quanh của Natasha. Ít lâu sau, hai người cưới nhau. Đám cưới của họ rất đơn giản. Đến dự ngày vui của họ chỉ có hai cô bạn và một vị trung tá đứng tuổi, vẻ hiền hậu, trưởng khoa phẫu thuật quân y viện, nơi Natasha làm việc.


Những ngày hạnh phúc ngắn ngủi của họ cũng là những ngày ác liệt nhất của cuộc chiến tranh. Lúc đó, các đoàn quân của Đức đang ồ ạt tiến về phía Đông. Mặc dù thế, đối với Phomin, đó là những ngày vui sướng, hạnh phúc nhất mà trước cũng như sau này, anh không bao giờ có nữa. Những lời tâm tình, những dự định về tương lai, bờ biển Apkhazia ấm áp… Tất cả những cái đó đã thuộc về họ.


Phomin đã bình phục hẳn. Lúc đầu, thật không ai có thể tin rằng anh có thể trở về với tiền tuyến. Một viên đạn xuyên thủng ngực anh và chỉ cách tim nửa centimet. Những ngày đầu mới đến quân y viện, anh mê man bất tỉnh. Trong những ngày ấy, Natasha xuất hiện. Và sự xuất hiện của cô, Natasha của anh lúc này, quả là một điều kỳ diệu, thật đúng lúc và đúng chỗ.


Trước lúc về đơn vị, Phomin biết rằng anh sắp được làm bố và những ý nghĩ đó làm anh tự hào. Anh cảm thấy mình già dặn, chín chắn hẳn ra. Rồi anh không khỏi buồn khi phải chia tay Natasha.


Mùa thu năm 1943, Natasha sinh con trai. Không muốn bỏ việc ở quân y viện, Natasha viết thư cho mẹ Phomin và nhờ bà trông cháu hộ. Mẹ Phomin đã viết thư báo cho anh biết rằng bà rất sung sướng được đến ở với con dâu và cháu, vì trước đó bà phải sống đơn độc với nỗi buồn của mình, bố anh đã hy sinh trong trận chiến đấu bảo vệ Moscow. Ở Hagova, ba người đã sống cho đến cuối năm 1944, lúc này Sergei, con anh, đã cứng cáp và Natasha quyết định về sống ở Moscow. Và sau đó…


Sau đó là tháng Giêng năm 1945, cái tháng Giêng đầy băng giá của Moscow, lúc mà lần đầu tiên Phomin được nhìn thấy con trai và cũng là lần cuối cùng nhìn thấy vợ mình. Mấy ngày sau lần gặp gỡ ấy, đồng chí trưởng đoàn tàu cứu thương, nơi Natasha làm việc báo tin cho Phomin biết rằng vợ anh, Natalia Sergeievna Phomina, đã hy sinh trong trận oanh kích của máy bay Đức khi đoàn tàu đang chạy trên đất Ba Lan. Ngày ấy là ngày 6 tháng 2…


“Trước lúc lên đường phải ngủ thật nhiều” - Phomin chợt nhớ tới lời khuyên của đại tá Ktorov. Anh nhắm mắt và bắt đầu đếm. Chưa đếm đến một nghìn, anh đã ngủ thiếp đi. Anh nằm mơ thấy Natasha. Hai người dắt tay nhau chạy trên bãi biển… Những đợt sóng hết dìm hai người xuống rồi lại nâng lên và cuối cùng đánh dạt họ vào bờ đầy sỏi. Natasha cố mỉm cười nhưng đôi mắt không giấu nổi vẻ hoảng sợ.


Phomin vùng dậy như có người đến thúc vào hông. Những tia nắng ban mai nhảy nhót trên tường. Đã đến lúc phải lên đường. Tập thể dục, cạo râu, mặc quần áo, ăn sáng… như mọi ngày, tất cả được tính toán từng phút. Bây giờ lại thêm một việc mới nữa là chải lại tóc đúng như hôm qua.


Nửa giờ sau, Phomin đã ngồi trong chiếc xe con của mình.


 - Evgeni Nicolaievich - Người thợ máy gọi - Đồng chí chờ tôi tí đã, tí nữa thì quên. Hôm qua, lúc chữa chiếc xe của Mevit, bọn tôi tình cờ nhặt được cái này trong hòm xe của hắn - Anh ta nói rồi đưa cho Phomin một hộp thuốc lá.


Phomin mở hộp và ngạc nhiên khi thấy bên trong toàn mùn thép nhọn.


 - Cám ơn đồng chí! Tôi sẽ mang nó đi theo - Nói rồi anh bỏ chiếc hộp xuống dưới chỗ ngồi - Khi về, tôi sẽ xem sau.


“Mevit thực quả không phải là tay vừa, và chỉ vì không còn con đường nào khác nên hắn mới thú thật. Không, nói đúng hơn là hắn nói một phần sự thật - Phomin nghĩ thầm - Việc hắn bị bắt đã xảy ra quá bất ngờ, nếu không thì cái hộp mùn thép này hắn đã chẳng cất trong cốp xe. Nếu hắn kịp xử trí thì chỉ cần một tí mùn thép này thôi là lốp chiếc xe đang rượt theo hắn sẽ đi đời. Cái trò cũ nhưng không kém phần nguy hiểm”.


 


4. Mỗi lần có dịp đi công tác qua vùng này, Phomin lại mê mải ngắm cảnh đẹp hùng vĩ của pháo đài Enburg, một công trình kiến trúc nổi tiếng của thế kỷ thứ XVI, nằm bên bờ một dòng sông chảy xiết. Và giờ đây, ngồi trên xe, nhìn về phía pháo đài, Phomin liên tưởng tới những ngày xuân năm nay, khi anh đã cùng với đại tá Ktorov và mấy đứa con của ông đi bách bộ suốt ngày xung quanh pháo đài. Hai người lần theo những bức tường viết đầy chữ của nhà tù, nơi nhà thơ Gruzia nổi tiếng, David Gruramisvili, bị giam giữ.


Lần ấy ở pháo đài, Phomin đã được nghe đại tá kể rằng năm 1729, David theo vua Vakhtan 6 tới Moscow, nhập quốc tịch Nga rồi sung vào trung đoàn Gruzia. Cuộc chiến tranh bảy năm vừa bùng nổ, Gruramisvili bị bọn Phổ bắt làm tù binh và bị giam mấy năm liền ở đây, ở pháo đài này. Nhưng xiềng xích, tường đá đã không thể giam cầm được con người đầy nghị lực ấy. Ít lâu sau, David tìm cách vượt ngục trở về với trung đoàn. Về già, David sống ở Migorod xa xôi và không bao giờ được thấy lại Gruzia. David vẫn luôn hướng về Tổ quốc và nhân dân ông với một tình yêu chân thành mà ông đã gửi gắm trong những bài thơ bất hủ của mình.


Đại tá Ktorov có một trí nhớ rất tốt khiến Phomin phải ngạc nhiên. Trong khi kể chuyện, ông có thể nói vanh vách những tên người, những điển tích lịch sử một cách chính xác. Sau lần nói chuyện đó, Phomin đã đặt mua ở Moscow một tập thơ của David.


Hơi nóng từ mặt đường bê tông bốc lên, tạt vào xe ngột ngạt. Chẳng mấy chốc, trước mặt Phomin xuất hiện một ngôi nhà, đó là trạm tiền tiêu của đồn công an biên phòng. Trên chiếc cột cờ cao, lá quốc kỳ Liên Xô phần phật bay trước gió, còn bên kia biên giới là lá cờ nước Anh. Phomin cho dừng xe lại sau chiếc xe hai chiến sĩ công an đi khám giấy, khám xong, họ đến xe của Phomin. Một người là binh nhất, Phomin biết mặt. Anh ta giơ tay lên mới nói: “Xin mời xuất trình giấy tờ”. Anh kia bắt chước đúng giọng bạn mình, dịch câu này ra tiếng Đức.


Phomin bỏ kính đen xuống, rút giấy tờ đưa cho họ. Anh công an lặng lẽ đọc, đọcđxong đưa lại tập giấy cho Phomin, chiếc xe lại phóng đi.


Đường biên giới đã lùi lại đằng sau. Lại đến trạm kiểm soát. Bên cạnh trạm gác, một cái biển to đề bằng ba thứ tiếng Đức, Nga, Anh báo cho mọi người biết rằng bắt đầu từ đây là địa phận chiếm đóng của quân Anh. Bên cạnh chiếc biển ấy là mũi tên chỉ đường “Hannover - 67 km”. Hai tên lính Anh mặc quần soóc, áo để hở cổ, bước đến bên xe xem giấy. Xem xong, một tên vỗ vào mui xe, nói:


 - Đi đi!


Xe chạy được hơn một cây số thì có một người đứng bên đường rụt rè giơ tay xin đi nhờ. Phomin cho xe chạy chậm lại, người kia chạy đến hỏi:


 - Xin lỗi, xe ông có đến Hannover không ạ?


 - Có, ngồi lên - Phomin mở cửa xe.


 - Tôi từ Brandenburg tới thăm họ hàng ở đấy… - Người kia nói khi xe vừa chuyển bánh.


 - Thế anh qua biên giới mà không có giấy tờ gì à?


 - Giấy làm gì cơ chứ? - Người kia cười xòa - Có cũng thế mà không có rồi cũng thế.


 - Anh là người ở đây?


 - Không, tôi từ miền Bắc xuống. Nhưng tôi đi qua biên giới nhiều nên tôi biết con đường tắt có thể qua biên giới mà chẳng cần giấy tờ gì cả. Cây số 65 kia! Ông có nhìn thấy lối rẽ sang Kirgov không?


 - Có, thì sao?


 - Ông có nhìn thấy con đường tắt giữa đồng kia không? Đấy, cứ theo con đường đó mà đi thì một người chứ cả đoàn cũng chẳng ai hỏi giấy tờ gì hết.


 - Anh chỉ nói vớ vẩn, làm gì có chuyện dễ dàng như thế.


 - Ông không tin à? Thế mà hôm trước tôi vừa lái xe tải vượt biên giới đi chơi đấy, có sao đâu. Ông biết không, một anh bạn của tôi đã chuyển cả gia đình sang sống ở phía Đông đấy… - Nói đến đấy, người kia đột nhiên im bặt. Anh ta đưa mắt nhìn Phomin như sực nhớ rằng mình đã quá bép xép với một người hoàn toàn không quen biết.


Phomin vẫn điềm tĩnh lái xe, làm ra vẻ như không hề quan tâm đến những điều người kia vừa nói. Thỉnh thoảng, để bù lấy những phút giây im lặng, anh lại rút thuốc ra hút và mời người kia cùng hút. Xe vẫn chạy với tốc độ hơn một trăm cây số giờ. Một lúc sau, xa xa, sau màn sương đã hiện dần lên những ngôi nhà cao to của một thành phố lớn. Phomin cho xe rẽ vào con đường của thành phố Hannover và các vùng ngoại ô cũng bị chiến tranh tàn phá mạnh. Đến Keiderplasse, anh dừng xe cho người kia xuống.


Nhớ đến con đường đã chọn, Phomin cho xe đi chậm lại và cố chạy sát vỉa hè. Trên đường phố, giữa những người mặc thường phục, nhan nhản những bộ quân phục Anh. Những tên lính Scotland diêm dúa trong những chiếc áo ngắn cũn với những chiếc quần soóc sặc sỡ dài quá đầu gối, trông thật ngộ nghĩnh và lạ mắt. Cạnh ga tàu điện, một tốp lính Scotland đang xúm quanh tán tỉnh hai cô gái Đức to béo.


“Mình phải gọi điện dò xem Stak hiện giờ có mặt ở đây không?” - Phomin quyết định. Anh bỏ tay vào túi tìm đồng xu để gọi điện. Dừng lại bên cạnh một trạm điện thoại tự động, anh xuống xe, bỏ đồng xu vào hộp máy, rồi cầm lấy ống nghe. Đợi mãi không thấy đằng kia trả lời, anh bỏ ống nghe xuống và chiếc máy tự động trả lại đồng xu cho anh.


Một phút sau, anh lại bỏ đồng xu vào máy, cầm lấy ống nghe và lần này quay số điện thoại phòng cô thư ký của Stak. Một giây, hai giây rồi ba giây trôi qua, nhưng ngoài những tiếng kéo dài, đều đều, không có một tiếng gì khác, Phomin đã định bỏ ống nghe xuống thì…


 - Alô, tôi nghe đây… - Từ đằng kia vọng lại tiếng nói trầm trầm của một người đàn bà.


 - Chào bà, bà làm ơn cho tôi nói chuyện với ngài Stak.


 - Ngài Stak hiện giờ không có đây.


 - Ôi, tiếc thật. Thế ngài ấy sắp đến chưa?


 - Tôi cũng không biết nữa. Tốt hơn là sáng mai ông gọi lại.


 - Cám ơn bà! - Phomin cám ơn người phụ nữ đầu dây, người đã cho anh biết một tin quan trọng. Nhiệm vụ bây giờ thế là đơn giản hơn nhiều. Anh cầm ống nghe một lúc nữa, lắng nghe những tiếng tút tút, đều đều rồi lên xe đi tiếp. Phố Công tước Albberstrasse đây rồi. Nhờ những lời khai của Mevit, Phomin đã tìm được xưởng sửa chữa ô tô một cách khá dễ dàng. Bên cổng ra vào có treo một tấm bảng ghi giá tiền các loại sửa chữa ô tô. Vượt qua cổng xưởng một đoạn, anh cho xe dừng lại và đi bộ vào sân xưởng. Một thanh niên mặt mày lem luốc dầu mỡ đang hí hoay bên một chiếc xe hỏng.


 - Tôi muốn gặp Stanislav… anh có thể làm ơn chỉ cho tôi anh ấy hiện giờ ở đâu được không?


 - Stanislav? - Người thanh niên ngẩng đầu lấy mảnh giẻ lau tay - Anh công nhân người Ba Lan ấy à? Đã hai tuần nay không thấy anh ta đến xưởng. Ông hỏi anh ta có việc gì thế?


(còn tiếp)


Nguồn: Hiệp hai, Tiểu thuyết của nhà văn nổi tiếng Liên Xô (cũ) A. Taradankin và I. Phesenco. Anh Côi dịch. Tác phẩm nằm trong Tủ sách trinh thám, tình báo, phản gián do nhà văn Triệu Xuân sưu tập, tuyển chọn. NXB Văn học, 6-2011.


 www.trieuxuan.info








[1] Tên gọi âu yếm của Natasha (ND).



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cõi mê - Triệu Xuân 25.03.2020
Giấy trắng - Triệu Xuân 25.03.2020
Anh em nhà Karamazov - FYODOR Mikhailovich Dostoyevsky 16.03.2020
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 15.03.2020
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 15.03.2020
Đêm Sài Gòn không ngủ - Trầm Hương 10.03.2020
Trong cơn lốc xoáy - Trầm Hương 10.03.2020
Ông cố vấn - Hữu Mai 26.02.2020
Đẻ sách - Đỗ Quyên 15.02.2020
Hòn đất - Anh Đức 13.02.2020
xem thêm »